Featured

CÁC BĂNG NHẠC VN, HÌNH ẢNH VIỆT NAM, CỔ NHẠC…

CÁC BĂNG NHẠC VN, HÌNH ẢNH VIỆT NAM, CỔ NHẠC…
Mời thưởng thức. Xin tùy nghi phổ biến. VL
THƠ NHẠC VĨNH LIÊM
Cúi Xuống Nhìn Dòng Sông, thơ Vĩnh Liêm, nhạc Nguyễn Tuấn, ca sĩ Quang Minh trình bày.
Băng Nhạc Hoàng Oanh – Thi Ca Cho Người Việt Nam Vượt Biển Tỵ Nạn
(Ghi chú: Hoàng Oanh ngâm bài thơ “Tôi nào muốn” của Vĩnh Liêm ở mục số 9)
Trung Tâm Huấn luyện Nhẩy Dù
Đoạn phim hiếm về Sài Gòn thập niên 1970 – Hòn Ngọc Viễn Đông thời phồn thịnh
Sài Gòn hòn ngoc viễn đông 1975
Tiếng Hát Hùng Cường – Sài Gòn Ơi Vĩnh Biệt (Một Chút Quà Cho Quê Hương 3)
Quán Phượng Mai với thực đơn rất hấp dẫn và được quảng cáo rất hay
Nghệ Sĩ Phượng Mai Quảng Cáo Quán Hủ Tiếu!!!
Tonight with Việt Thảo #128 – Phượng Mai
THE JIMMY SHOW | Show 10 – Ca sĩ Phượng Mai
Giáng Ngọc phỏng vấn NS Phượng Mai
Livestream với Phượng Mai & Nhu Quỳnh – August 8, 2018
Nhạc Sĩ Phạm Thế Mỹ Và Những Tình Khúc Chọn Lọc Hay Nhất
Nhạc Sĩ Nhật Ngân Và Những Sáng Tác Chọn Lọc Hay Nhất
Nhạc Sĩ Khánh Băng – Những Sáng Tác Nổi Tiếng Chọn Lọc Hay Nhất
Tiếng Hát Thanh Thúy – Tình Khúc Trúc Phương
Tiếng Hát Hùng Cường – Sài Gòn Ơi Vĩnh Biệt (Một Chút Quà Cho Quê Hương 3)
Cà Mau Vùng 4 Chiến Thuật Trước 1975
Hoài niệm dáng xưa
Sài Gòn Với Những Nẻo Đường Kỷ Niệm
Cần Thơ 1969-70 Qua Ống Kính Của Nhiếp Ảnh Gia D. Hoag
Ngày Quân-Lực VNCH 1971 – 1973
Những Ca Khúc Về Quân Chủng Hải Quân – Thu âm trước 1975
CA SĨ NỔI TIẾNG Ở SÀI GÒN TRƯỚC 1975
14 GIAO LINH, HOÀNG OANH, PHƯƠNG DUNG, THANH THÚY, THANH TUYỀN Nhạc Vàng Danh Ca Hay Nhất
Những Sáng Tác Kỷ Niệm Về Tuổi Học Trò Hay Nhất – Thu âm trước 1975
Nhũng bài NHẠC XƯA ít được nhớ đến – Nhạc Vàng Xưa Bất Hủ Nhiều Danh Ca
Hoa Trinh Nữ – Duy Khánh Và Thanh Nga
Huu Phuoc Khoc Thanh Nga
“Giọng Ca Liêu Trai” Mỹ Châu – Phim Tài Liệu
Minh Cảnh – Mỹ Châu. 9 bài Tân cổ giao duyên trước 1975
Phố Đêm – 8 Bài Tân Cổ Trước 1975 Lệ Thuỷ, Chí Tâm, Mỹ Châu, Thanh Tuấn, Bich Hạnh, Minh Vương
Tấn Tài, Mỹ Châu, Phượng Liên, Minh Phụng, Lệ Thủy – Tuyệt Phẩm Tân Cổ Trước 1975
MINH CẢNH & LỆ THỦY – Tuyệt phẩm Tân cổ giao duyên trước 1975 (Phần II)
Nghệ sĩ Hữu Phước – Tân cổ “Tàu Đêm Năm cũ” với Hương Lan
Đệ nhất danh ca Út Trà Ôn – Tân cổ “Thích Ca tầm đạo” với Ngọc Bích , Hề Sa
Màu sắc áo dài xưa 1954-1975
Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt Trước 1975
Sài Gòn 1973 Qua Ống Kính Của Nick Dewolf
Saigon truoc 1975 ( hon ngoc vien dong 5 )
Vẻ Đẹp Sài Gòn 1968 Qua Ống Kính Nhiếp Ảnh Gia Brian Wickham
Những bài hát về Sài Gòn – Saigon niềm nhớ không tên
Vĩnh Long Trước 1975
VĨNH LONG XƯA QUA HÌNH ẢNH CỰC HIẾM (1)
VĨNH LONG XƯA QUA HÌNH ẢNH CỰC HIẾM P2
Vĩnh Long Ngày Cũ
SÀI GÒN 1940-1954 | HÌNH ẢNH HIẾM [P1]
SÀI GÒN 1940-1954 | HÌNH ẢNH HIẾM [P2]
Những Ngôi Chợ Ở Sài Gòn Trước 1975
Mỹ Tho 1969 Qua Con Mắt Của Một Người Lính Mỹ
Hình Ảnh Huế 1961 Qua Ống Kính Của John Dominis
Hình Ảnh Cần Thơ – Tây Đô Xưa
Rạch Giá, Phú Quốc, Hà Tiên Trước 1975
Hình Ảnh Việt Nam Xưa, Đẹp Và Quý Hiếm
Bình Dương – Sài Gòn 1964/66 Qua Ống Kính Của Tom Langley
Ngày Quân-Lực VNCH 1971 – 1973
Miền Nam Việt Nam Trước 1975 Với Những Hình Ảnh Chân Thật Nhất
Việt Nam Cộng Hòa 63-75
Ngã tư Phú Nhuận, Sài Gòn Trước 1975
Miền Nam Việt Nam Những Ngày Tháng Cũ
Ảnh Đẹp Việt Nam 1970 Qua Ống Kính Của Carl Nielsen
Nét Đẹp Thời Chiến Của Việt Nam 1970
Sài Gòn 1973 Qua Ống Kính Của Nick Dewolf
Đường Lê Lai ở Sài Gòn Trước 1975
Paris By Night 64 – Tình Khúc Tuấn Khanh
Thảo Cầm Viên – Sở Thú Sài Gòn Trước 1975
Nhạc Vàng Bolero Xưa Sầu Lòng Cực Hay – Liveshow Bolero Nhạc Vàng Xưa Chấn Động Con Tim
Paris By Night 109 – 30th Anniversary (Full Program)
Paris By Night 100 – Ghi Nhớ Một Chặng Đường (Full Program)
Paris By Night 88 – Đường Về Quê Hương / Lam Phương (Full Program)
Asia 75 trọn bộ Full HD – Những giọng ca huyền thoại
Best of Paris By Night Openings – Hành Trình 35 Năm (Vol. 1)
Paris By Night DIVOS (Full Program)
Asia 74 | Trúc Phương – Ông Hoàng Của Dòng Nhạc BOLERO
Paris By Night 74 – Tình Khúc Nguyễn Hiền
Paris By Night 88 – Đường Về Quê Hương / Lam Phương (Full Program)
Paris By Night 90 – Chân Dung Người Phụ Nữ Việt Nam (Part 1)
Paris By Night 66 – Nhạc Sĩ Trịnh Lâm Ngân
Paris By Night 94 – 25th Anniversary (Full Program)
Paris By Night 102 – Nhạc Yêu Cầu Tình Ca Lam Phương (Full Program)
Paris By Night 122 – Duyên Phận (Full Program)
Paris By Night 120 – Còn Chút Gì Để Nhớ (Full Program)
Paris By Night 121 – Song Ca Nhạc Vàng (Full Program)
Paris By Night 88 – Đường Về Quê Hương / Lam Phương (Full Program)
Paris By Night 78 – Tình Khúc CHÂU KỲ
Paris By Night 119 – Nhạc Vàng Muôn Thuở (Full Program)
— Hết —
  1. Sương lạnh chiều đông – Lệ Quyên 0:01
    2. Túy ca – Đan Nguyên 4:24
    3. Thói đời – Đan Nguyên 9:50
    4. Hoa nở về đêm – Lệ Quyên 14:00
    5. Ngày cưới em – Đan Nguyên 19:33
    6.Chiều cuối tuần – Lệ Quyên 24:13 7.
    Say – Đan Nguyên ft Quốc Khanh 28:08
    8. Người ngoài phố – Lệ Quyên 32:12
    9. Thành phố mưa bay – Đan Nguyên 37:05
    10. Chuyện hoa Sim – Đan Nguyên 41:10
    11. Tình yêu trả lại trăng sao – Lệ Quyên 46:46
    12. Lại nhớ người yêu – Đan Nguyên 51:18
    13. Nhẫn cỏ cho em – Đan Nguyên 56:07
    14. Đắp mộ cuộc tình – Đan Nguyên 1:01:23
    15. Nửa đêm ngoài phố – Lệ Quyên 1:26:05
    16. Chuyến tàu hoàng hôn – Lệ Quyên 1:12:12
    17. Gặp nhau làm chi – Đan Nguyên 1:17:01
    18. Đêm tâm sự – Lệ Quyên ft Thái Châu 1:21:25
    19. Người yêu cô đơn – Đan Nguyên 1:25:35
    20. Đường tình đôi ngả – Lệ Quyên ft Hữu Châu 1:30:00
    21. Thành phố sau lưng – Đan Nguyên 1:35:00
    22. Con đường xưa em đi – Lệ Quyên ft Quang Lê 1:38:38
    23. Chân Tình – Lệ Quyên 1:43:20
    24. Tôi vẫn cô đơn – Đan Nguyên 1:48:00
Featured

Anh hùng và kẻ phản bội

Anh hùng và Kẻ bội phản trong Quân lực VNCH,” một tiếng nói mới về chiến tranh VN
Thiện Giao, phóng viên đài RFA
RFA – Buổi ra mắt tác phẩm nghiên cứu lịch sử về chiến tranh Việt Nam của giáo sư Andew Wiest tại thành phố Falls Church có thể được xem là cơ hội để những người bạn cũ, những đồng đội cũ, của 40 năm trước gặp lại nhau.
Họ có thể là những mảnh vụn, bị phân tán khắp nơi sau khi chia tay, để rồi, với tác phẩm nghiên cứu của Wiest, họ lại được sắp vào nhau như một khoa học ghép hình, góp phần tái lập lại hình ảnh đúng đắn hơn cho một quân đội, theo lời giáo sư Wiest, gần như chưa bao giờ được thế giới Tây Phương thừa nhận và đối xử công bằng. Biên tập viên Thiện Giao có bài tường thuật tại chỗ sau đây.
Thành phố Falls Church, ngày 17 tháng Hai, năm 2008. Tại buổi lễ ra mắt tác phẩm nghiên cứu lịch sử của giáo sư Andrew Wiest. Tác phẩm có tên “Vietnam’s forgotten Army. Heroism and betrayal.”
“Hãy cho tôi giải thích tại sao tôi viết cuốn sách này. Tôi chỉ mới 14 tuổi khi Sài Gòn thất thủ, còn quá trẻ cho cuộc chiến Việt Nam! Nhưng tôi đã nhìn thấy cuộc chiến ấy mỗi ngày, trên tivi, trong ánh mắt những thanh niên Hoa Kỳ đàn anh trở về từ chiến trường Việt Nam, trên khuôn mặt những người Việt Nam được các nhà thờ trong địa phương bảo trợ sang Hoa Kỳ sau cuộc chiến.
Nhưng tôi cũng nhận ra một điều: không một ai có thể giải thích cuộc chiến ấy! Đối với tôi, đó là một bí ẩn. Và chắc hẳn, đó cũng là bí ẩn trung tâm của thế hệ chúng tôi. Và tôi quyết định đi tìm câu trả lời.” (Tiến sĩ Andrew Wiest)
Cuộc chiến không thể diễn tả hết bằng giấy mực
Andrew Wiest, giáo sư sử học, Giám Đốc Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Tranh và Xã Hội tại đại học Southern Mississippi trình bày nguyên ủy ra đời của tác phẩm “Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, Một Quân Đội Bị Quên Lãng. Anh Hùng và Kẻ Bội Phản.”
Đối với Andrew Wiest, chiến tranh Việt Nam là một lớp học không có giáo sư, một cuốn sách không có tác giả, một điều cấm kỵ mà dường như hầu hết người Mỹ muốn quên đi.
Wiest không chọn thái độ đó, và ông quyết định một phương pháp giảng dạy mới. Đó là, mời các cựu chiến binh đến giảng bài, và sau đó, chính ông đưa họ cùng các sinh viên sang Việt Nam, để tìm hiểu chiến trường của hơn 30 năm trước, và cũng để đi tìm diện mạo của một quân đội mà ông gọi là “bị bỏ quên.”
“Trong thời gian ở Việt Nam, tôi gặp một người đàn ông có tên là Phạm Văn Đính, đã tham gia chiến tranh Việt Nam. Qua câu chuyện ông ta kể, tôi thấy ông ta là một bí ẩn. Tôi tin rằng, tôi sẽ cần phải nói chuyện với ông ta nhiều hơn nữa để học hỏi.
Sau khi trở lại Hoa Kỳ, tôi hỏi rất nhiều người về Phạm Văn Đính. Tất cả đều nói, nếu tôi muốn biết nhiều hơn về Đính, có một người có thể kể cho tôi. Người đó tên là Trần Ngọc Huế, đã kết thúc cuộc đời binh nghiệp theo một con đường hoàn toàn khác Phạm Văn Đính.”
Và cuốn sách ra đời. Tác phẩm của Wiest là một công trình thuần túy lịch sử, nhưng cấu trúc được xây dựng lạ lùng, và chủ đề được tiếp cận nhân bản.
Cuộc gặp gỡ định mệnh
“Anh Hùng và Kẻ Bội Phản” cũng đầy những con số, địa danh, tên gọi, tổn thất. Nhưng “Anh Hùng và Kẻ Bội Phản” không lạnh lùng, vô cảm. Tác phẩm được xây dựng trên 2 nhân vật chính, có thật, hoàn toàn có thể kiểm chứng trực tiếp hoặc gián tiếp. Hai nhân vật có tên Phạm Văn Đính và Trần Ngọc Huế.
Cả hai gặp nhau trong một sự sắp xếp trớ trêu của định mệnh. Trước hết, họ là đồng hương, là người Huế, và cùng yêu cố đô với tình cảm mãnh liệt. Cả hai đều chọn binh nghiệp. Sĩ quan Phạm Văn Đính, sinh năm 1937, tốt nghiệp trường Võ Bị Thủ Đức, sĩ quan Trần Ngọc Huế, sinh năm 1942, tốt nghiệp Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt.
Con đường binh nghiệp của cả hai sĩ quan trẻ gặp nhau tất cả 5 lần.
Bốn lần đầu, trong vinh quang, khi cả hai cùng liên tiếp được thăng cấp rất nhanh trong vai trò sĩ quan tác chiến. Sự gan dạ và các chiến tích của họ được tác giả cuốn sách gọi là “Thời Đại Của Những Anh Hùng.”
Lần gặp thứ năm, cũng là lần cuối cùng, cả hai không thể lường trước, về hoàn cảnh, về địa điểm, và cả tư thế. Lần gặp này, một trong hai người sẽ phải ân hận cho đến cuối đời.
Một quân đội anh hùng
Tạm rời câu chuyện của Phạm Văn Đính và Trần Ngọc Huế để trở lại hành trình tìm hiểu chiến tranh Việt Nam của tác giả Andrew Wiest. “Không như những gì thế giới Phương Tây đã nghĩ, miền Nam Việt Nam đã chiến đấu cực kỳ anh dũng trong 20 năm. Anh dũng hơn cả những gì mà thế giới Tây Phương, cho đến thời điểm này, vẫn viết, vẫn tin và vẫn hình dung. Trong các trận đánh, từ chiến trường nhỏ trước Mậu Thân, và mở rộng ra sau đó, họ đã chiến đấu rất can đảm và hiệu quả.”
Wiest, ở tuổi 14 khi chiến tranh kết thúc. Có thể xem Wiest là thế hệ hậu chiến. Wiest, tại sao bị ám ảnh bởi cuộc chiến? Cuộc chiến tranh Việt Nam là vậy. Hãy nghe nhận định của giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, một diễn giả trong buổi ra mắt sách.
“Những câu chuyện thân tình mà Trung Tướng William Bolt vừa kể về Trần Ngọc Huế cho thấy ông tin rằng Huế đã chết, thế mà đột nhiên ông ta lại xuất hiện. Cuộc chiến Việt Nam là như vậy. Khó hiểu thật.
Tôi thuộc vào thế hệ chiến tranh, và tôi không thể lấy cuộc chiến ấy ra khỏi đầu tôi, rõ ràng là như vậy. Thế nhưng những thế hệ trẻ hơn, chẳng hạn giáo sư Wiest, tác giả cuốn sách này, thì rõ ràng, cuộc chiến Việt Nam lại quay về, và ám ảnh chúng ta.”
Hãy quay trở lại với hai sĩ quan trẻ Trần Ngọc Huế và Phạm Văn Đính. Hãy hình dung chiến trường Tchepone, Hạ Lào, gần 40 năm về trước.
Một đêm cuối tháng Ba năm 1971, trong khuôn khổ chiến dịch Lam Sơn 719, Trần Ngọc Huế lúc đó đang ở Tchepone, bị thương và ngất lịm. Ông ra lệnh cấp dưới mở đường máu thoát thân, để ông lại trận địa nhằm tránh gây cản trở trên đường tháo lui. “Giấc Mơ Bị Vỡ Vụn,” là tên của chương sách nói về trường hợp sĩ quan Trần Ngọc Huế bị bắt làm tù binh.
Cử tọa Hoa Kỳ trong ngày ra mắt “Anh Hùng và Bội Phản.” Người ngồi hàng đầu bên trái là thiếu tướng hồi hưu Creighton Abrams (con trai cố đại tướng Creighton Abrams), người thứ ba từ trái sang là trung tướng hồi hưu William J. Bolt. Người thanh niên ở bìa phải là trung tá Mike Cooligan, đại diện thân phụ, đại tá Jim Cooligan (cũng là một cố vấn tại Huế giai đoạn 1968), đến tham dự lễ ra mắt sách. (Hình: Thiện Giao/RFA)
Về phần Phạm Văn Đính, trong giai đoạn cuối của hành quân Lam Sơn 719, được lệnh đưa đơn vị đến Khe Sanh để yểm trợ và đóng cửa căn cứ. Vòng vây Bắc Việt xiết chặt, tình thế hiểm nghèo. Phạm Văn Đình 2 lần nhận được yêu cầu của phía Bắc Việt: Đầu hàng để được toàn mạng. Trung tá Phạm Văn Đính quyết định đầu hàng, ở tuổi 35, khi còn 2 tháng nữa thì được vinh thăng đại tá. “Kẻ Bội Phản” là chương sách nói về trường hợp của trung tá Phạm Văn Đính.
Một năm sau, tại một trại tù binh ở Sơn Tây, trung tá Đính và thiếu tá Huế gặp nhau lần thứ năm. Huế bàng hoàng nhận ra, trung tá Đính của quân lực Việt Nam Cộng Hòa ngày nào, bây giờ đã là trung tá Đính quân đội nhân dân, đến gặp, nói chuyện và tế nhị chiêu dụ thiếu tá Huế hợp tác với miền Bắc. Thì ra, chỉ một thời gian ngắn sau khi trung tá Đính đầu hàng, ông đã quyết định đổi bộ quân phục, hợp tác và được chuyển ngang cấp bậc sang phía quân đội Bắc Việt.
Thiếu tá Huế từ chối hợp tác, bị giam đến năm 1973, có tên trong danh sách trao đổi tù binh theo Hiệp Định Paris. Ông được đưa đến địa điểm trao đối tù binh thuộc tỉnh Quảng Trị, có thể nhìn thấy cảnh cũ ở bên kia biên giới, tay đã chạm vào tự do, và rồi, một sĩ quan Bắc Việt tiến đến, nói rằng Huế bị bắt tại Lào nên không phải là tù binh của Bắc Việt. Ông không được trả tự do.
Năm 1983, thiếu tá Huế ra tù, về sống tại Sài Gòn, sau đó sang Hoa Kỳ và định cư tại thành phố Falls Church, tiểu bang Virginia, cho đến nay.
Trung tá Phạm Văn Đính thì đã qua đời hồi năm ngoái, tại Việt Nam, sau một lần sang Hoa Kỳ để trả lời phỏng vấn của tiến sĩ Wiest, tác giả cuốn sách đang được nói đến. Tại đây, những đồng đội ngày xưa, tức những kẻ thù bây giờ, kể cả các cố vấn Hoa Kỳ, từ chối gặp mặt ông.
Lịch sử không công bằng
Tác giả Wiest khẳng định, quân lực Việt Nam Cộng Hòa là một quân lực bị bỏ quên. Trong tư thế một sử gia, Wiest khẳng định, bằng chính nghiên cứu của mình, rằng quân lực Việt Nam Cộng Hòa là một quân lực anh dũng, đã chiến đấu trong cuộc chiến 20 năm để bảo vệ tự do.
Quân lực ấy có rất nhiều anh hùng, nhưng không được lịch sử đối xử công bằng. Wiest nói, Tây Phương chỉ viết về chiến tranh Việt Nam như một cuộc chiến chỉ có người Hoa Kỳ đánh nhau. Thực tế không phải như vậy, và càng không phải như vậy khi người Hoa Kỳ rút khỏi Việt Nam. Hãy nghe thiếu tướng Creighton Abrams, con trai cố đại tướng Abrams nhắc lại những gì thân phụ ông suy nghĩ.
“Một sĩ quan người Anh đã phát biểu về cha tôi, rằng Abrams giỏi lắm, rất giỏi. Đáng lý ra ông ta phải có một cuộc chiến tốt hơn. Tôi không đồng ý với nhận định ấy.
Đến hôm nay tôi vẫn tin, cũng như cha tôi đã từng nói, quân đội miền Nam Việt Nam đáng cho những gì tốt nhất mà ông đã ra công. Và ông thấy hãnh diện đã từng cùng họ phục vụ một cuộc chiến mà kết thúc cuối cùng không như mong muốn.”
Để kết thúc, xin được giới thiệu trích đoạn trong lời đề tựa trên tác phẩm “Anh Hùng và Kẻ Bội Phản.” Lời đề tựa do thượng nghị sĩ James Webb, cựu Bộ Trưởng Hải Quân, và cũng là cựu chiến binh Việt Nam, viết, có đoạn đại ý như sau:
Câu chuyện của Phạm Văn Đính và Trần Ngọc Huế không phải là những câu chuyện dễ cảm nhận. Điều quan trọng không phải là nhìn vào một Việt Nam vươn mình từng năm một vào cộng đồng thế giới. Để hiểu được hai hành trình trái ngược này, phải nhìn vào một Việt Nam những ngày đầu thoát ra khỏi bóng tối của cuộc chiến.
Hãy nhìn như vậy, để cảm nhận một Trần Ngọc Huế chiến sĩ dũng cảm, trả giá đắt cho lòng trung thành nhưng chẳng bao giờ phải trả lời câu hỏi về danh dự. Trong khi đó, con đường mà Phạm Văn Đính đã chọn, ít đau đớn hơn, nhưng lại trở nên phức tạp hơn ở hồi kết thúc.”
Tác giả Wiest nói rằng, sự chọn lựa của hai nhân vật chính, nhất là quyết định “thay đổi bộ quân phục” của Phạm Văn Đính, sẽ do chính độc giả tự đánh giá. Mục đích của Wiest là, thông qua câu chuyện của hai sĩ quan này, trình bày lại sự thật về một quân đội quả cảm nhưng bị đối xử thiếu công bằng về mặt lịch sử.
Mà đó cũng là công việc của Wiest, một sử gia. Có người đã từng phát biểu, rằng “không có sử gia, sự thật sẽ vĩnh viễn nằm trong bóng tối.”
Andrew Weist, thông qua “Anh Hùng và Bội Phản,” đã phần nào đưa được sự thật ra ánh sáng.
Tác giả cuốn “Việt Nam, Một Quân Đội Bị Bỏ Quên” trả lời phỏng vấn RFA
Nguyễn Khanh, phóng viên đài RFA
RFA – Quyển sách viết bằng Anh Ngữ mang nhan đề “Việt Nam, Một Quân Đội Bị Bỏ Quên: Anh Hùng Và Kẻ Phản Bội Trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa” do Giáo Sư Tiến Sĩ Sử Học Andrew Wiest viết, mới được ra mắt hôm Chủ Nhật vừa rồi. Ngay sau buổi ra mắt sách, Tiến Sĩ Wiest đã dành cho Nguyễn Khanh của Ban Việt Ngữ chúng tôi cuộc phỏng vấn đặc biệt sau đây.
Nguyễn Khanh: Là người chào đời trong thập niên 60, ông đâu có liên hệ gì với cuộc chiến Việt Nam. Tại sao ông lại viết quyển sách về cuộc chiến ông không hề liên quan?
Tiến sĩ Andrew Wiest: Mặc dù lúc đó tôi còn quá nhỏ, nhưng phải nói là tôi lớn lên với cuộc chiến Việt Nam. Lúc đó truyền hình, báo chí lúc nào cũng nói đến cuộc chiến, và cuộc chiến này có ảnh hưởng sâu đậm với những người lớn tuổi hơn tôi.
Đây là cuộc chiến mang nhiều bí mật. Một cuộc chiến hầu như không được giảng dậy trong lớp học, không được viết thành sách để những thế hệ sau này có thể hiểu những chuyện gì đã xảy ra, một cuộc chiến mà theo tôi, hình như chính người Mỹ muốn quên đi, quên càng nhanh càng tốt, không ai muốn nói tới nó.
Chính những bí mật đó đã khiến tôi chú ý đến cuộc chiến Việt Nam.
Khi tôi quyết định theo học các lớp sử quân sự, tôi hy vọng sẽ được giảng dậy về cuộc chiến này, nhưng chẳng ai nói tới cả. Tôi có cảm tưởng là mọi người muốn bảo tôi rằng quên nó đi, đừng nhắc tới làm gì, và điều đó lại làm tôi càng phải chú ý hơn.
Nguyễn Khanh: như vậy, phải chăng qua quyển sách này, ông muốn cho người đọc một cái nhìn, một hiểu biết đúng về cuộc chiến? Một cái nhìn, một hiểu biết cân bằng hơn?
Tiến sĩ Andrew Wiest: tôi hy vọng như vậy. Trong quyển sách, tôi có trình bày là quân đội miền Nam Việt Nam không được sử sách nhắc đến gì mấy, hoặc là quân đội miền Nam Việt Nam không được trình bày một cách cặn kẽ trước người đọc Mỹ. Vì thế trong quyển sách này, tôi giới thiệu đến người đọc hai nhân vật của quân đội Việt Nam Cộng Hòa, một anh hùng, một phản bội, và hy vọng từ đó tất cả mọi người nhìn cuộc chiến dưới những góc nhìn khác nhau.
Tôi cũng hy vọng là hình ảnh tương phản tuyệt đối và đặc biệt này, anh hùng tuyệt đối, phản bội cũng tuyệt đối, sẽ giúp tôi trình bày câu chuyện trong một khung cảnh báo quát hơn.
Nguyễn Khanh: nhưng thưa Giáo Sư, cuộc chiến kết thúc đã gần 33 năm rồi, các vết thương có lẽ cũng đã lành. Ở thời điểm như vậy mà ông vẫn bỏ thì giờ để viết về một cuộc chiến chính ông nói mọi người đều muốn quên?
Tiến sĩ Andrew Wiest: phải thành thật mà nói với ông rằng trong bối cảnh chiến tranh thời đó, thì câu chuyện mà tôi tìm được là một câu chuyện tuyệt vời. Khi lớn lên, tôi được đọc biết bao nhiêu chuyện tuyệt diệu nói về cuộc thế chiến thứ Hai, từ chuyện trốn thoát khỏi ngục từ Đức Quốc Xã, cho đến những câu chuyện anh hùng ở trận chiến Normandy, kể cả chuyện những kẻ phản bội đồng đội.
Khi nghe được câu chuyện của ông Phạm Văn Đính và chuyện của ông Trần Ngọc Huế, tôi cũng chỉ mong mình kể lại được một câu chuyện đầy sống động liên quan đến cuộc chiến Việt Nam, về cuộc chiến bị quên lãng.
Những người thật sự liên hệ đến cuộc chiến này chính là những người Việt Nam bị bỏ quên. Họ chiến đấu hết sức mình, chiến đấu dũng cảm hơn cả những người đã tham gia các cuộc chiến trước đó. Họ đã chiến đấu trong niềm tự hào của những kẻ anh hùng, và họ cũng đã chiến đấu trong những nỗi khốn cùng của người không may lâm vào cuộc chiến.
Là một sử gia, tôi quyết định tìm cho được những gì mới về chiến tranh Việt Nam, y hệt như những người đi tìm cái mới khi muốn viết về trận thế chiến thứ Nhất. Có cả tỷ tỷ quyển sách viết về trận thế chiến thứ nhất rồi, trong khi cuộc chiến Việt Nam thì chưa, nên tôi mừng vì tìm thấy được một viên hột xoàn quý giá nằm dưới đáy sông. Thành ra, tôi viết quyển sách với một niềm hứng thú.
Nguyễn Khanh: phải chăng vì thế mà một phần quyển sách được ông đặt là “Việt Nam: Một Quân Đội Bị Bỏ Quên”? Tại sao họ lại bị bỏ quên và họ bị bỏ quên như thế nào?
Tiến sĩ Andrew Wiest: câu hỏi của ông hay quá!!! Thật ra tựa lúc đầu tôi đề nghị với nhà xuất bản là “Con Đường Danh Dự” vì có một quyển sách thật hay đã được quay thành phim viết về Thế Chiến Thứ Nhất mang nhan đề là “Con Đường Vinh Quang”. Tôi dùng “Con Đường Danh Dự” vì muốn trình bày cho người đọc thấy cả hai nhân vật, một anh hùng, một phản bội đều mang trong lòng ý tưởng “danh dự”, và để cho người đọc phán quyết xem ai là người có thể tin được.
Khi tôi gửi quyển sách đến nhà xuất bản, thì người chịu trách nhiệm đọc và chọn quyển sách nói rằng tựa do tôi đặt không giúp người đọc biết là quyển sách họ cầm trong tay nói về cuộc chiến Việt Nam, cần phải có một cái tựa khác để độc giả biết ngay quyển sách của tôi nói về chuyện gì. Cuộc cùng, chúng tôi đồng ý “Việt Nam: Một Quân Đội Bị Bỏ Quên” là một tựa sách hay, và chúng tôi cũng đồng ý dùng cả lá cờ vàng 3 sọc đỏ chạy ngay trên bìa quyển sách để tạo lôi cuốn.
Còn về câu hỏi ông đặt ra quân đội này đã bị bỏ quên như thế nào? Thưa ông, họ bị bỏ quên vì chẳng ai viết về họ cả. Thế giới Tây Phương không ai muốn viết, muốn nhắc về họ. Qua tiếp xúc với cộng đồng người Việt ở hải ngoại, điều tôi tìm thấy là một lịch sử đấu tranh anh hùng mà hầu như người khác, chẳng mấy ai biết.
Nguyễn Khanh: và đó là thông điệp mà ông muốn gửi đến người đọc???
Tiến sĩ Andrew Wiest: tôi nghĩ đây là một thông điệp mạnh mẽ được gửi đến người đọc. Đương nhiên trong cộng đồng người miền Nam, quân đội này không bao giờ bị bỏ quên. Đó là một quân đội trong quá khứ có một sức sống mãnh liệt, và sức sống này vẫn còn hiện diện với họ ngày hôm nay cũng như trong tương lai.
Tôi xin kể cho ông nghe một câu chuyện. Mới đây, khi đến thành phố Adelai ở Australia, tôi ghé thăm Đài Tưởng Niệm Chiến Tranh Việt Nam và nhìn thấy người lính Australia bên cạnh người lính Miền Nam, nhìn thấy lá cờ Australia bên cạnh lá cờ Miền Nam Việt Nam. Nếu đến Đài Tưởng Niệm ở thủ đô Washington, ông thấy tất cả đều là hình ảnh của người lính Mỹ. Tôi có thể nói là với nhân dân Hoa Kỳ, điều họ nhớ đến là quân đội Mỹ đã từng chiến đấu ở Việt Nam, nhớ những kinh nghiệm từ bài học Việt Nam. Và đó là lý do tại sao tôi lại dùng từ “bị bỏ quên”.
Nguyễn Khanh: tôi có cảm tưởng ông đang muốn làm điều mà tôi xin được gọi là sửa lại lịch sử cho đúng. Thưa ông, có phải như vậy không?
Tiến sĩ Andrew Wiest: tôi không dùng từ “sửa lại lịch sử” mà tôi muốn dùng từ “đóng góp thêm”. Lịch sử cuộc chiến Việt Nam thường chỉ được trình bầy ở bề nổi, không được trình bầy ở bề sâu. Tôi nghĩ rằng không phải chỉ quyển sách này, mà những quyển sách khác viết về nguyên nhân dẫn đến chiến tranh, nguyên nhân khu vực, nguyên nhân toàn cầu, nếu người viết thoát được cải vỏ bọc Mỹ Quốc, thì người viết sẽ có được cái nhìn sâu rộng hơn. Tôi tin đó là hướng mà tôi đang đi.
Nguyễn Khanh: sau quyển sách ra mắt ngày hôm nay, quyển sách kế tiếp ông sẽ viết về đề tài gì? Liệu có phải là cuộc chiến Việt Nam nữa không?
Tiến sĩ Andrew Wiest: tôi cũng hy vọng như vậy. Như ông thấy, tôi mất 7 năm trời mới hoàn tất được quyển sách này. Có thể là lần này tôi may mắn tìm được một câu chuyện thật tuyệt vời để kể lại với người đọc, đưa ra được những chứng cớ xác đáng để các nhà sử học dùng làm tài liệu nghiên cứu. Là một nhà sử học, đó là mục tiêu tôi đặt hàng đầu: các nhà sử học khác có tài liệu đích thực để tham khảo, và người đọc có được một quyển sách hay để đọc.
Nếu viết thêm về cuộc chiến Việt Nam, có thể tôi sẽ viết về những người đã được tưởng thưởng các huy chương cao quý của quân đội Hoa Kỳ, như huy chương Sao Bạc, Sao Đồng. Tìm tài liệu chắc không khó, nhưng viết ra theo cái nhìn của người viết sử thì rất khó. Tôi không muốn viết một quyển sách để sau đó nghe mọi người bảo quyển sách đọc thì hay, nhưng chẳng có gì để đóng góp cho kho tàng sử liệu cả.
Ngay cả chuyện các cố vấn Mỹ cũng là đề tài đáng viết. Sách nói về cuộc chiến đều là sách nói về các trận đánh, và không ai nói về vai trò của các cố vấn Hoa Kỳ cả. Họ cũng thuộc thành phần bị bỏ quên, và tôi tin đó là một quyển sách đáng viết.
RFA
Featured

Viết thay Z28 đã khuất …

Jennifer Hạo Hạo is with 乞丐佛門 and 2 others

57 mins ·

Facebook đã tạo cho HH thành 1 con người minh mẫn, nhạy bén và có đầu óc thêm. Đó là do có nhiều ACE viết không bỏ dấu mà còn sai chính tả nữa. HH cố gắng suy nghĩ, mài mò, mường tượng những gì mình đã học mà đoán ra lời ý của người đăng hoặc comment. Cám ơn face nhiều.

Cũng cám ơn 1 anh bạn đáng mến từng nói: “Con gà nhốt trong chuồng vịt lâu ngày cũng sẽ biết kêu cạp cạp thôi”. Bây giờ chắc em đã thành… vịt rồi anh nhỉ? Hihihihi

Tung Thanh Tung Là một Z43 không phải chuyện đùa đâu em, luyện được nụ cười đùa với TT=Tử Thần thì phải lúc sanh ra là thuộc týp AB loại máu lạnh đó!

 

Tung Thanh Tung Còn nữa phải được hắc bạch lưỡng đạo bầu chọn là đại ca. Không từ nan dịch vụ nào mang tiền về cho xứ sở mình cư ngụ. Dear DỊCH VỤ VẬN CHUYỂN HÀNG HOÁ QUỐC TẾ PHICONG TRADING CO, LTD,… Mr: Thanh Tel/Viber: +84 96 114 60 50

Thanh Truong

 

Tung Thanh Tung Quan trọng nhất là phải đẹp và sang.

Hai cái răng cửa như tấm thớt làng để cắn vỡ viên thuốc cyanure khi hành tung bị bại lộ.
Thương tặng các Zxx đã, đang và sẽ đùa với tử thần,

Ta chết đuối đâu cần biển cả,

Một dòng sông cũng dìm được ta.

Lạnh chết đâu phải trời băng giá,

Chết êm đềm trên tình nở hoa.

Ra đi gió tạt ngang mình,

Nghĩ đến đời em, em khiếp kinh.

Kinh khiếp vì đời như vực thẳm,

Xui con lưu lạc hỡi trời xanh!

Than ôi! em có được như người,

Hoa tạ lìa cành trước gió rơi.

Lăn lóc cát lầm hoen cánh ngọc,

Đêm thân lưu lạc giữa xứ người

Lững thững em đi bên vệ đường,

Âm thầm buồn bã gió cùng sương.

Ướt cả áo xiêm em chẳng biết,

Lòng em mang nặng dấu đau thương.

Chán nản quay đầu em nhìn lại,

Cuộc đời quá khứ tựa đem đen.

Tương lai bước tới chân mòn mỏi,

Một bước đau lòng, một bước thêm

 

Viết thay Z28 đã khuất

Z29

=======

Chimie du cyanure. L’ion cyanure, quand il se rencontre à l’état gazeux sous forme de cyanure d’hydrogène (formule HCN) ou comme sel d’une solution aqueuse d’acide cyanhydrique, est un poison extrêmement toxique. … Ce poison peut être détecté par son odeur caractéristique d’amande amère.

 

=======

image

 

Mùa Xuân Chưa Bao Giờ Đến

 

Buông điện thoại xuống, Mai bỗng thừ người ra, một thoáng vui vừa mới chợt đến nhưng một nỗi buồn lại lan tỏa, xâm chiếm cả hồn nàng. Nàng vui khi sắp sửa gặp lại Thu, người em gái duy nhất của nàng nhưng lại buồn ngay vì hoàn cảnh của Thu cũng chẳng hơn gì nàng. Tuy hai chị em ở cùng một thành phố nhưng lại cách xa vài tiếng lái xe, và đôi lúc người bận việc này, kẻ vướng chuyện kia đã khiến nàng và Thu ít khi có dịp gặp nhau. Nhưng với những lần gặp gỡ này, với nàng quả là một khoảng thời gian êm ái và hạnh phúc.

Hai chị em lại có dịp gần nhau, truyện trò, tâm sự cùng nhau, trao cho nhau những mâu thuẫn bế tắc trong cuộc sống hiện tại. Dẫu biết rằng mỗi người đều có một hoàn cảnh, một nỗi khổ riêng mà không ai có thể chia cắt hoặc giải quyết được những khúc mắc trong đời sống của ai nhưng có lẽ đây là dịp mà hai chị em có thể trút bỏ được phần nào những ưu tư day dứt chất chứa trong tim và chia sẻ cho nhau những cay đắng của cuộc đời. Và với những lần gặp gỡ ấy, nếu nhìn thoáng qua, ai cũng có thể nhận thấy sự phiền muộn được hiện rõ trên hai khuôn mặt xanh xao, hốc hác và thiếu vắng nụ cười, của hai tâm hồn cô đơn lạc lõng giữa cái thế giới phồn hoa đô hội này. Mai ơ thờ bước chậm xuống giường, nàng thả mắt nhìn xuống khu vườn sau nhà, những cánh hoa đang bắt đầu hé nở, vươn mình khoe sắc dưới ánh nắng vàng lóng lánh óng ả của buổi ban mai như thể báo hiệu một mùa Xuân tươi đẹp và rực rỡ đang sắp đến. Nhưng với Mai, nàng cảm thấy dửng dưng không một xúc cảm. Những háo hức, xôn xao, mong chờ cho một mùa Xuân không còn trong nàng, có chăng chỉ là một cảm giác thinh lặng và chai cứng trong tim, có lẽ mùa Xuân chưa bao giờ đến với nàng.

Nhớ lại những năm tháng đầu tiên khi hai chị em nàng chập chững đặt chân đến xứ người sau khi được bảo lãnh bởi một người bác họ, cha mẹ mất sớm nên cả hai đều phải buôn bả và nương tựa nhau để mà sống. Mai thật sự lúng túng với ngôn ngữ xa lạ và phong tục khác biệt của người dân bản xứ. Nàng luôn mang tâm trạng hoang mang hòa lẫn sợ hãi mỗi khi phải tiếp xúc với họ. Rồi với những thăng trầm của cuộc sống, những nổi trôi của giòng đời cũng làm cả hai trưởng thành và vững chãi hơn. Thắng đã đến với nàng đúng vào lúc nàng cần đến một người đàn ông che chở, một chỗ dựa cho một người con gái sống trong một thành phố không có nhiều đàn ông Việt. Thắng giản dị, ít nói, dáng người cục mịch thô thiển nhưng hiền hòa dễ dãi. Nàng chẳng còn ai để chọn lựa hay đắn đo cho nên chấp nhận ngay cuộc hôn nhân này. Đám cưới được tổ chức nhanh chóng và giản dị với vài chục người trong gia đình và bạn thân rồi kết thúc bằng một tuần lễ trăng mật đơn sơ ngắn ngủi. Cuộc đời trôi nhanh với hai đứa con kháu khỉnh ra đời. Nàng vừa đi làm vừa lo chăm sóc gia đình và đã đặt bổn phận người vợ lên trên hết tất cả. Mai bỏ qua đi những điểm khác biệt về quan niệm, cách sống cũng như cá tính của cả hai để chăm sóc và nuôi dậy cho hai con nên người. Sự chịu đựng cuộc sống với người chồng vốn dĩ mang nhiều phức tạp và khác biệt đã lớn dần theo ngày tháng. Những mâu thuẫn càng ngày càng chồng chất, len lỏi và gặm nhấm trong tâm hồn nàng, đã mang đến cho nàng những cơn trầm cảm không dứt để rồi nó đã giết chết đi những tình cảm yêu thương của nàng với Thắng lúc nào nàng cũng không hay.

Tưởng chừng những dị biệt trong cá tính và cách sống cùng bản tính quê mùa, cộc lốc của Thắng, nàng có thể chịu đựng được vì bổn phận của người vợ, người mẹ và vì hạnh phúc gia đình nhưng nàng đã lầm, nó hoàn toàn không như nàng nghĩ mà càng ngày càng làm cho nàng trở nên ngột ngạt khó thở hơn. Đôi lúc nàng chợt nghĩ chưa bao giờ nàng được sống cho chính mình kể từ cái ngày lập gia đình với Thắng. Những mộng mơ lãng mạn của một thời con gái đã hoàn toàn chấm dứt kể từ ngày bước chân về nhà chồng. Những đam mê về âm nhạc, những năng khiếu về thơ văn của nàng đều bị dẹp bỏ vì sở thích và lối sống của Thắng hoàn toàn khác biệt với nàng. Hơn nữa Thắng lại không phải là người bạn đời để có thể chia xẻ hay khuyến khích nàng trong lãnh vực nghệ thuật này. Nàng thích được nghe những bài nhạc êm ả trữ tình, được đọc những bài văn bóng bẩy, xúc tích hay những bài thơ thanh thoát nhẹ nhàng của các nhà văn thơ nổi tiếng. Những khúc nhạc và bài văn thơ ấy luôn làm tâm hồn nàng say đắm và trái tim thực sự rung động mỗi khi được thưởng thức. Trái lại, Thắng chỉ thích những bài nhạc bình dị, dân quê, những câu vọng cổ lê thê ướt át. Mọi thói quen hàng ngày của Tháng hầu như nàng đều thuộc lòng. Hôm nào cảm thấy vui vẻ thì Thắng ngồi gác chân xem TV trong khi chờ đợi nàng chuẩn bị cơm nước, ngà ngà bên lon bia, nghêu ngao những câu vọng cổ mùi mẫn qua chiếc máy karoke cũ kỹ với âm thanh rè rè kéo dài như bất tận. Hôm nào không được vui thì nàng sẽ đón nhận những câu nói gắt gỏng hậm hực, thậm chí đến những câu chửi thề vô cớ về những chuyện không đâu. Riết rồi nàng thuộc lòng với những thói quen này để rồi mệt mỏi buông xuôi mọi thứ và mặc cho giòng đời cuốn trôi.

Mai còn cảm thấy đời sống thật chán nản và vô vị hơn khi sống với Thắng. Đời sống của nàng chỉ quanh quẩn với công việc của một người đàn bà nội chợ. Những lần nghỉ hè của gia đình nàng là những lần lái xe thăm họ hàng gần xa hoặc ghé qua phố xá VN, mua sắm qua loa một vài thứ rồi lại trở về nhà. Nàng chưa một một lần ra khỏi cái thành phố nơi mình ở, chưa bao giờ được đi đây đi đó, thăm viếng những tiểu bang xa xôi hay được khám phá đến khung trời châu Âu rực rỡ nào khác. Thắng và nàng như hai người với hai thế giới hoàn toàn khác biệt, hai tâm hồn không bao giờ có thể đồng cảm hay đập chung một nhịp điệu. Sự cảm thông trong đời sống vợ chồng mỗi ngày một xa cách khiến nàng dửng dưng như người xa lạ. Mai không điểm trang, không mua sắm và không dám sống cho chính bản thân mình vì sợ những lời cằn nhằn, những câu chỉ trích của Thắng, sợ làm cho mối tương quan của cả hai càng trở nên nặng nề tồi tệ hơn. Nàng cảm thấy mình bất lực vì không thể nào thay đổi cuộc sống hiện tại và điều này đã làm tâm hồn nàng càng ngày nàng càng trở nên cằn cỗi, nàng trở nên ít nói, lãnh đạm với cuộc đời và quên đi cả nụ cười của chính mình.

Mai vòng xe lại, cố gắng tìm chỗ đậu xe để đến gặp Thu, bỗng dưng nàng vô tình bắt gặp một cặp vợ chồng đang âu yếm đi ngang qua xe nàng để bước vào thương xá. Họ nắm tay, choàng vai nhau, cụm đầu vào nhau và trao cho nhau những nụ hôn giữa phố. Nhìn ánh mắt của họ, nàng nhận ra họ thật sự yêu nhau và đang hạnh phúc bên nhau. Ngoảnh mặt quay đi, trái tim nàng bỗng dưng quặn thắt, mắt nàng bỗng cay xè, nàng thầm tủi cho thân phận mình. Có lẽ hạnh phúc kia nàng sẽ chẳng bao giờ được hưởng. Một vòng tay âu yếm, một nụ hôn ngọt ngào, một lời nói yêu thương, một ánh mắt trìu mến quả là những gì thật xa vời, vượt quá tầm tay nàng. Phải chăng cuộc đời và số phận của nàng đã được ông Trời định sẵn như vậy sao? Bước xuống xe với trái tim se thắt vụn nát, Mai cúi đầu bước nhanh đến chỗ hẹn với Thu. Ở đó một khoảng thời gian hạnh phúc nhỏ nhoi đang chờ đón nàng…

******************************

Hẹn với chị xong, Thu buông mình xuống nằm nghĩ miên man. Hôm nay Thanh đã mang thằng Đạt và con Liên qua nhà ông nội của chúng rồi, chỉ còn mình nàng trong căn nhà lạnh vắng. Một cảm giác chán chường chợt vây chặt lấy nàng. Căn phòng rộng lớn càng mang lại cho Thu cái cảm giác cô đơn hòa lẫn sợ hãi. Mặc dầu đã quen với sự lẻ loi đơn độc đã từ lâu nhưng hôm nay nàng lại muốn trốn tránh, thoát khỏi sự cô đơn này. Nghĩ đến sắp sửa gặp lại Mai, Thu bỗng phấn khởi hẳn lên, nàng bật dậy tiến gần đến bàn trang điểm rồi sửa soạn qua loa để đi đến gặp chị. Khép lại cánh cửa sổ, Thu thoáng nhìn xuống sân sau nhà. Khu vườn không người chăm sóc khiến đám cỏ dại vàng úa lẫn lộn với khóm hoa dại mọc lan tràn khắp nơi. Bên cạnh đó là cái hồ bơi với làn nước đen ngòm lấp lánh dưới ánh nắng mặt trời cùng đám rêu xanh dơ bẩn bám phủ chung quanh bờ. Trên mặt hồ, những chiếc lá vàng rơi rụng tả tơi phủ kín đầy khắp. Xa xa những chậu đựng cây nằm lăn lóc, chỏng trơ, xiêu vẹo khắp nơi. Tất cả như tạo thành một bức tranh tương tàn, thảm sầu sau cơn bão tố. Thu ngán ngẩm nhìn quang cảnh trước mặt rồi chợt nhớ lại những lời của chị nhắc về mùa Xuân sắp đến, nàng bỗng giật mình, có phải mùa Xuân sắp đến rồi chăng? Đã từ lâu nàng chưa bao giờ chuẩn bị để đón chào mùa Xuân cả, chưa bao giờ gia đình nàng có được một bữa cơm thịnh soạn, gia đình được đoàn tụ vui vẻ và hạnh phúc bên nhau. Với nàng, có chăng chỉ là một nỗi buồn sâu kín cho một hạnh phúc tưởng chừng như rất gần nhưng lại cách xa vạn dậm.

Lập gia đình với Thanh đã hơn mười năm nay mà Thu ngỡ như mới vừa hôm nào. Những tưởng mình đã tìm được một hoàng tử của lòng vì Thanh có đầy đủ tất cả những gì mà một người con gái đều mong ước, đẹp trai, học giỏi và đầy đủ tiền tài danh vọng. Nhưng nàng có ngờ đâu Thanh không thuộc về nàng mà là thuộc về gia đình của Thanh. Mặc dầu sống ở bên Mỹ nhưng gia đình Thanh vẫn giữ đúng những nề nếp gia phong cũ. Vì Thanh là con trưởng cho nên nhất nhì đều lắng nghe và tuân theo những gì cha mẹ dạy bảo và làm gương sáng cho các em noi theo. Những năm tháng đầu khi lập gia đình với Thanh, nàng đã không quản ngại đường xa dẫn dắt theo các con kể cả khi chúng đang bị bệnh để đến thăm viếng ông bà nội hay các cô chú bên gia đình chồng. Rồi kéo theo là những buổi hội họp, đình đám mừng sinh nhật cho ông bà hoặc các anh chị em và cháu chít nhà chồng. Chưa hết, những dip nghỉ hè hay những ngày lễ lớn, gia đình chồng lại rủ rê, lôi kéo gia đình nàng tham gia để đi chơi chung. Hết tháng này qua tháng nọ, năm này qua năm khác, những buổi tiệc tùng kéo dài vô tận và liên tục đã làm nàng kiệt sức, bất mãn và đôi lúc nàng tưởng chừng như muốn phát điên lên. Thanh chỉ sống và lo cho gia đình của chàng mà coi nhẹ đời sống gia đình của chính mình. Chưa bao giờ Thu có được những giây phút trầm lắng riêng tư với Thanh và với tiểu gia đình của nàng. Những mâu thuẫn chồng chất ấy đã mang lại những trận cãi vả kịch liệt khiến cả hai tưởng đã phải thôi nhau nhưng cuối cùng Thanh cũng nhượng bộ nàng và để cho nàng quyền tự do lựa chọn có tham dự vào những buổi tiệc tùng của gia đình Thanh hoặc không.

 

Với những mâu thuẫn về gia đình Thanh, nàng còn có thể chịu đựng được nhưng với sự độc đoán trong cách sống và sự kiểm soát chặt chẽ về tiền bạc của Thanh đã làm cho nàng thêm ngộp thở. Khi mới lấy Thanh, nàng đã bỏ hết sự nghiệp, cố gắng trở thành một người vợ đảm đang để lo cho Thanh và các con. Nhưng sau đó nàng cảm thấy mình không có tiếng nói của một người vợ trong gia đình có lẽ chỉ vì nàng không đi làm cho nên tất cả nguồn tài chánh đều phải phụ thuộc vào Thanh. Kể từ đó, với bản tánh chỉ huy độc tài, Thanh đã dành mọi quyết định trong gia đình từ việc nhỏ đến việc lớn mà không cần đến sự đồng ý của nàng. Mọi ý kiến của nàng đều bị chê bai và gác bỏ ngoài tai. Sống trong một căn nhà rộng rãi khang trang nhưng nàng lại không có quyền trang trí hay sắp xếp cho căn nhà theo ý mình hay tiêu pha cho chính bản thân. Thu đã phải dè xẻn trong sự chi tiêu, cố dành dụm vài chục lúc nầy lúc khác để có thể mua một chiếc áo đẹp cho mình. Đôi lúc mua được một món quà mà nàng ưa thích, Thu đã phải nói dối quanh co với Thanh là mua được đồ rẻ vì sợ những lời chỉ trích cằn nhằn vô lối của Thanh. Thế rồi Thu buông xuôi tất cả, nàng rơi vào những cơn trầm cảm không dứt với nỗi buồn chán khi nghĩ đến nàng sẽ không bao giờ thay đổi được cuộc sống hiện tại và cuộc đời sẽ luôn mãi là như thế. Và với Thanh, người chồng đầu gối tay ấp của nàng sẽ không bao giờ thay đổi về quan niệm cũng như cách sống của mình và Thanh sẽ chẳng bao giờ có thể thấu hiểu những tâm tư cũng như tình cảm của một người vợ như nàng.

Hôm nay Thanh đã đưa hai đứa nhỏ sang nhà người em để dự sinh nhật của một người cháu nào đó. Nghĩ đến Thanh đang vui vẻ hạnh phúc bên gia đình, các con đang vui đùa bên anh chị em họ của chúng làm hồn nàng quặn thắt. Nàng như người đứng ngoài cuộc chơi, đang đứng nhìn mọi người quây quần vui vẻ bên nhau với một trái tim tan nát. Thanh ơi, có bao giờ anh nghĩ đến em, người bạn đời của anh đang làm gì, đang nghĩ gì và đang mong chờ gì không anh? Có bao giờ anh muốn mang cho em vòng tay yêu thương và nụ cười hạnh phúc trong một vùng không gian chỉ có riêng hai đứa không anh? Những giọt nước mắt nhẹ lăn trên khuôn mặt trăng xanh của Thu. Có lẽ mùa Xuân chưa bao giờ đến như nàng mong ước!

KTran

K Tran

Thể người đọc TT có khóc sướt mướt chưa vậy?
Nếu chưa thì chưa giống như truyện QD rồi. hihihi

Tung Thanh Tung shared a memory.

· 53 mins ·


Là một Z29 không phải chuyện đùa đâu em, luyện được nụ cười đùa với TT=Tử Thần thì phải lúc sanh ra là thuộc týp AB loại máu lạnh đó!

Tung Thanh Tung Còn nữa phải được hắc bạch lưỡng đạo bầu chọn là đại ca.

Không từ nan dịch vụ nào mang tiền về cho xứ sở mình cư ngụ.

1 Year Ago

See Your Memories

Bạn luôn vô cùng trung thực, Tung!

Bạn biết rằng cây kim trong bọc có ngày sẽ lộ ra. Đó là lý do tại sao bạn không bao giờ nói dối và trung thực là một trong những đức tính của bạn. Bạn tôn trọng những người xung quanh mình và sẽ không bao giờ là một kẻ giả dối đối với họ.

Haha

Sự thật có ý nghĩa thế nào đối với bạn? Bạn hãy tự mình phân tích! Hãy nhấp vào đây!
vi.nametests.com

Cô lái đò Bến Hạ ! (1963 – 1971 )

Cô lái đò Bến Hạ ! (1963 – 1971 )

San Mai Hình ảnh đẹp của người con gái Việt nam – mộc mạc, đơn sơ nhưng không kém phần quyến rủ
Khuyen Phan She’s the natural VN 

Image may contain: 1 person, standing, ocean and outdoor
nói cho đúng cho công bằng cô bé Ngọc trinh cũng rất đẹp nhất nhì mỹ nhân vn nhưng mới đây cô bé đi Caine’s mặc áo dạ hội phơi bầy ra nhiều quá đánh mất nét đẹp phụ nữ Á đông .

Image may contain: 1 person, shoes
Image may contain: 1 person, standing, child and outdoor
Image may contain: 2 people, people standing
Image may contain: 4 people, people smiling, people standing
Hiếu Levain Xuất sắc. Giá như chị có thể đem bộ này lên thảm đỏ Cannes thì quá đỉnh ý

Most Perfectly Timed Photos On The Internet

Perfectly timed photos are tied in with being at the correct place at the perfect time and quick enough to haul out your camera, we mean, telephone, and catch the circumstance.

The most comical, splendid and delightful minutes out there happen practically all over the place and with all parts of our every day condition.

From local pets, to the most ordinary things, through games and the best ponders of nature, these are the most epic superbly planned photographs out there that will trap your minds and touch off your valuation for what’s diverting throughout everyday life.  Click Next To Continue Reading

Give me some jersey love

This picture is simply unadulterated flawlessness. This image demonstrates the genuine quintessence of splendidly coordinated photographs.

These two players appear somewhat excessively close for two men who think about themselves straight, thus to have number 20 there out of sight basically telling the circumstance all things considered, is just inestimable.

We are exceptionally liberal pretty much a wide range of loves and this is simply one more type of appearing.

Group hug!

What an approach to wrap up an amusement if baseball! Number five there was so anxious to share his energy that he actually hopped over that heap seeking after the best.

We do sort of wish we saw what occurred after he bounced however.

furry campfire

When you take your hairy companions out outdoors with you, some entirely enchanted things could occur, similar to your puppy could begin spitting fire out of his mouth.

These two dogs are cute to the point that they were sufficient all alone to make it on our rundown.

Cat love

Well that is genuine creature love. Could these two kitties be smart to the point that they really organized their stances so their stories could frame a state of a heart? Regardless, it’s simply dazzling.

Something fishy with the picture

Would you be able to figure which of these two is really angling? is it the ginger puppy attempting to get his prey or his red-haired proprietor endeavoring to angle her next supper?

Or then again is it a similar individual? pause, we’re befuddled.

Portrait

That is not just a splendidly coordinated picture, it’s extremely only an ideal picture.

Regardless of whether it took perpetually for this puppy proprietor to catch that minute and realize where to put his canine so things being what they are so incredible, it’s still quite marvelous.

Never the bride

… dependably the bridesmaid. That is the thing that the lady with the dark hair was thinking when she was so fanatically attempting to get the bundle at her companion’s wedding.

She was so excited, it’s actually composed everywhere all over.

The guest in the purple dress

This poor lady was simply endeavoring to engage alternate visitors at this wedding by completing a little solo move, however shockingly, she rather just ventured on her dress which made her slip and have the most humiliating minute on the move floor.

In the event that it wasn’t at once where everybody has their telephones out constantly, it wouldn’t have been so awful.

No monkey business

Allows simply state that the term ‘nervy monkey’ couldn’t have had a superior visual elucidation than this image.

The monkey chose he would have a little sneak top to perceive what’s stowing away in this present lady’s skirt. His demeanor says everything.

Picking a good spot

The publicists of this announcement have worked admirably with putting the awful in a position that it would appear as though the goliath finger in the promotion is picking somebody’s nose.

Shockingly for him, somebody was sufficiently snappy to catch that!

A natural thing

It more likely than not been exceptionally unbalanced for the general population going by to watch the man sitting by the lake watching the winged animals and practically taking a small before everybody.

Goodness pause, that is only the drinking fountain!

A game of hot potato

Women, kindly don’t make the generalization that a ‘young lady can’t get a ball’ any more regrettable, and simply demonstrate everybody what you can do!

Perhaps they were simply being extremely delicate to each other and gracious, to let the other catch the ball.

Water photobombing

Who realized that taking a selfie in the sea can be such an unnerving knowledge?

These three young women did not expect that unwelcome visitor in their backs that is more than anything, undermining to photograph bomb their selfie! He just idea there was space for one more.

OMG! they’re moving the Eiffel Tower

We better make an outing to the most sentimental city on the planet sooner than we thought in light of the fact that the most notorious touring in the city is evidently being moved, or if nothing else it would seem that it is.

Boring

This poor warrior, he was so drained and presumably especially exhausted from remaining in accordance with whatever is left of the gathering, that he yawned and somebody was there to get those 5 seconds.

We simply trust he didn’t get into much inconvenience.

Location, location, location

We don’t know whether this plane was attempting to force the statue of Jesus in Rio de Janeiro, Brazil, however regardless, the outcome is plain wonderful! It’s life impersonating workmanship in the most ideal way.

70+ Epic And Most Perfectly Timed Photos On The Internet

Perfectly timed photos are tied in with being at the correct place at the perfect time and quick enough to haul out your camera, we mean, telephone, and catch the circumstance.

The most comical, splendid and delightful minutes out there happen practically all over the place and with all parts of our every day condition.

From local pets, to the most ordinary things, through games and the best ponders of nature, these are the most epic superbly planned photographs out there that will trap your minds and touch off your valuation for what’s diverting throughout everyday life. 

Vì sao bầu cử Úc trái ngược dự đoán? – Nguyễn Quang Duy

Bài mới gởi quý vị rất mong được phổ biến rộng rãi.

Nguyễn Quang Duy

Úc vừa trải qua một cuộc bầu cử với kết quả bất ngờ đến nỗi Thủ Tướng Scott Morrison phải thốt lên rằng ông luôn tin tưởng có phép lạ nhiệm mầu (“I have always believed in miracles”).

Hơn 2 năm qua tất cả các cuộc thăm dò cử tri đều đưa ra cùng một kết quả là đảng Lao Động sẽ thắng và thắng lớn.

Lần thăm dò ngay trước ngày bầu cử vẫn cho thấy đảng Lao Động sẽ không thể thua được (the unlosable election).

So với bầu cử Tổng Thống Mỹ 2016

Năm 2016 ông Trump cũng “bất ngờ” thắng cử Tổng Thống làm nhiều người liên tưởng, nghi ngờ sự khách quan và trung thực của giới Truyền Thông Úc.

Đương nhiên một số cơ quan truyền thông Úc thiên về Tự Do hay ngả theo Lao Động, nhưng đa số đều đưa tin một cách rất công bằng. Nhưng vì sao kết quả lại đảo lộn mọi dự đoán?

Thăm dò nội bộ chính đảng…

Theo Đài ABC thăm dò nội bộ của 2 chính đảng ở từng đơn vị bầu cử cho kết quả trái ngược với thăm dò của báo chí.

Vì thế, chỉ 1 ngày trước ngày bầu cử, Thủ tướng Morrison còn bay sang Tasmania để vận động và đã dành lại được 2 ghế lần bầu cử trước rơi vào tay Lao Động.

Thủ tướng Morrison cũng dành khá nhiều nỗ lực vận động ở miền quê Queensland và NSW, với hứa hẹn sẽ bảo vệ công ăn việc làm cho khu vực nên đã dành được một số ghế khác.

Ngược lại Thủ lãnh Lao Động Bill Shorten tập trung vận động tại các khu vực ngoại ô thuộc tiểu bang Victoria với mong muốn chiến thắng lớn nhưng kết quả đã không thực sự xảy ra.

Đảng Xanh cũng tập trung vận động các khu vực ngoại ô thuộc tiểu bang Victoria với kỳ vọng thắng thêm 2 ghế nhưng kết quả cũng ngoài ý muốn.

Nhìn chung, Liên đảng Tự Do – Quốc Gia đã không thảm bại như thăm dò tiên đoán mà ngược lại còn thắng 6 ghế, chỉ mất 3 ghế và theo ước đoán đã vượt qua số ghế để thành lập chính phủ đa số.

Ngoài 3 ghế bị mất, hầu hết các đơn vị do Liên đảng Tự Do – Quốc Gia nắm giữ số phiếu đều tăng thêm chứng tỏ Liên đảng đã gặt được một chiến thắng khá toàn hảo.

Về chính sách …

Chính sách tranh cử của đảng Lao động tập trung vào tăng lương tối thiểu, bảo đảm đời sống cho công nhân, tăng chi tiêu giáo dục, y tế, an sinh, bảo vệ môi trường, bằng cách tăng thuế người giàu và thuế các đại công ty.

Còn Liên Minh Tự Do và Quốc gia tập trung vào việc việc cắt giảm thuế, xây dựng cầu đường, tạo công ăn việc làm hay ít nhất là bảo vệ công ăn việc làm.

Qua hai lần tranh luận chính sách tổ chức tại Tây Úc và Queensland lãnh tụ Lao Động Bill Shorten đều được đánh giá cao hơn.

Trong hoàn cảnh kinh tế Úc đang bắt đầu gặp khó khăn, các chính sách của đảng Lao Động mặc dầu được đánh giá cao hơn nhưng có thể là một nguyên nhân cử tri từ chối bỏ phiếu cho đảng này.

Cử tri chán ngán các đảng chính trị…

Ngay khi Thủ tướng Morrison thông báo ngày bầu cử, Cơ quan nghiên cứu Roy Morgan tổ chức thăm dò cử tri công bố kết quả đáng ngạc nhiên.

So với lần bầu cử năm 2016 chỉ 4 phần trăm cử tri chưa quyết định sẽ bầu cho ai thì lần này lên đến 24 phần trăm vẫn chưa quyết định sẽ bầu cho ai.

Tỷ lệ 24 phần trăm là quá lớn cho thấy kết quả sẽ quyết định bởi lá phiếu của thành phần cử tri này.

Trong số này có nhiều cử tri chán ngán các đảng chính trị đến độ không còn muốn theo dõi thời sự. Nhưng đi bầu là bắt buộc, không đi bầu sẽ bị phạt tiền.

Cách bỏ phiếu ưu tiên (Preferential Voting System), còn bảo đảm mọi lá phiếu hợp lệ đều được tính cho một trong hai ứng cử viên cuối cùng.

Cử tri sẽ đánh số thứ tự ưu tiên bầu cho các ứng cử viên trên lá phiếu. Nếu ứng cử viên mà cử tri bỏ phiếu là số một bị thua, thì phiếu bầu sẽ được chuyển cho ứng cử viên cử tri chọn thứ hai và cứ như thế cho đến khi được tính.

Các đảng chính trị đều hướng dẫn cử tri thứ tự ưu tiên bầu.

Đảng Lao Động và đảng Xanh thường cho nhau phiếu ưu tiên bằng cách hướng dẫn cử tri bầu để hoặc đảng này hoặc đảng kia được trúng cử.

Một doanh nhân từng là Nghị sỹ ông Clive Palmer đã chi 60 triệu Úc kim cho đảng United Australia tranh cử.

Các quảng cáo của đảng United Australia đều công kích chính sách thuế và khả năng quản lý kinh tế của đảng Lao Động, công kích cá nhân thủ lãnh Lao Động Bill Shorten và nhấn mạnh đe dọa bành trướng của nhà cầm quyền cộng sản Bắc Kinh.

Mặc dù đảng United Australia không dành được ghế nào nhưng các quảng cáo này có ảnh hưởng đến kết quả bầu cử.

Ảnh hưởng Trung Cộng

Theo Chủ bút tờ Hoàn Cầu Thời báo, cơ quan truyền thông đối ngoại chính của Bắc Kinh, kết quả bầu cử Úc sẽ làm tồi tệ hơn quan hệ Úc – Trung còn nếu đảng Lao Động thắng cử tình trạng sẽ trở nên tốt hơn. Quan điểm này thiếu chính xác.

Việc nhà cầm quyền cộng sản Bắc Kinh công khai tung tiền lũng đoạn chính trị Úc là nỗi lo ngại chung của cả chính phủ, lẫn đối lập.

Các Đạo Luật chống lại ảnh hưởng ngoại bang được ban hành gần đây đều được tất cả các đảng chính trị đồng thuận thông qua.

Ngược lại vì quyền lợi nước Úc các đảng chính trị đều muốn duy trì quan hệ đồng minh chiến lược với Mỹ.

Đơn vị Chisholm có đa số cử tri gốc Hoa nên cả hai đảng Tự Do Lao Động đều đưa người gốc Hoa ra tranh cử. Như thế chắc chắn sẽ có 1 dân biểu gốc Hoa thắng cử.

Cô Gladys Liu di dân gốc Hoa sinh trưởng tại Hong Kong đại diện cho đảng Tự Do đã vượt hơn đối thủ Lao Động 1,200 phiếu nên vào tối thứ ba 21/5 được loan báo thắng cử.

Đây là một chiến thắng thật sự bất ngờ của đảng Tự Do, vì hầu hết báo chí tiếng Hoa tại Úc bị cho là chịu ảnh hưởng của Bắc Kinh, đều ngả về đảng Lao Động.

Ai ban “phép mầu” ?

Trong khi đảng Lao Động luôn dẫn trước Liên đảng cầm quyền thì thật thảm thương tất cả các cuộc thăm dò dân Úc đều không chọn Bill Shorten làm Thủ tướng.

Dân Úc vốn không ưa những người gây rối loạn chính trị, vẫn không quên và không tha thứ, vào năm 2010, Bill Shorten đã ngấm ngầm lật đổ Thủ tướng Lao Động Kevin Rudd.

Khi tranh cử Thủ lãnh Đối Lập, Bill Shorten chỉ nhận được 40% phiếu ủng hộ từ đảng viên, chỉ thắng cử nhờ vào 64% phiếu của các dân biểu và nghị sỹ Lao Động.

Rõ ràng ông có khả năng thu xếp nội bộ nhưng lại thiếu khả năng thu hút quần chúng đảng viên và thu hút quần chúng cử tri.

Thủ tướng Scott Morrison thì ngược lại “bất đắc dĩ” bị đưa lên thay Thủ tướng Malcolm Turnbull bị các cánh khác trong đảng Tự Do lật đổ vào tháng 8/2018.

7 tháng qua ông không ngừng xây dựng để trở thành một hình ảnh quần chúng gần gũi với dân, bảo vệ công ăn việc làm cho dân và lo cho đời sống của dân.

Trong khi Bill Shorten luôn biểu lộ tự tin thắng cử thì Scott Morrison luôn bày tỏ mong muốn và cố gắng để được cử tri ban cho ông một cơ hội được tiếp tục điều hành đất nước.

Trong vai trò Bộ Trưởng Ngân Khố Scott Morrison đã thành công trả được nợ do các chính quyền Lao Động tạo ra và chứng tỏ có khả năng lèo lái kinh tế Úc vượt qua mọi khó khăn.

Scott Morrison khéo léo xây dựng chiến lược tranh cử để cử tri chọn lựa giữa ông và Bill Shorten, thay vì chọn lựa giữa Tự Do và Lao Động.

Nhờ thế “phép mầu” đã xảy ra, cử tri đã ban cho Scott Morrison lá phiếu để ông thắng một cuộc bầu cử vẫn được nhiều người tin rằng đảng Lao Động không thể nào thua (the unlosable election).

Bill Shorten và tôi !!!

Bill Shorten là dân biểu đại diện cho Maribyrnong, nơi tôi đang sống. Khu vực vừa mất đi cơ hội có được Thủ Tướng đầu tiên.

Tôi biết Bill gần 20 năm nay. Trước khi ông lập gia đình, ông ở cạnh nhà của bạn thân với gia đình tôi. Nhà họ cũng chỉ cách nhà tôi vài phút đi bộ.

Tôi đã nhiều lần trò chuyện với ông về việc cộng đồng, về nhân quyền, về tự do, dân chủ cho Việt Nam.

Gần đây tôi có nói đùa với bạn bè rằng Bill Shorten không có số làm Thủ tướng ngờ đâu đó là sự thật.

Maribyrnong là một đơn vị bầu cử có rất đông người Việt sinh sống nhưng lại là khu vực thành trì của đảng Lao Động, nghĩa là ông Bill Shorten chắc chắn sẽ thắng tại đơn vị này.

Tôi không bầu cho ông mà bầu cho đảng Tự Do với lý do riêng.

Tôi muốn Maribyrnong trở thành khu vực tranh chấp giữa các đảng chính trị. Lá phiếu của cử tri Việt khi đó sẽ thực sự có giá trị.

Như trường hợp đơn vị Chisholm nơi có đông người Hoa sinh sống, nói đến bên trên, chỉ cần vài trăm phiếu có thể thay đổi được người đại diện. Vì thế cả hai đảng đều phải đưa người gốc Hoa ra tranh cử và cô Gladys Liu đã trở thành dân biểu di dân gốc Á châu đầu tiên tại Úc.

Khi Maribyrnong trở thành khu tranh chấp giữa các đảng chính trị, họ sẽ đưa người gốc Việt ra tranh cử, tạo cơ hội cho giới trẻ Việt thực sự tham gia vào chính trị Úc.

Công bằng nhận xét, trong các vai trò chính trị, Bill Shorten đã làm rất tốt, làm tất cả những gì ông có thể làm được, nhưng đáng tiếc cơ hội để làm Thủ tướng đã không đến với ông.

Nguyễn Quang Duy

Melbourne, Úc Đại Lợi

22/05/2019

Một người Úc gốc Việt đắc cử vào Thượng Viện Tiểu Bang Victoria
Tiến sĩ Kiều Tiến Dũng là người Úc gốc Việt thứ ba đảm nhiệm chức vụ Thượng Nghị Sĩ tại Úc. Người đầu tiên là cựu Thượng Nghị sĩ Nguyễn Sang, thuộc đảng Lao động đại diện vùng Tây Melbourne, từ năm 1996 đến 2006. Và thứ nhì là Thượng Nghị sĩ đương nhiệm Ngô Tùng, đắc cử Thượng viện Nam Úc năm 2014. Cả ba đều thuộc đảng Lao động.

Nghị Sĩ tại Úc. Người đầu tiên là cựu Thượng NghịNguyễn Sang, … Trước đó ông đã phải vào tù ra khám nhiều lần tại Việt Nam vì vượt biển thất bại.

Van Pham Đây là ý tốt của chúng ta, lớp người đi trước. Nhưng rất tiếc, cũng vì tin tưởng vào giới trẻ nên CĐ NVTD Victoria thời điểm đó đã đề cừ thanh niên trẻ là Nguyễn Sang ra tranh cử Nghị viên Thành phố và suốt một thời gian dài đều ủng hộ anh ta cho đến khi anh ta trở thành Thượng Nghị sĩ Tiểu bang Victoria. Từ đây với những quyền lợi riêng tư anh ta đã làm những việc bất chính, liên lạc và thông đồng với chế độ CSVN và cuối cùng mới bị Cộng đồng tẩy chay. Nếu tương lai muốn đề cử ai chúng ta phải nuôi dưỡng và nắm chắc được con người đó để không phản bội lại chúng ta!!!

Can I take my own passport photo Australia?
The required dimensions of the photo are 35mm to 40mm wide and 45mm to 50mm high. The size of the face from chin to crown can be up to a maximum of 36mm with a minimum of 32mm. … Glasses are not allowed in passport photos taken from 1 July 2018.

Image result for australian passport photos

Passport photo guidelines | Australian Passport Office
https://www.passports.gov.au/passports-explained/how-apply/passport-photo-guidelines


Vĩnh biệt thi sĩ Tô Thùy Yên của “Chiều Trên Phá Tam Giang”.

Vĩnh biệt thi sĩ Tô Thùy Yên, tác giả của “Chiều Trên Phá Tam Giang”.
Thành kính phân ưu với gia đình nhà thơ 😭. 😭.

Nhận được tin buồn, thi sĩ Tô Thùy Yên đã vừa qua đời tại tiểu bang Texas vào ngày 21/5/2019.

Thi sĩ Tô Thùy Yên tên thật là Đinh Thành Tiên, sinh ngày 20 tháng 10 năm 1938 tại Gò Vấp. Thuở nhỏ ông học trung học Trường Petrus Trương Vĩnh Ký, có ghi danh theo học ở Trường Đại học Văn khoa Sài Gòn, ban văn chương Pháp, một thời gian rồi bỏ dở.

Ông bắt đầu có thơ đăng trên báo Đời Mới (thập niên 1950) trước khi xuất hiện và nổi tiếng trên tạp chí Sáng Tạo. Tô Thùy Yên, Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, cùng với các họa sĩ Duy Thanh, Ngọc Dũng là những người nòng cốt của nhóm Sáng tạo, một nhóm sáng tác đã từng được biết đến với phong trào khai sinh “Thơ Tự Do” trên văn đàn Miền Nam vào thập niên 1960. Ông là người miền Nam duy nhất trong nhóm Sáng tạo.

Cuối năm 1963 ông nhập ngũ, phục vụ ngành chiến tranh chính trị. Chức vụ cuối cùng là thiếu tá, trưởng phòng Tâm lý chiến.

Thơ Tô Thuỳ Yên là sự kết hợp hoàn chỉnh và đẹp đẽ giữa hai yếu tố mà giới phê bình lý luận văn học tại Việt Nam thường nói đến: tính dân tộc và tính hiện đại. Có thể dễ dàng tìm thấy trong thơ Tô Thuỳ Yên vô số những dấu vết của truyền thống bên cạnh vô số những điểm cách tân độc đáo: cả hai hài hoà với nhau làm cho thơ ông, ở những bài thành công nhất, có cái hoàn hảo của những tác phẩm cổ điển.

Hình ảnh của Tô Thuỳ Yên hiện ra trong thơ bao giờ cũng là hình ảnh một người đầy ưu tư, đầy khắc khoải. Có thể nói thơ Tô Thuỳ Yên là một chuỗi đối thoại lặng lẽ và triền miên giữa ông và lịch sử, giữa ông và thiên nhiên.
Ta gắng về sâu lòng quá vãng
Truy tầm mê mỏi lý sơ nguyên
Hỡi ơi, dọc dọc thây câm cứng
Mắt trợn tròn chưa dứt ngạc nhiên…

Ta lại trồi lên dương thế rộn
Ngày ngày ra bãi vắng vời trông
Bóng chim, tăm cá, cành trôi giạt…
Bất luận điều chi giữa mịt mùng

(Mòn gót chân sương nắng tháng năm)


Những câu thơ nổi tiếng nhất và được trích dẫn nhiều nhất của Tô Thùy Yên có lẽ là những câu này trong bài thơ Ta Về:
Ta về cúi mái đầu sương điểm
Nghe nặng từ tâm lượng đất trời
Cảm ơn hoa đã vì ta nở
Thế giới vui từ nỗi lẻ loi

Ngoài ra, bài thơ nổi tiếng nhất của Tô Thùy Yên được người yêu nhạc biết đến là Chiều Trên Phá Tam Giang, được ông và nhạc sĩ Trần Thiện Thanh viết thành nhạc.

___Hoàn cảnh sáng tác bài “Chiều Trên Phá Tam Giang” của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh.

TIỂU SỬ CÁC BÀI HÁT

Có những địa danh đã đi vào thơ nhạc và để lại những dấu ấn khó phai mờ trong lòng người yêu nhạc qua nhiều thế hệ. Trong bài viết này, xin giới thiệu đôi nét về phá Tam Giang trong bài hát Chiều Trên Phá Tam Giang của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh.
Những sáng tác của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh được người ta xếp vào dòng nhạc đại chúng, dễ đi vào lòng người, nhưng vẫn có được giá trị nghệ thuật cao. Nhạc của ông không hề dễ dãi mà đầy tính nhân bản và đề cao giá trị của con người trong thời chiến. Riêng về dòng nhạc tình, ông cũng có những tuyệt phẩm được yêu thích như Trên Đỉnh Mùa Đông, Khi Người Yêu Tôi Khóc và Chiều Trên Phá Tam Giang.

Phá Tam Giang là một phá nằm trong hệ đầm phá Tam Giang – Cầu Hai ỏ vùng Thừa Thiên Huế. Diện tích phá Tam Giang khoảng 52km², trải dài khoảng 24 km theo hướng tây tây bắc – đông đông nam từ cửa sông Ô Lâu đến cửa sông Hương, thuộc địa phận ba huyện Phong Điền, Quảng Điền, Hương Trà tỉnh Thừa Thiên-Huế. Phá Tam Giang chiếm khoảng 11% diện tích đầm phá ven bờ của Việt Nam. Độ sâu của phá này từ 2-4m, có nơi sâu tới 7m.
Phá Tam Giang với cửa Thuận An và sông Hương là thủy lộ chính lên kinh thành Huế nên ngày xưa ai thượng kinh đều phải vượt phá. Tuy là đầm nhưng vì có sóng nên ca dao có câu:

Đường vô xứ Huế quanh quanh
Non xanh nước biết như tranh họa đồ
Thương em anh cũng muốn vô
Sợ truông Nhà Hồ, sợ phá Tam Giang…

Phá Tam giang ngày xưa hai bên bờ là những đầm lầy đầy lau lách, ở đó có sào huyệt của một nhóm cướp khét tiếng vào thời kỳ bấy giờ. Cho nên thương em mà không dám vô cớ là vậy.

Về hoàn cảnh ra đời của nhạc phẩm bất hủ “Chiều Trên Phá Tam Giang” được nhạc sĩ Trần Thiện Thanh được viết theo ý thơ Tô Thùy Yên, theo lời kể của chính tác giả trong một lần hát chung với ca sĩ Khánh Ly, đó là vào khoảng giữa 1972, khi cuộc chiến Việt Nam đang ở trong thời kỳ khốc liệt nhất mà đỉnh cao là “mùa hè đỏ lửa” 1972, nhạc sỹ Trần Thiện Thanh cùng với nhạc sỹ Phạm Duy, nhà thơ Tô Thùy Yên và vài người nữa từ Sài Gòn đi thăm những vùng tiền đồn.

Chiều hôm đó, trên chiếc trực thăng bay là là trên mặt phá Tam Giang rộng mênh mông, nhà thơ Tô Thùy Yên cùng với Trần Thiện Thanh đã nảy ra ý định sẽ làm một bài thơ hay nhạc về phá Tam Giang này. Thế là không lâu sau đó, bài thơ “Chiều trên phá Tam Giang” ra đời.
Cũng chính vì cảm tác từ chuyến đi thực tế mà nhạc sĩ Trần Thiện Thanh đã cho ra đời một nhạc phẩm bất hủ, vượt trên nhiều bản theo dòng nhạc đại chúng của ông.
Đọc nguyên tác bài thơ của thi sĩ Tô Thùy Yên ở đây

Phá Tam Giang ngày rày đã cạn
(Ca dao)

1.
Chiếc trực thăng bay là mặt nước
Như cơn mộng nhanh
Phá Tam Giang, phá Tam Giang
Bờ bãi hỗn mang, dòng bát ngát
Cát hôn mê, nước miệt mài trôi
Ngó xuống cảm thương người lỡ bước
Trời nước mông mênh, thân nhỏ nhoi
Phá Tam Giang, phá Tam Giang
Nhớ câu ca dao sầu vạn cổ
Chiều dòn tan, nắng đọng nứt ran ran
Trời thơm nước, thơm cây, thơm xác rạ
Thơm cả thiết tha đời
Rào rào trận gió nhám mặt mũi
Rào rào trận buồn ngây chân tay

Ta ngó thấy ghe thuyền quần tụ
Từng đoàn như trẻ nhỏ ghê ma
Ta ngó thấy thuỳ dương gãy rủ
Từng cây như nỗi bất an già
Ta ngó thấy rào chà cản nước
Từng hàng như nỗ lực lao đao
Ta ngó thấy nhà cửa trốc nóc
Từng ngôi như mặt đất đang gào
Vì sao ngươi tới đây?
Hỡi gã cộng quân sốt rét, đói
Xích lời nguyền sinh Bắc, tử Nam
Vì sao ta tới đây?
Lòng xót xa, thân xác mỏi mòn
Dưới mắt người làm tên lính nguỵ

Ví dầu ngươi bắn rụng ta
Như tiếng hét
Xé hư không bặt im
Chuyện cũng thành vô ích
Ví dầu ngươi gục
Vì bom đạn bất dung
Thi thể chẳng ai thâu
Nào có chi đáng kể
Nghĩ cho cùng, nghĩ cho cùng
Ví dầu các việc ngươi làm, các việc ta làm
Có cùng gom góp lại
Mặt đất này đổi khác được bao nhiêu?
Ngươi há chẳng thấy sao
Phá Tam Giang, phá Tam Giang ngày rày đâu đã cạn?

Ta phá lên cười, ta phá lên cười
Khi tưởng tượng ngươi cùng ta gặp gỡ
Ở cõi âm nào ngươi vốn không tin
Hỏi nhau chơi thoả chút tính bông đùa:
Ngươi cùng ta ai thật sự hy sinh
Cho tổ quốc Việt Nam – một tổ quốc…?
Các việc ngươi làm
Ngươi tưởng chừng ghê gớm lắm
Các việc ta làm
Ta xét thấy chẳng ra chi
Nên ngươi hăng điên, còn ta ảm đạm
Khi cùng làm những việc như nhau

Ta tự hỏi vì sao
(Còn ngươi, có bao giờ ngươi tự hỏi?)
Và ta tự trả lời
(Có bao giờ ngươi tự trả lời?)
Chúng ta khác nào cánh quạt phi cơ
Phải quạt, phải quạt
Chỉ vì nó phải quạt
Ta thương ta yếu hèn
Ta thương ngươi khờ khạo
Nên cả hai cùng cam phận quay cuồng
Nên cả hai cùng mắc đường Lịch Sử
Cùng mê sa một con đĩ thập thành

Chiều trên phá Tam Giang rộn ràng tiếng chiến trận
Chiều trên phá Tam Giang im lìm âm cảm thông

2.
Chiều trên phá Tam Giang
Anh sực nhớ em
Nhớ bất tận

Giờ này thương xá sắp đóng cửa
Người lao công quét dọn hành lang
Những tủ kính tối om
Giờ này thành phố chợt bùng lên
Để rồi tắt nghỉ sớm
(Sài Gòn nới rộng giờ giới nghiêm
Sài Gòn không còn buổi tối nữa)
Giờ này có thể trời đang nắng
Em rời thư viện đi rong chơi
Dưới đôi vòm cây ủ yên tĩnh
Viền dòng trời ngọc thạch len trôi

Nghĩ tới ngày thi tương lai thúc hối
Căn phòng cao ốc vàng võ ánh đèn
Quyển sách mở sâu đêm
Nghĩ tới người mẹ đăm chiêu, đứa em quái quỷ
Nghĩ tới đủ thứ chuyện tầm thường
Mà cô gái nào cũng nghĩ tới
Rồi nghĩ tới anh, nghĩ tới anh
Một cách tự nhiên và khốn khổ
Giờ này có thể trời đang mưa
Em đi nép hàng hiên sướt mướt
Nhìn bong bóng nước chạy trên hè
Như những đoá hoa nở gấp rút
Rồi có thể em vào một quán nước quen
Nơi chúng ta thường hẹn gặp
Buông tâm trí bập bềnh trên những đợt lao xao
Giữa những đám ghế bàn quạnh quẽ

Nghĩ tới anh, nghĩ tới anh
Cơn nghĩ tới không sao cầm giữ nổi
Như dòng lệ nào bất giác rơi tuôn
Nghĩ tới, nghĩ tới một điều hệ trọng vô cùng
Của chiến tranh mà em không biết rõ
Nghĩ tới, nghĩ tới một điều hệ trọng vô cùng
Một điều em sợ phải nghĩ tới
Giờ này thành phố chợt bùng lên

Chiều trên phá Tam Giang
Anh sực nhớ em
Nhớ bất tận

Anh yêu em, yêu nuối tuổi hai mươi
Rực chiếu bao nhiêu giấc mộng đua đòi
Như những mặt trời con thật dễ thương
Sẽ rơi rụng dọc đường lên dốc tuổi
Mỗi sáng trưa chiều tối đêm khuya
Anh yêu em, yêu nuối tuổi hai mươi
Coi chuyện đó như lần đi tuyệt tích
Trong nước trời lãng đãng nghìn trùng
Không nghe thấy cả tiếng mình độc thoại
Anh yêu em, yêu nuối tuổi hai mươi
Thấy trong lòng đời nở thật lẻ loi
Một cành mai nhị độ
Thấy tình yêu như vận hội tàn đời
Để xé mình khỏi ác mộng
Mà người đàn ông mê tưởng suốt thanh xuân

Ôi tình yêu, bằng chứng huy hoàng của thất bại!

3.
Chiều trên phá Tam Giang
Mày nhìn con nước xiết
Chảy băng bờ bãi ngổn ngang câm
Nghĩ tới, nghĩ tới những công trình mày có thể hoàn thành
Mà rồi mày bỏ dở
Nghĩ tới kiếp người đang lỡ độ đường
Trên mịt mùng nghi hoặc
Nghĩ tới thanh xuân mất tích tự đời nào
Còn lưu hậu chua cay hoài vọng
Nghĩ tới khu vườn ẩn cư cỏ cây khuất lấp
Căn nhà ma ám chầy ngày gió thổi miên man
Đụt tuổi già bình an vô tích sự
Như lau lách bờm sờm trên mặt sông nhăn
Cùng cái chết
Cái chết lâu như nỗi héo hon dần
Làm chính mình bực bội
Gió muôn ngàn năm thổi lẽ tuần hoàn
Cho cỏ cây thay đời đổi kiếp
Và mày kinh sợ nghe nhắc điều vượt sức bình sinh
Bởi mày không đủ dạn dày trình diễn tới lui cơn thất chí
Như gã hề cuồng mưu sinh giữa chốn đông người
Với từng ấy tấn tuồng bần tiện
Rút ra từ lịch sử u mê
Gió thổi thêm đi, gió thổi thêm đi
Cho cỏ cây mau chết, mau hồi sinh
Mày mặc kệ

Chiều trên phá Tam Giang
Có gã hề cuồng buông tiếng cười lạnh rợn
Khiến bầy ác thú mà lịch sử sanh cầm cũng chợt hãi hùng
Dớn dác ngó
6-1972

Bài thơ này đã được nhạc sĩ Trần Thiện Thanh phổ nhạc thành bài hát cùng tên.

Nguồn: Tô Thuỳ Yên, Thơ tuyển, Minesota, 1995

Lời nhạc bài Chiều Trên Phá Tam Giang:
Chiều trên phá Tam Giang 
anh chợt nhớ em 
nhớ ôi niềm nhớ ôi niềm nhớ 
đến bất tận
em ơi, em ơi…
Giờ này thương xá sắp đóng cửa 
người lao công quét dọn hành lang 
giờ này thành phố chợt bùng lên 
để rồi tắt nghỉ sớm
ôi Sài Gòn, Sài Gòn giờ giới nghiêm 
ôi Sài Gòn, Sai Gòn mười một giờ vắng yên 
ôi em tôi Sài Gòn không buổi tối
Giờ này có thể trời đang nắng 
em rời thư viện đi rong chơi 
hàng cây viền ngọc thạch len trôi 
nghĩ đến ngày thi tương lai thúc hối 
căn phòng nhỏ cao ốc vô danh
rồi nghĩ tới anh 
rồi nghĩ tới anh 
nghĩ tới anh
Giờ này có thể trời đang mưa 
em đi dưới hàng cây sướt mướt 
nhìn bong bóng nước chạy trên hè 
như đóa hoa nở vội
giờ này em vào quán nước quen 
nơi chúng ta thường hẹn 
rồi bập bềnh buông tâm trí 
trên từng đợt tiếng lao xao
Giờ này thành phố chợt bùng lên 
em giòng lệ bất giác chảy tuôn 
nghĩ đến một điều em không rõ 
nghĩ đến một điều em sợ không dám nghĩ 
đến một người đi giữa chiến tranh
lại nghĩ tới anh 
lại nghĩ tới anh 
nghĩ tới anh…

Nguồn: dongnhacxua

Phá Tam Giang November 19, 2018 

Tam Giang Lagoon, Thừa Thiên Huế, Vietnam

I TRẦN NGỌC DỤNG by Mai Nguyen

GIỚI THIỆU SÁCH CỦA TÁC GIẢ Giáo sư TRẦN NGỌC DỤNG

Tạp chí Da Màu – Văn chương không biên giới Trần Ngọc Dụng

vgd.magasine <vgd.magasine@gmail.com> 7:15 AM (4 hours ago)
to Tap, tungthai, Vòm

Dear professor Tung Thai, 
I guess Mai Nguyễn send I, Trần Ngọc Dụng pdf file to you. 
TTP. S. Lots of famous intellectual with the name Tung Thai on Academia. I wonder why. 

Sent via the Samsung Galaxy Note® 4, an AT&T 4G LTE smartphone

——– Original message ——–
From: “Academia.edu” <updates@academia-mail.com>
Date: 5/22/19 5:48 AM (GMT-05:00)
To: vgd.magasine@gmail.com
Subject: New Related Paper: “I TRẦN NGỌC DỤNG”

[​IMG]


Bút hiệu Duy Nguyên.

Sinh tại Quảng Nam.

The author, Trần Ngọc Dụng, a survivor of two wars, was born in Quảng Nam province, Central Vietnam, former information assistant, Joint United States Public Affairs Office (JUSPAO–1964-69); student at Faculté de Lettre, and Law School in Saigon, instructor at Medical School and the Armed Forces Languages School–1972-75; lecturer at the University of Saigon (1980-1991), member of Center for Translation and Research (1982-1991). In the USA he taught ESL at School of Continuing Education in Fullerton and at Lincoln Education Center of Garden Grove –1997-2008; Vietnamese Lecturer at UCLA, UCI, and UCR (2002-05). He is an instructor of Vietnamese at Coastline Community College and Santa Ana College (2000-present). He is also a lead translator/interpreter at Garden Grove Unified School District (2008-present); DLPT5 External Test Reviewer (Defense Language Proficiency Test 5, 2013-present). In addition to teaching, Trần Ngọc Dụng is an experienced translator who has been in this field since 1964 to present.
Translation and authorship:
TRANSLATION
I.- English to Vietnamese
A Linguistic Guide to Language Learning by G. W. Morton; 1972,
New English 900 Series, 1984,
Follow Me to Britain Series, 1984;
Follow Me To San Francisco, 1985;
A Death in November by Ellen J. Hammer, 1991,
Kennedy and Vietnam War by John M. Newman, 1992;
Book of the Death by W. Y. Darjeeling (from Tibetan into English), 1993;
In Retrospect by Robert S. McNamara, 1995;
The Private Life of Mao Tse Tung by Dr. Li Zhisui, 1995;
Foundation of Tibetan Mysticism by Anagorika Lavinda, 1995;
John Paul II by Tad Szulc 1995;
A Soldier Reports by William Westmoreland, 1996;
The Collapse of South Vietnam by Cao Van Vien, 1996;
How to Sell Yourself by Joe Girard, 1997
Land Reform an anonymous author about the Land Reform in North VN during the 1965-56, 1999
2 – Vietnamese to English
The Yellow Ants by Đinh Tiến Luyện, (a children’s story about two brothers’ adventure), 1996;
Reminiscences of My Life by Tran Du, a memoir of a successful business person who came to the United States barehanded as a refugee and became a millionaire, 1996;
History of the Catholic Church in Vietnam (from 1530-1975) by Phan Phat Huon, CSsR, a full text of the foundation of Catholicism in Vietnam, 1997;
The Vietnamese Art of Miniature Landscape, an interesting publication for people specialized in Vietnamese bonsai and miniature landscapes,1997;
My Third Homeland by James Luu, a memoir of a boatperson who rished his life to escape Vietnam for freedom, 1998;
Rice Worshipping by Duong Van Tham (a document about Vietnamese tradition of worshipping the rice stalk, Fowler Museum, UCLA), 2000;
Vietnamese Communist Party Through Vicissitudes of the Communist International by Nguyen Minh Can, 2001;
Black Gold a memoire by a Vietnamese Ranger in the Tri-angle where borders of three countries – Viet-Cambodia-Laos meet, 2003;
Vietnamese Folk Stories (over ten bilingual stories with color illustrations and audio recordings for children and college students learning Vietnamese as a second language), 2004
Sentiments and Aspirations by Nguyen Ninh Thuan about a Vietnamese woman who sacrificed her life for the sake of her parents, siblings, her husband and children. 2012

AUTHORSHIP
1 – Published:
English-Vietnamese Handbook for Translator (a textbook for college students specialized in English-Vietnamese/Vietnamese-English translation) Saigon, 1983;
English Pronunciation Lessons, Saigon, 1984;
American English Daily Phrases, World Graphics, 1994; available at www.tinhhoavietnam.net for free viewing
Forbidden English, World Graphics, 1995 (out of print);
Ta Ve Ta Tam Ao Ta (a book of Vietnamese proverbs) published by SHEN’s in Acadia, California, 1998; Lee&Low, New York. 2014;
Thành Ngữ tiếng Việt (Vietnamese Idioms), 2001; 2nd edition 2015;
Introduction to Vietnamese Language and Literature, free copies (Teacher’s manual and Student’s book) at www.tinhhoavietnam.net 1st edition, 2nd ed., 2002, 3rd edition, 2012;
English Grammar Handbook (the most up-to-date comprehensive grammar book ever written by a Vietnamese for Vietnamese adults and Vietnamese ESL/EFL college students), Tinh HoaViet Nam, 2005, 2nd edition 2014;
Vietnamese for Busy People series 1&2, a practical method to learn authentic Vietnamese, 2004 by Coastline Community College and by Kendall/Hunt Publishing Company, Iowa, 2007, 2nd edition 2014
US Citizenship Lessons a comprehensive series of lessons leading to mastering citizenship questions and answers for a successful passage of a citizenship interview, 2008, 2nd edition 2010
Vietnamese Grammar Handbook, a comprehensive grammar reference for heritage and non-heritage learners, 2010; 2nd edition, 2014
2. To be published:
American Slang (more than 1,500 entries of slang and their equivalents);
English Idioms (more than 2,000 idioms with their equivalents); free copy at www.tinhhoavietnam.net
Dictionary of Abbreviations and Acronyms (more than 3,000 common abbreviations and acronyms);
Truyện Kiều Chú Giải (a new annotation with replete details and new philosophical view points)
Vietnamese Folk Poetry (more than 400 folk poems ever made in original Vietnamese verses andannotations in English);
Translators’ Handbook (a comprehensive guide to translators (English-Vietnamese/Vietnamese-English)


Dear Tung,

You read the paper “Đã đăng 17 kỳ trên báo Thanh Niên từ ngày 08-4-08 đến ngày 28-4-08 (THD có sửa…”. A new related paper was just uploaded to Academia: I TRẦN NGỌC DỤNG  by Mai Nguyen, Hanoi University of Science and… The publication aims to provide learners with a close look at the authentic Vietnamese language from the bottom-up and how it is structured phonologically,…   Download ‌  ‌Save to Library ‌  ‌   View Paper ▸

Xem tướng mũi két đoán tính cách, vận mạng tốt xấu

Nghe thầy giải mã cuộc đời qua tướng mũi két chi tiết nhất!

Sau đây là các thông tin về xem tướng mũi két, tướng mũi két là gì? các đặc điểm nhận diện tướng mũi két, xem tướng đàn ông mũi két, xem tướng phụ nữ mũi két tra tính cách, bói số mệnh:

  1. Tướng mũi két là gì? Nhận dạng tướng mũi két

Nhân tướng học chỉ ra Tướng mũi két là gì: Tướng mũi két là tướng mũi có Đầu mũi quặp vào miệng, hai bên gián đài đình úy như co rút lại.

  1. Người tướng mũi két là người như thế nào?

Sách “ Thủy Kính ” có thơ về tướng mũi két (ưng chủy tị) như sau :

Tị lương lộ tích chuẩn đầu tiêm. Hựu như ưng chủy toả thần biên. Gián đài đình úy câu đoản sóc. Trác nhân tâm tủy ác gian tân.

Luận ý nghĩa là: “ Đầu mũi nhọn quặp vào môi, hai cánh mũi co rút là mũi chim ưng moi gan moi ruột người, ăn mất cả phần chồng phần con”.  Tướng phụ nữ mũi két là tướng tàn ác gian thâm. Theo nhân tướng học thì cho dù là tướng đàn ông mũi két hay đàn bà mũi két đều là những người thủ đoạn ,lòng dạ nham hiểm ,cần cảnh giác với những người này trong cuộc sống cũng như làm việc

Trên đây là các thông tin về xem tướng mũi két là gì được các chuyên gia tổng hợp dựa trên kiến thức của thuật xem tướng. Xem tướng đàn ông mũi két, tướng phụ nữ mũi két dễ dàng đoán biết số mệnh cuộc đời.

Có thể bạn muốn xem

Xem tướng mũi dọc dừa

Xem tướng mũi to

Xem tướng mũi dài

Xem tướng mũi ngắn

Xem tướng mũi cao

Xem tướng mũi thấp

Xem tướng mũi tẹt

Xem tướng mũi thẳng

Xem tướng mũi lệch

Xem tướng mũi gấp khúc

Xem tướng mũi gãy

Xem tướng mũi tròn

Xem tướng mũi nhọn

Xem tướng mũi vẹo

Xem tướng mũi gồ

Xem tướng mũi lõm

Xem tướng mũi dày

Xem tướng mũi hếch

Xem tướng mũi quặp

Xem tướng mũi khoằm

Tướng mũi lộ sống mũi

Xem tướng mũi lộ lỗ mũi

Xem tướng mũi củ tỏi

Xem tướng mũi đầu chẻ

Xem tướng mũi lân

Xem tướng mũi hổ

Xem tướng mũi rồng

Xem tướng mũi sư tử

Xem tướng mũi diều hâu

Xem tướng mũi chim ưng

Xem tướng mũi kiếm phong

Xem tướng mũi đười ươi

Xem tướng mũi két

Xem tướng mũi túi mật

Xem tướng mũi khỉ

Xem tướng mũi huyền đảm

Xem tướng mũi thịnh hào

Xem tướng mũi tiệt đồng

Xem tướng mũi tê giác nằm

Xem tướng mũi hồ dương

Xem tướng mũi ba ba

Xem tướng mũi hoẵng

Xem tướng mũi hươu

Xem tướng mũi tinh tinh

Xem tướng mũi chó

Xem tướng mũi cá diếc

Xem tướng mũi trâu

Cảm nhận sau một chuyến về thăm VN-TS.Nguyễn Văn Tuấn

Cảm nhận sau một chuyến về thăm VN .

TS.Nguyễn Văn Tuấn

  Nguyễn Văn Tuấn nguyên giảng sư Đại Học Y Khoa New South Wales & University of Technology, Sydney
Tôi vừa có một chuyến đi gần 1 tháng ở bên nhà. Đó là một thời gian tương đối dài đối với tôi, một phần là vì công việc, và một phần khác là nghỉ hè. Chính vì hai việc này mà tôi có dịp đi đây đó, và có dịp quan sát quê hương — không phải từ phòng máy lạnh, mà từ thực địa. Tôi e rằng những quan sát và cảm nhận của tôi hơi bi quan.
Thú thật, tôi không thấy một Việt Nam sẽ “tươi sáng”, mà chỉ thấy một đất nước sẽ tiếp tục tụt hậu và lệ thuộc, nhất là trong bối cảnh cộng đồng kinh tế ASEAN
1. Một đất nước trên đà suy thoái.

Cái ấn tượng chung và bao quát trong chuyến về thăm quê là đất nước này đang trên đà suy thoái hầu như về mọi mặt. Mặc cho những con số thống kê kinh tế màu hồng được tô vẽ bởi Nhà nước, trong thực tế thì cuộc sống của người dân càng ngày càng khó hơn. Hơn 70% dân số là nông dân hay sống ở miệt quê, nên chúng ta thử xem qua cuộc sống của một gia đình nông dân tiêu biểu, gồm vợ, chồng và 2 con. Gia đình này làm ra gạo để các tập đoàn Nhà nước đem đi xuất khẩu lấy ngoại tệ (và chia chác?) nhưng số tiền mà họ để dành thì chẳng bao nhiêu.. Gia đình này có thể có 5 công đất (hoặc cao lắm là 10 công đất), sau một năm quần quật làm việc “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời”, cả nhà chỉ để dành khoảng 10-15 triệu đồng, có khi còn không bằng một bữa nhậu của các quan chức.

Cuộc sống của người nông dân là nợ triền miên.. Đầu mùa thì vay ngân hàng để mua giống, mua phân, mua thuốc trừ sâu; thu hoạch xong thì phải trả nợ cộng tiền lời cho ngân hàng. Rồi đến mùa vụ kế tiếp thì cái vòng vay – trả nợ lại bắt đầu. Con của người nông dân đi học, thì mỗi đứa phải gánh ít nhất là 10 loại phí khác nhau, có khi lên đến 20 phí! Các trường, các uỷ ban nhân dân, các cơ quan công quyền, v.v. đua nhau sáng chế ra những loại phí để moi móc túi tiền người dân vốn đã quá ít ỏi. Họ không cần biết người dân có tiền hay không, phí là phí, và phải đóng phí. Không ít gia đình không có tiền đóng phí nên cho con nghỉ học. Đã có tình trạng người dân không đủ tiền trả viện phí nên tìm đến con đường tự tử.

Môi trường sống xuống cấp thê thảm. Sự gia tăng dân số gây áp lực vô cùng lớn đến môi sinh. Mật độ dân số tăng nhanh, ngay cả ở vùng nông thôn. Có thể nói rằng hầu hết các con sông ở VN đang chết. Tất tần tật, kể cả heo gà và có khi cả người chết, cũng bị vứt xuống sông.

Những con sông VN đang chết vì chúng đã biến thành những bãi rác di động khổng lồ. Đó là chưa nói đến sự xâm nhập của nước mặn vào các con sông vùng Đồng bằng sông Cửu Long, một phần là do mấy cái đập lớn Tàu xây trên thượng nguồn của sông. Tôi cho rằng sự suy thoái về môi trường là mối đe doạ lớn nhất đến sự tồn vong của đất nước.
Ở đất nước này, chính quyền đã mắc cái bệnh vô cảm quá lâu, và bệnh đã trở thành mãn tính, rất khó cứu chữa. Cái bệnh vô cảm của chính quyền nó còn lan truyền sang cả xã hội, mà trong đó mọi người dùng mọi phương cách và thủ đoạn để tranh nhau ngoi lên mặt đất mà sống.. Có thể nói cả xã hội đang chạy đua. Cái chữ “chạy” ở VN đã có một ý nghĩa khác… Dân chạy để đưa con cái vào đại học, vào cơ quan Nhà nước để hi vọng đổi đời. Quan chức cũng chạy đua vào các chức vụ trong guồng máy công quyền, và họ chạy bằng tiền. Tiền dĩ nhiên là từ dân. Thành ra, cuối cùng thì người dân lãnh đủ. Sự suy thoái ở VN diễn ra trên mọi mặt, từ kinh tế, môi trường, y tế, giáo dục, đến đạo đức xã hội.
2. Đất nước đang bị “bán”

   Một anh bạn tôi vốn là một doanh nhân (businessman) thành đạt cứ mỗi lần gặp tôi là than thở rằng đất nước này đang bị bán dần cho người nước ngoài. Mà, đúng là như thế thật. Ở khắp nơi, từ Đà Nẵng, đến Nha Trang, tận Phú Quốc, người ta “qui hoạch” đất để bán cho các tập đoàn nước ngoài xây resort, khách sạn, căn hộ cao cấp. Một trong những “ông chủ” mới thừa tiền để mua tất cả của Việt Nam là người Tàu lục địa.
Chẳng những đất đai được bán, các thương hiệu của VN cũng dần dần bị các tập đoàn kinh tế nước ngoài thu tóm và kiểm soát. Chẳng hạn như các tập đoàn Thái Lan đã thu tóm những thương hiệu bán lẻ và hàng điện tử của Việt Nam.. Tuy nhiên, người dân có vẻ “ok” khi người Thái kiểm soát các cửa hàng này, vì dù sao thì người Thái đem hàng của họ sang còn có phẩm chất tốt và đáng tin cậy hơn là hàng hoá độc hại của Tàu cộng.

Đó là chưa kể một loại buôn bán khác: buôn bán phụ nữ. Phụ nữ Việt Nam được quảng cáo ở các nước như Tàu, Đài Loan, Singapore và Đại Hàn. Chưa bao giờ người Việt Nam chịu nhục khi con gái VN được cho đứng trong lồng kiếng như là những món hàng để người ta qua lại ngắm nghía và trả giá! Thử hỏi, có người Việt Nam nào tự hào được khi đồng hương mình bị đem ra rao bán như thế.. Xin đừng nói đó là những trường hợp cá biệt; đó là tín hiệu cho thấy một đất nước đang bị suy thoái về đạo đức xã hội.
3. Tham nhũng tràn lan

Không cần phải nhờ đến tổ chức minh bạch quốc tế chúng ta mới biết VN là một trong những nước tham nhũng nhất thế giới. Chỉ cần tiếp xúc với hải quan, hay bất cứ cơ quan công quyền nào, người dân đều có thể nếm “mùi tham nhũng”. Tham nhũng từ dưới lên trên, từ bên này sang bên kia, từ cấp thấp đến cấp cao. Có khi tham nhũng công khai, và kẻ vòi tiền mặc cả cái giá mà không hề xấu hổ. Các cơ quan Nhà nước phải hối lộ các cơ quan Nhà nước khác, và họ xem đó là bình thường. Ngay cả những ngành dịch vụ tưởng như là “trí thức” như giáo dục và y tế mà cũng tham nhũng, và vì họ có học nên tham nhũng ở hai ngành này còn “tinh tế” hơn các ngành khác!
Có thể nói là tham nhũng (và hối lộ) đã trở thành một thứ văn hoá. Cái văn hoá này nó ăn sâu vào não trạng của cán bộ Nhà nước. Đã là văn hoá thì nó rất khó xoá bỏ một sớm một chiều. Ngay cả ông tổng Phú Trọng còn thú nhận rằng trạng tham nhũng như “ghẻ ruồi, rất ngứa ngáy, khó chịu”, nhưng cho đến nay ông cũng không làm được cái gì để giảm tình trạng này.
4. Xã hội bất an

Có thể nói không ngoa rằng VN là một xã hội bất an. Đọc báo hàng ngày thấy tin tức về tội phạm dày đặc khắp nơi. Chẳng những sự phổ biến của tội phạm, mà sự manh động của các vụ án càng ngày càng táo tợn. Chưa nơi nào có những vụ giết người vô cớ như ở VN: chỉ một cái nhìn cũng có thể dẫn đến cái chết!
Đáng ngại nhất là tội phạm đã lan tràn về tận vùng quê. Ở quê tôi, nơi mà ngày xưa là một làng êm ả, ngày nay là một cộng đồng bất an vì những vụ chém giết xảy ra hầu như hàng tuần! Người dân dưới quê cảm thấy mệt mỏi, không muốn nuôi trồng gì nữa, vì nạn trộm cắp hoành hành triền miên. Nuôi cá chưa đủ lớn thì đã bị trộm câu mất. Trồng một cây mít, trái chưa chín thì đã có trộm hái dùm. Chưa bao giờ tình trạng trộm cắp phổ biến như hiện nay ở vùng nông thôn.

Đó là chưa nói đến tai nạn giao thông vốn còn kinh hoàng hơn cả trộm cắp. Ở VN, bước ra đường là chấp nhận rủi ro tai nạn, thậm chí chết vì sự hỗn loạn của hệ thống giao thông. Thật vậy, tai nạn giao thông ở VN đã và đang trở thành nỗi kinh hoàng của không chỉ người dân địa phương mà còn ở du khách.
Một dạng bất an khác là (mất) an toàn thực phẩm. Có thể nói rằng đây là vấn đề làm cho cả dân số quan tâm nhất (theo như kết quả của một cuộc điều tra xã hội chỉ ra). Đi đến đâu, ở bất cứ thời điểm nào, người ta cũng nói đến những loại hàng hoá độc hại được tuồn vào thị trường Việt Nam từ một cái nguồn quen thuộc: Tàu cộng. Ngay cả ở dưới quê tôi, người dân còn không dám mua trái cây có xuất xứ từ Tàu. Không có một nông sản nào của Tàu sản xuất được xem là an toàn.

Ngày nay, ngay cả các bợm nhậu cũng e dè những món ăn ở nhà hàng, quán nhậu, vì không ai dám chắc đó là hàng hoá của VN hay của Tàu. Nhưng điều đáng buồn nhất là sự tiếp tay của các doanh nghiệp Việt Nam để cho hàng hoá Tàu hoành hành đất nước ta và dân tộc ta. Thật không ngoa khi gọi những doanh nghiệp này là “gian thương”. Cũng không ngoa để nói rằng gian thương cấu kết với những cán bộ tham nhũng đang giết chết kinh tế nước nhà và người dân.
5. Trí thức không có tiếng nói, không có phản biện

Theo dõi báo chí ở VN, dễ dàng thấy sự trống vắng tiếng nói của giới trí thức. Trước một sự kiện tương đối quan trọng như đại hội đảng csvn, mà không hề có bất cứ một bình luận độc lập nào, không hề có một bài phân tích về các nhân vật chóp bu trong đảng, hoàn toàn không có một phát biểu mang tính viễn kiến của bất cứ một nhân vật “lãnh đạo” tương lai nào! Thay vào đó là những tiếng nói của những người mang danh “sư sĩ” nhưng cách họ nói và ngôn ngữ của họ thì chẳng khác sự “cò mồi” là bao nhiêu..
Trước hiện tình đất nước, giới có học nói chung có vẻ lãnh đạm. Họ không quan tâm. Họ thường chạy trốn thực tế bằng cách biện minh rằng “chỉ lo việc chuyên môn”.. Thật ra, cũng khó trách họ, vì nếu họ nói ra những ý kiến thì có thể sẽ bị phạt nặng nề, thậm chí tù đày. Ngay cả yêu nước là một tình cảm thiêng liêng mà cũng phải được tổ chức và … cho phép. Một xã hội đối xử với giới trí thức như thế thì làm sao bền vững được.
6. Guồng máy quản lý bất tài

Thật ra, sự bất tài của quan chức Nhà nước không còn gì là bí mật. Vì bất tài, nên họ thường “sản xuất” ra những qui định hài hước, và có khi cực kì vô lí và phi khoa học. Chúng ta còn nhớ trước đây, họ cho ra qui định mang danh “ngực nở chân dài”để được lái xe ô-tô, gây ra một trận cười cấp quốc gia. Tưởng như thế đã là hi hữu, ai ngờ họ lạ tái xuất với một qui định “trời ơi”: Xe ô-tô 4 bánh phải có bình chữa cháy. Qui định này làm trò cười cho cả thế giới và các hãng sản xuất xe hơi. Tưởng qui định như thế đã là vô lí, họ còn cho ra một qui định “trên trời” như xe trên 10 chỗ ngồi phải có găng tay và khẩu trang lọc độc!(Tất nhiên, không phải ai trong guồng máy Nhà nước là bất tài, vẫn có người tài đó, nhưng cái ấn tượng chung mà người dân có thì đó là một guồng máy gồm những người bất tài, ăn bám nhân dân). 
7. Tuy bất tài, nhưng guồng máy đó rất giỏi trong việc hành hạ dân

Sự hành dân của guồng máy quản lí & hành chính của Việt Nam phải nói là vô song trên thế giới. Đối với người dân, có việc đến cổng công đường là một nỗi sợ, một cơn ác mộng. Hầu như không có một việc gì, từ nhỏ đến lớn, mà trôi chảy lần đầu khi đến gặp các quan chức Nhà nước. Tôi về quê và nghe nhiều câu chuyện hành dân mà nói theo tiếng Anh là “incredible” — không thể tin được. Chỉ cần cái họ viết sai dấu (như “Nguyển” thay vì “Nguyễn”) là cũng bị hành và tốn tiền triệu! Những lỗi sai chính tả đó là của họ (quan chức, cán bộ), nhưng họ vẫn hành dân một cách vô tư.. Họ tìm mọi cách, mọi lúc để “đá” dân từ cơ quan này sang cơ quan khác, và biến dân như những trái banh để họ làm tiền. Thực dân Pháp ngày xưa có lẽ cũng không hành dân như cán bộ Nhà nước ngày nay.

Năm 2016 này Việt Nam sẽ tham gia Cộng đồng Kinh tế ASEAN (ASEAN Economic Community hay AEC). Mục tiêu là hình thành một cộng đồng kinh tế có khả năng cạnh tranh cao, hàng hoá và dịch vụ, đầu tư sẽ tự do lưu chuyển giữa các nước thành viên. Tôi ghé thăm một đại học lớn ở Thái Lan vào năm 2013, và giới trí thức bên đó đã bàn rất nhiều về viễn cảnh này, họ tư vấn cho chính phủ để chuẩn bị hoà nhập vào AEC. Nhưng ngạc nhiên thay, ở VN rất ít thảo luận về AEC và những tác động của nó đến cuộc sống của người dân! Nhưng với tình trạng suy thoái, đất nước bị “bán”, tham nhũng tràn lan, xã hội bất an, trí thức không có tiếng nói, guồng máy quản lý bất tài nhưng giỏi hành dân, thì không nói ra, chúng ta cũng biết là khả năng cạnh tranh của VN không cao trong AEC. Khả năng cạnh tranh không cao rất có thể dẫn đến nguy cơ lệ thuộc.
Tái bút: 
Nhiều người khi đọc những bài và ý kiến như thế này thường hỏi một cách hằn học rằng “ông có phải là người Việt Nam hay không mà phê phán đất nước như thế”, “ông đã làm gì cho đất nước này”, hay “nói thì hay, vậy giải pháp là gì”, v.v.

   Tôi nghĩ những câu hỏi đó không tốt mấy, và có phần … lạc đề. Vấn đề là cái xấu đàng hoành hành đất nước này, chứ đâu phải tôi là ai hay tôi đã làm gì cho đất nước. Chẳng lẽ chỉ có người có công và đóng góp cho đất nước mới được “phép” phê bình sao. Nghĩ như thế thì e rằng quá nhỏ mọn. Mà, muốn biết tôi đã làm gì thì cũng chẳng khó khăn gì trong thời đại google này. Giải pháp nó nằm ngay ở mỗi cá nhân chúng ta. Mỗi người cần phải làm tốt và sống tử tế là giải pháp tốt nhất để đẩy lùi cái ác, cái xấu, cái bất công, cái bất cập trong xã hội.

— 
Bạn nhận được thư này vì bạn đã đăng ký vào nhóm Google Groups “Ykhoa1965”

Chiếc Nanh Heo Rừng

Tác giả: Phương Hoa

Tác giả sinh năm 1950, đến Mỹ năm 1994 diện tị nạn chính trị theo chồng, hiện sống ở Bắc Cali. Tốt nghiệp đại học ngành Early Childhood Education (giáo dục nhi đồng) tại Chapman University miền Nam California hồi tháng 5, 2012 khi tròn 62 tuổi, đang volunteer tại một trường học ở Marysville trong khi chờ đi dạy. Phương Hoa đã nhận giải Danh Dự Viết Về Nước Mỹ 2013 và tiếp tục viết nhanh, viết khoẻ. Sau đây là bài viết mới nhất của bà.

* * *
Nó hình cong lưỡi liềm, dài chừng bảy phân tây, đầu mũi nhọn hoắt, đầu gốc vun vun dẹp được bọc bạc và chạm trỗ dày đặc hoa văn, sáng trắng đồng màu với sợi dây chuyền. Tòan thân nó bóng loáng màu ngà, nhưng khoảng giữa có điểm những đường vân nâu sậm vắt ngan xeo xéo. Nó được đặt trên chiếc khăn trắng nằm cạnh hồ bơi, khăn của trung tâm thể dục, cùng với cái bình nước nhỏ màu xanh loại có gắn ống hút.

Đó là lần đầu tiên tôi nhìn thấy nó, trong lúc ngồi chờ xem có ai đó “get out” khỏi hồ bơi, để tôi…nhào vô. “Racquet & Health Club” là trung tâm thể dục rất lớn, tọa lạc tại một vùng gần ngọai ô thành phố Yuba, xung quanh có nhiều cây maple (cây thích) và những khóm hoa dạ lý. Trung tâm có đầy đủ các lọai dụng cụ thể dục, nhiều sân Tenis, phòng tắm hơi, tắm nắng, bốn hồ bơi và hồ “Spa” đấm bóp nước nóng, nước lạnh, trong nhà và cả ngoài trời. Mỗi hồ bơi được chia ra bốn làn đôi có ngăn dây nổi, mỗi làn cũng được chia hai bằng một vạch sơn đen dưới đáy hồ, đủ chỗ cho hai người bơi chung. “Nếu anh chị thấy trong làn chỉ có một người bơi, thì anh hoặc chị có thể vào bơi “share” với họ,” người quản lý đã nói trong ngày đầu chúng tôi đến ghi danh. Tuy đã gần cuối mùa hè và trời cũng chớm sang thu, nhưng khí hậu vẫn còn oi bức, có ngày nhiệt độ đến trên chín chục nên hồ bơi là chỗ hấp dẫn nhiều người, đôi khi không đủ chỗ.

Bơi lội là sở thích của tôi vì tôi đã sống và lớn lên ở thành phố biển Nha Trang từ thời “tuổi ngọc.” Cho đến bây giờ, mỗi lần nhào xuống biển hay hồ bơi là tôi như “cá gặp nước,” vùng vẫy lung tung, phải được một mình một cõi bơi tự do, bơi ào ào thì mới “đã,” chứ bơi chung với ai đó cứ phải từ từ, len lén sợ nước văng làm phiền thiên hạ tôi thà là… ở nhà sướng hơn. Hơn nữa, sau mấy tháng tập trung vào kiểu bơi sải vận động toàn thân, cái lưng đau của tôi đã được điều chỉnh rất nhiều nên tôi cố gắng “lôi” ông xã đến trung tâm hầu như mỗi ngày. Khi nào hồ bơi đông người, tôi ngồi trên dãy bờ tường thấp ngăn giữa hồ bơi và hồ nước nóng “Spa” chờ có người ra trống chỗ để tôi vào bơi một mình cho thoải mái. Nhờ vậy mà tôi mới có dịp nhìn thấy chiếc nanh heo.

Ngày xưa trong thời kỳ chiến tranh, tôi đã từng nghe nói có nhiều người qua tận bên Miên để tìm mua nanh heo rừng về đeo. Trừ những tay anh chị giang hồ đeo nanh heo rừng để “làm oai,” phần lớn người ta tin tưởng đeo nó sẽ mang lại may mắn và nhất là giúp cho sự an toàn, bảo vệ tính mạng tránh khỏi “tên bay đạn lạc.”

Tôi còn nhớ khi tôi còn nhỏ, ở xã tôi có một người làm nghề pháp sư tên Kỵ, thường được người ta rước đi chữa bệnh tà, cúng đất, cúng cầu an cho gia đạo. Một lần ông ấy đến cúng đất cho người hàng xóm gần nhà tôi, ông có đeo chiếc nanh heo trên cổ. Tôi và đám con nít xúm lại coi và sợ hãi tản đi khi thấy ông làm phù phép, dùng sơn đủ màu vẽ những “ông tướng” mặt mày dữ tợn rồi đem “trấn” ở bốn góc rào nhà ông hàng xóm. Từ đó mỗi lần đi học ngan qua chỗ mấy ông tướng ngồi, nếu không có ai đi cùng thì tôi nhắm mắt chạy thục mạng, cố vượt qua khỏi chỗ “các ngài” càng nhanh càng tốt.

Buổi tối hôm đó sau khi xong lễ, mọi người đến ăn cỗ xúm lại ngồi quanh đàm đạo cùng ông thầy. Bọn con nít chúng tôi cũng lao nhao trong nhà bếp rập rình hóng chuyện. Ông thầy Kỵ đã rất tự hào về chiếc nanh heo rừng mà ông cho là linh thiêng, đem lại “quyền lực” và “đạn bắn không trúng” của ông. Ông ta nói đó là chiếc nanh “Heo Rừng Rủ” rất quí hiếm, độc nhất vô nhị, vì nó là nanh của “heo rừng thành tinh” và rụng tự nhiên mà người thầy Miên của ông đã “yểm bùa” vào trước khi tặng ông, chứ không phải được lấy từ heo rừng săn bắn. Ông còn kháo rằng nó đã cứu ông thoát chết nhiều lần, đạn bắn vào ông không trúng, cà nông nổ gần kề cũng “chả ăn thua.”

Có phải thật sự chiếc nanh heo rừng đã “phò trì” cho ông ta hay chăng thì không ai dám chắc, nhưng người ta thấy ông ấy sống an nhàn tự tại hành nghề “phù thủy” và sau 75 vẫn ung dung làm thầy cúng cho đến hết đời mà không một lần bị bắt bớ, dù cũng có nghe chính quyền mới nhiều lần đến “bố ráp” ông. Người ta đồn rằng “ông heo rừng” thành tinh đã che mắt “mấy ổng” để cứu ông thầy.

Không ngờ bây giờ ở Mỹ mà cũng có người đeo nanh heo rừng. Tôi thích thú nghĩ thầm rồi tẩn mẩn quan sát xem ai là chủ nhân của nó. Dưới hồ ngay chỗ để chiếc nanh heo, một tay bơi có mái tóc ngắn bạc trắng muối tiêu đang sải tay vun vút, lặn hụp nhịp nhàng làm nước văng tung tóe sang cả những làn bơi bên cạnh. Tôi căng mắt ra nhìn, cố đoán xem đó là nam hay nữ, nhưng không thể. Người ấy bơi liên tục không nghỉ tay, bơi giáp đến bên này là hụp ngay xuống để trở đầu, đạp tống vào thành hồ, vút một cái đã thấy cách bờ hồ xa lắc, y hệt một tay bơi Olympic. Quan sát một hồi, tôi cũng chỉ có thể thấy loáng thoáng được cái đầu tóc muối tiêu, hai cánh tay áo ngắn màu nâu nâu đỏ, đôi kiến lội (goggle) đen ngòm ngòm, và đôi chân nhái xanh màu mực vung vẩy giữa đám bọt nước trắng xóa.

Bỗng bên góc trái có một bà trèo lên khỏi hồ. Tôi vội vàng đứng dậy, bước lại chỗ vòi nước lọc, uống vài ngụm rồi phóng ùm xuống hồ và bắt đầu bơi. Thường thì tôi bơi tính đủ mười “lap” tức là bơi qua lại hai chục vòng, sau đó ôm miếng xốp bơi nhẹ bằng chân, thư giãn trong vòng mười lăm phút nữa rồi qua hồ nước nóng “Spa” để cho nó “đấm lưng.” Nhưng hôm ấy dù cố gắng cách nào tôi cũng không thể tập trung đếm “lap” được vì mắt tôi cứ mãi dán vào cái làn bơi “nanh heo” ở cuối hồ. Người ta nói “đàn bà là chúa tò mò” quả không sai. Thật là kỳ cục. Không dưng tôi lại quan tâm, muốn biết mặt chủ nhân của chiếc nanh heo để làm gì nhỉ. Tôi cố gắng đến hụt hơi, bơi theo cùng chiều với “người bên ấy” nhưng không tài nào bắt kịp, chỉ qua được nửa đường thì người ta đã “lộn mèo” trở lại, liên tục không dừng lấy một lần. Tôi thầm phục cho sự dẻo dai của tay bơi.

“Ngược xuôi tơi tả,” hết bơi lại rồi lại bơi qua, cho đến khi tôi đuổi kịp về nơi bắt đầu thì cũng là lúc người đó ngừng bơi, đứng lên chống hai tay thót ngược ngồi vắt vẻo trên bờ hồ. Thì ra đó là một “lão bá bá.” Ông ta gỡ cặp kiến lội ra, chộp lấy chai nước nút lấy nút để như một đứa bé bú bình. Tôi cũng dừng lại, vừa thở vừa làm động tác lội bộ vừa nhìn sang chỗ ông ta.

Người này trông chưa già lắm, nhưng có lẽ cũng đã quá sáu mươi, mặc quần sọt hoa nâu màu lính, và cái mà tôi tưởng là “tay áo” lại là những hình xâm dày đặc trên hai cánh tay, từ vai chạy dài xuống đến khuỷu tay. Dáng người gọn gàng, khuôn mặt xương xương, chóp mũi nho nhỏ đỏ hoe vì lạnh, mắt sâu, hàm râu quai nón được gọt tỉa kỹ càng nhưng đã mọc ra lún phún làm khuôn mặt ông trông xanh kìn kịn và “ngầu” như tài tử cạo gội Al Pacino.

Uống nước xong, ông ta chống hai tay lên bờ hồ thở dốc, làm như đã nhịn thở trong thời gian bơi liên tục vừa qua. Quần tắm hoa rừng, râu quai nón, tay chân mình mẩy đầy lông, những hình xâm rậm rạp, tất cả những thứ ấy gộp lại làm cho ông ta nhìn giống hệt một “bác” King Kong đang ngồi thư giãn trên cành cây sau một hồi “quần nhau” với đồng lọai.

Được một lát, người đó rút đôi chân nhái bỏ sang bên cạnh, nhặt sợi dây chuyền nanh heo lên, tay kia lấy khăn lau tóc lau mặt xong thì đeo nó vào cổ. Bất chợt ông ta cầm lấy chiếc nanh heo đưa lên môi hôn một cái rất là trang trọng, giống như người ta hôn cây thánh giá, rồi đứng lên vơ vội chiếc khăn và mọi thứ, bước nhanh qua phía hồ nước nóng “Spa.” Tôi sững sờ nhìn theo. Chiếc nanh heo rừng chắc chắn có một ý nghĩa nào đó rất quan trọng đối với người này. Tôi bèn đặt tên cho ông ta là “người nanh heo,” và bắt đầu theo dõi ông từ hôm ấy.

Tôi thấy ông ta hầu như mỗi ngày ở hồ bơi, lúc nào ông cũng đến vào khoảng 12 giờ trưa, lập lại những động tác quen thuộc, cởi bỏ sợi dây chuyền trên chiếc khăn, xuống bơi một hơi, lên bờ, đeo nó vào và đi qua hồ nước nóng. Điều làm tôi ngạc nhiên là ông ta liên tục chạy qua chạy lại giữa hai hồ nước nóng và nước lạnh. Nước nóng thì quá nóng, còn hồ nước lạnh thì lạnh như đá, thế mà ông ta có vẻ như không thấy lạnh chút nào, nhúng xuống hồ “Spa” một lát thì trèo lên chạy sang hồ nước lạnh và ngược lại.

Tôi có nghe người ta nói, ngâm mình vào hồ nước nóng sau đó nhúng sang hồ nước lạnh sẽ làm cho sức khỏe dẻo dai, da thịt săn chắc, nhưng chưa một lần dám thử. Nhìn ông ta, tôi chợt liên tưởng đến miếng sắt người thợ rèn ở làng tôi ngày xưa trui vào lửa cho đến đỏ lòe rồi đem nhúng vào nước kêu cái xèo và lập đi lập lại cho đến khi miếng sắt thật sự cứng đủ làm ra cái rựa. Hình như nhờ vậy mà ông ta trông khỏe mạnh rắn chắc và nhanh nhẹn so với những người cùng độ tuổi ông mà tôi thường gặp, mập mạp phốp pháp, ngực lép bụng phình, đi đứng rủng rỉnh rung rinh, lờ đờ chậm chạp.

Ông ta nào biết đã bị tôi quan sát kỹ như một thám tử đang theo dõi người bị tình nghi. Rất may nhà tôi không thích ra hồ bơi mà chỉ chăm lo rèn luyện mấy cái bắp thịt của ông ấy bằng cách kéo máy và chạy bộ trên Treadmill chứ nếu không có lẽ ổng cũng “question” về cái vụ tôi cứ “mắt la mày lét” nhìn theo ông Mỹ đó. Nhiều lần tôi muốn lại bắt chuyện làm quen để hỏi về cái nanh heo, nhưng mỗi lần tôi gật đầu chào thì ông ta chỉ gật đầu chào lại, mặt mày lạnh tanh, khó đăm đăm như người “bị bón,” nên tôi cũng ngán. 

Dịp may đến với tôi một tuần sau đó, khi trung tâm tổ chức cuộc thi Tennis thường niên có ăn tối và hòa nhạc. Chúng tôi mua hai vé để sau khi tập thể dục xong sẽ ở lại chung vui, vì cụ chàng nhà tôi cũng có “máu Tennis” đầy người. Đến quá trưa thì một dàn nhạc “dã chiến” được sắp xếp, chuẩn bị ở bãi đậu xe cạnh dãy sân Tennis. Tất cả các sân Tennis và lối đi đều được xịt sơn xanh, màu xanh của mạ giống như sân cỏ thật, nhìn rất mát mắt. Các cây dù lớn màu sắc sặc sỡ được dựng lên rải rác khắp nơi cùng với bàn ghế bày ra bên dưới, và mấy lò nướng “Barbecue” bự chảng nằm ngạo nghễ chênh vênh ở một góc sân đang bắt đầu ngùn ngụt nhả khói, những làn khói thơm lừng mùi thịt nướng hấp dẫn người ta, làm cho ai hít vào cũng phải… chảy nước miếng.

Khi chúng tôi ở hồ bơi ra thì khán giả đã ngồi kín hết các nơi có bóng mát bên ngoài sân Tennis, kể cả trên hai dãy ban công của trung tâm. Vì không còn chỗ trống, chúng tôi phải ra ngoài bãi đậu xe và chọn cái bàn dưới gốc một cây maple cho dễ nhìn vào sân Tennis và cũng khỏi mất công dời đi khi họ phục vụ bữa ăn chiều sau trận đấu.

Chúng tôi thích thú ngồi xem nhiều trận đấu “ác liệt” giữa các đội nhà với nhau, những tay vợt “cây nhà lá vườn” nhưng chơi cũng hùng dũng chẳng kém gì anh em song sinh nhà Mike Bryan và Bob của Mỹ. Các đội nữ chơi cũng đẹp mắt vô cùng. “Xem mấy trận đấu thật là đáng đồng tiền bát gạo!” Ông nhà tôi thích quá nói đùa.

Đến gần chiều, khi các trận đấu vừa kết thúc thì nhạc bắt đầu trổi lên, vui nhộn, rộn ràng, làm cho ai có máu “dancing” cũng phải bước đi nhún nhẩy. Khán giả bây giờ đã trở thành thực khách, ra chọn bàn ngồi và bắt đầu đi lấy thức ăn. Mọi người sắp hàng, thi nhau “gắp kẹp” vào đĩa của mình. Ngoài các món đặc sản của “chú Sam” như thịt nướng “Barbecue,” bơ, phó mát, các lọai rau trộn và trái cây, bữa tối còn hấp dẫn thực khách bằng nhiều món đậu và bánh bắp của người Mễ. Tôi cũng đi chọn mấy món và đem trở lại bàn mình, vừa ngồi xuống thì có một người tay bưng đĩa thức ăn đầy vun, tay bưng ly nước “Brunch” cao nghều bước lại:

– Xin lỗi, tôi có thể ngồi đây không?

Tôi nhìn lên bỗng thấy lòng mừng khôn tả. Người đó là “ông nanh heo.” Tôi từng theo dõi, “săn lùng” ông ta cả tuần nay chờ cơ hội để làm quen, không ngờ bây giờ tự dưng đến đây…nộp mạng! Và điều làm cho tôi “vui hết biết” là ông ta mặc chiếc áo nhà binh loại áo vét sát cánh, quần sọt kaki, và đội chiếc mũ lưỡi trai có hàng chữ “Vietnam Veteran.” Chiếc nanh heo vẫn tòng teng trước ngực. Thì ra ông là một cựu chiến binh Việt Nam! Thảo nào. Bây giờ thì tôi đã có giải đáp cho xuất xứ của chiếc nanh heo ông đang mang trên cổ. Thích thật.

– Ồ, xin ông cứ tự nhiên. Tôi “hồ hởi” nói với ông khi nhà tôi cũng vừa đem thức ăn lại.

Ông ta nói cám ơn rồi ngồi xuống. Cái đĩa của ông đầy thật là đầy, nhưng ngoài mấy miếng thịt nướng ra, còn lại toàn là các loại rau đầy màu sắc, xà lách xanh, cà nút đỏ, ớt bell vàng, nấm trắng, hột ô liu đen, những mảnh bánh mì sấy… và bên trên là một lớp “Dressing” màu sữa đục được tưới ngoằn ngoèo khéo léo nhìn thật bắt mắt. Tay này quả là biết cách ăn uống “healthy,” tôi thầm nghĩ.

Trong tiếng nhạc vui rộn rã, tôi vừa ăn vừa ngầm quan sát người khách cùng bàn. Ông ta dùng nỉa trộn tất cả lại và bắt đầu nhai ngồm ngoàm, cắm cúi ăn không cần nhìn ai, ăn mạnh mẽ như “tằm ăn lên,” chỉ thỉnh thoảng dừng lại uống vài ngụm nước và dùng khăn giấy thấm vào bộ ria mép. Đúng là ăn như…lính ăn! Sau một tiếng đồng hồ bơi liên tục như vậy chắc ông ta đã đói lắm. Ông ăn một hơi cho đến khi sạch đĩa. Nhìn cái đĩa trống trơn của ông ta, tôi chợt nhớ có lần cô bạn Jilly đã nói, người Mỹ họ không thích phung phí thức ăn, dù là đi ăn “Bufett” họ cũng chỉ ăn bao nhiêu thì lấy bấy nhiêu và ăn cho hết chứ không bao giờ lấy thật nhiều để rồi nửa ăn nửa bỏ. Tôi bỗng cảm thấy xấu hổ khi nhớ lại những lần đi ăn “bao bụng” vì “đói con mắt” nên thấy thứ gì cũng muốn thử, lấy cho nhiều rồi “nuốt không vô” đã phải đem vất bỏ. Lần này thì tôi nhất định phải ăn cho hết những gì có trong đĩa của mình.

Ăn xong, ông ta dừng lại lau miệng, đem vất đĩa muổng vào thùng rác, đi lấy một đĩa bánh kem tráng miệng, và trở lại bàn cùng với ly nước trái cây. Nhiều người vẫn còn tiếp tục lấy thêm thức ăn nhưng chúng tôi đã xong và dọn dẹp, trên bàn bây giờ chỉ còn lại mấy ly nước. Ban nhạc chuyển sang chơi một khúc êm dịu. Sau bữa ăn trong buổi chiều hè, ngồi dưới bóng những tàn cây maple, nhâm nhi món nước trái cây hỗn hợp giữa âm thanh của bản hòa tấu êm dịu, thật làm mát lòng người. Bấy giờ thì ông nanh heo” mới nhìn sang chúng tôi:

– Anh chị là “Chinese” hả?

Trời đất. Không biết ông ta “trông gà hóa cuốc” thế nào mà nghĩ chúng tôi là người Hoa nhỉ.

– Không, chúng tôi là người Việt Nam. Nhà tôi trả lời.

Ông ta kêu lên:

– “Really!” -Vậy sao, thế mà bữa giờ thấy chị này hoài nhưng tôi cứ tưởng chị là người Hoa.

Vậy ra ông tưởng tôi người Tàu nên đã “làm mặt lạnh” với tôi sao. Tại sao vậy nhỉ. Tôi cười, chỉ vào chiếc mũ của ông:

– Ông là cựu chiến binh Việt Nam? Chiếc mũ của ông đã nói lên điều đó.

Ông ta gật đầu xác nhận và nói: “Mỗi lần tôi đội chiếc mũ này ra phố, nhiều thanh thiếu niên đã đến chào tôi và nói “cám ơn ông đã phục vụ cho nước Mỹ,” nên tôi thích đội nó.” Trao đổi thêm vài chuyện bâng quơ, ông hỏi chúng tôi có biết chỗ nào bán những loại cây thuốc “herb plant,” dược thảo thì chỉ dùm. Ông cho biết là không thích dùng các loại thuốc Tây “supplement” vì nó có nhiều phản ứng phụ. “Thuốc dược thảo bất quá cũng chỉ là cây lá thiên nhiên, uống vào như mình ăn rau trái, nếu không lợi thì cũng chẳng hại gì,” ông nói.

Tôi thật ngạc nhiên. Không ngờ một người Mỹ lại cũng thích dùng dược thảo như người Á Châu. Tôi ghi cho ông địa chỉ và tên hiệu thuốc Bắc của một người Việt gốc Hoa mà tôi quen ở Sacramento, nói với ông ở đó họ có thầy xem mạch và hốt thuốc chữa bệnh nếu ông cần. Ông tỏ vẻ rất mừng, cám ơn rối rít và tự giới thiệu ông tên Devin.

Trong khi chuyện trò, tôi để ý mấy hình xâm bên cánh tay trái của ông Devin. Giữa những hình lập thể kỳ dị là một hình trái tim màu xanh đậm, và chính giữa là chữ “Tho” màu đỏ được viết rất kiểu cách, phải để ý kỹ mới đọc được. Sau khi tôi nói tên tôi và tên của ông xã, Devin hỏi:

– Anh chị ở vùng nào bên Việt Nam?

– Miền Trung. Nhà tôi nói.

Ông cười thật rạng rỡ:

– Ồ, vậy ra là anh chị ở “Hue” ư? Ngày xưa tôi đã từng làm việc ở Huế từ năm 67 đến 68 đó.

Nhà tôi chưa kịp trả lời thì tôi đã gật đầu để cho qua chuyện, không đính chính, lòng thầm “tính kế” để lái câu chuyện sang chiếc nanh heo rừng mà tôi đã một lần thấy ông trang trọng hôn lên nó, và cái tên “Tho” rất Việt Nam xâm trên cánh tay ông cũng gợi sự tò mò của tôi. 

Thấy tôi gật đầu, mắt ông ta sáng lên, ông nhìn chúng tôi với một vẻ thân thiện lạ kỳ:

– Vậy thì khi sự kiện “TET 68,” trận chiến Tết Mậu Thân xảy ra anh chị có ở Huế không? Ông ta hỏi chưa hết câu thì giọng chùng xuống nghe buồn não ruột.

Tết Mậu thân ư. Có người dân miền Nam Việt Nam nào mà quên được cái “Tết Con Khỉ” đẫm máu, thây phơi chật đất, máu chảy đầy…chùa chiền, đền miếu, nhà thờ, cái Tết mà tiếng pháo mừng Xuân hòa lẫn vào tiếng súng đánh nhau vang rền khắp nơi ấy nhỉ. Tôi lắc đầu:

– Không. Khi ấy chúng tôi đang ở Nha Trang.

Rồi để rời khỏi sự hồi tưởng quá khứ đớn đau trong một buổi chiều vui đẹp và an bình như thế này, tôi bèn lảng sang chuyện khác. Tôi chỉ vào sợi dây chuyền trên cổ ông và hỏi:

– Đây là chiếc nanh heo rừng phải không? Đẹp quá! Ngày xưa bên Việt Nam nhiều người bạn của tôi cũng có mang những chiếc nanh heo như thế này. Ông làm sao có được nó vậy?

– Đúng rồi. Nó là chiếc nanh heo rừng do người vợ Việt Nam của tôi tặng. Nàng ở Huế, tên “Tho,” ông chỉ vào chữ Tho trong hình xâm trên cánh tay: – Nghĩa là “Poem” đó. Nói xong, ông sờ vào chiếc nanh heo, tay mân mê, mắt nhìn xa xăm, vẻ mặt thẩn thờ như đang hồi tưởng về quá khứ.

– Ồ! Tôi kêu lên đầy thú vị. – Vậy ra bà nhà là người Việt Nam sao? Wow! Ông còn hiểu cả nghĩa tên của bà nữa. Đúng rồi! “Tho” nghĩa là “Poem” đó! Tôi lập lại và hỏi: – Ông có thể nào kể chúng tôi nghe về chuyện tình của hai người không? Bà tặng ông chiếc nanh heo này trong trường hợp nào? Bà đến Mỹ cùng lúc với ông hả? Tôi hỏi một hơi không kịp thở. Nhà tôi trợn mắt:

– Cái bà này! Hỏi gì mà tía lia vậy, làm sao ông ấy trả lời kịp chứ!

Dường như ông Devin bắt đầu có cảm tình với chúng tôi và cảm thấy gần gũi khi biết chúng tôi là “đồng hương” của người vợ Việt Nam của ông. Vẻ lạnh lùng trên gương mặt ông bây giờ đã biến mất, cái vẻ lạnh lùng khép kín mà tôi thường bắt gặp mỗi khi nói chuyện với những cựu chiến binh Việt Nam khác. Nếu không quen thân thì mỗi khi có ai hỏi về việc ngày xưa chiến đấu bên Việt Nam họ thường trả lời, “Tôi không muốn nhắc lại.” Có lẽ đã lâu rồi Devin chưa hề có dịp để tâm sự với một ai về Việt Nam.

Nghe tôi hỏi, ông lắc đầu buồn bã:

– “I wish!” Tôi ước gì được như thế! Tho, “Ton Nu Thuy Tho” (chẳng biết là Thụy hay Thùy…?) không phải vợ tôi bây giờ, mà là người vợ trong quá khứ của tôi. Chiếc nanh heo rừng này nàng đã tặng tôi khi chúng tôi vừa mới yêu nhau.

Lòng bồi hồi, tôi ngồi gần như nín thở, đợi ông Devin kể tiếp, làm như thở mạnh sẽ khiến cho tan loãng đi những gì ông ấy sắp nói ra. Trầm ngâm một lúc, rồi có lẽ vì sự xúc động bất ngờ khi gặp lại những đồng hương của người vợ cũ, hoặc vì tác động bỡi bầu không khí êm đềm của buổi chiều hè, ông Devin bằng một giọng trầm trầm bắt đầu kể chúng tôi nghe về chuyện tình của ông và Thơ cô gái Huế, cùng xuất xứ của chiếc nanh heo rừng đã theo ông bốn mươi mấy năm qua…

Năm 1967, chàng trai trẻ Devin được điều sang Việt Nam, chức vụ thiếu úy, là cố vấn quân sự cho quân

đội Việt Nam Cộng Hòa, làm việc ở Huế. Qua giao dịch giấy tờ, Devin được anh bạn Trung úy người Việt Nam giới thiệu làm quen với cô gái xinh đẹp tên Thơ, là người bà con của Tam, khi anh đến Việt Nam được hơn bốn tháng. Thơ là thông dịch viên văn phòng, chuyên dịch văn kiện giấy tờ cho một căn cứ quân sự Mỹ thuộc tỉnh Thừa Thiên.

Chuyện tình của hai người gặp phải rất nhiều sóng gió. Thơ là con gái của một gia đình quyền quí, có họ hàng với vua chúa ngày xưa. Khi biết chuyện hai người yêu nhau, gia đình nàng kịch liệt phản đối, nhất quyết ngăn cấm. Đã từ lâu, từ thời Pháp thuộc, người dân Huế luôn bảo thủ, gìn giữ nề nếp cổ truyền, không muốn con cái lấy vợ lấy chồng ngọai quốc. “Người Huế không thích người ngoại quốc hiện diện trên quê hương họ, Nhật, Pháp, Mỹ gì cũng thế. Cho đến khi sự kiện Tết 68 xảy ra, họ mới hiểu họ cần sự bảo vệ của chúng tôi, và rất đông người đã chạy ùa vào căn cứ Mạc-Vi (MACV Advisory) để nhờ giúp đỡ,” ông Devin nói.

Thơ đã bị cha đánh đập, mẹ rầy la, dòng họ mắng nhiếc, làng xóm xầm xì, vì có người yêu là một anh chàng “mũi lõ.” Nhưng tình yêu của Thơ đối với Devin đã vượt qua cả sự ngăn cấm của gia đình. Điều này thì tôi biết, vì cô bạn thân người Huế của tôi ngày xưa từng nói “Con gái Huế nổi tiếng là lãng mạn và đa tình, khi đã yêu ai thì yêu hết mình, chết cũng không sợ.” Thơ và Devin không dám đi cùng với nhau ra ngoài, họ thường hẹn hò ở những quán bar hay căng tin trong căn cứ quân sự. Hầu hết là do Tam giúp sắp xếp.

Những khi Devin đi công tác, Thơ ở nhà thấp thỏm không yên, nàng vô cùng lo lắng cho sự an nguy của anh. Một lần Thơ tặng cho người yêu sợi dây chuyền có chiếc nanh heo rừng. Đây là món quà từ người bạn học ở Tây Nguyên tặng Thơ, vì tin rằng nó sẽ giúp nàng may mắn, tránh khỏi hiểm nguy trong thời chiến. Chiếc nanh heo thật lớn mà Thơ là con gái không thể đeo nên đã đem cất kỹ. Và khi có người yêu thì nàng tặng cho Devin, mong nó sẽ đem lại an tòan cho anh.

Cuối cùng, hai người phải nhờ đến Trung úy Tam cầu cứu với cấp trên của anh, nhờ họ cùng nhau đến nhà thuyết phục cha mẹ Thơ. Và gia đình nàng đã đồng ý trong miễn cưỡng cho hai người lấy nhau. Vì vậy “đám cưới nhà binh” của họ diễn ra thật đơn giản, một ngày trước lễ Giáng Sinh năm 1967.

Khác với gia đình Thơ, cha mẹ Devin khi biết tin anh có người yêu và thấy được hình của cô gái Việt nam xinh đẹp, họ rất vui mừng. Họ gửi quà mừng cho cặp vợ chồng mới và thúc giục anh lo sẵn giấy tờ để khi anh hết nhiệm vụ trở về Mỹ thì phải đem Thơ đi cùng. Hai người đã sống với nhau rất hạnh phúc. Thơ thường nấu cho chồng những món đặc sản xứ Huế, tập Devin ăn thức ăn Việt Nam. Ông Devin nói “món ruột” của Tho mà ông rất thích là “Bun Bo Hue.” Cho đến bây giờ, mỗi khi có dịp đến những vùng có nhà hàng Việt Nam, thế nào ông cũng đi ăn bún bò Huế cho bằng được.

“Đến Tết Monkey, chưa đầy ba tháng sau khi chúng tôi đám cưới.” Ông Devin nhớ lại. “Hai ngày trước Tết, Thơ nói với tôi cô ấy về quê để cùng ăn Tết với gia đình, bốn ngày sau sẽ trở lại thành phố. Tối ba mươi Tết, tôi ở trong căn cứ Mạc-Vi một mình cũng buồn nên rủ hai thằng bạn, Mike và Jack, bày ra nhậu cho vui. Ba đứa tôi thức rất khuya, vừa ăn uống vừa tán chuyện vừa nghe tiếng pháo mừng giao thừa của dân địa phương nổ râm rang ngoài thành phố. Khoảng hơn ba giờ sáng, thình lình căn cứ của chúng tôi bị tấn công, bắt đầu là một lọat pháo kích nổ ầm ầm ngoài cổng căn cứ, rung rinh cả tòa nhà. Tôi và hai thằng bạn vội vã trang bị súng ống, đội mũ sắt vào rồi ra ngoài để xem xét tình hình.”

Nói đến đây ông Devin bỗng dừng lại, bàn tay ông run run, nét mặt căng thẳng.

Trời đã về chiều, vài cơn gió thổi qua lay động hàng cây maple. Những chiếc lá khô vội vã lìa cành bay là đà xuống đất, nằm rải rác trên sân Tennis và các lối đi, điểm những vệt nâu hình năm cánh trên nền sơn xanh, giống như những bàn tay vấy đất của đứa bé nghịch ngợm in dấu vào một bức tranh đồng cỏ. Tự nhiên tôi cảm thấy ngột ngạt, cồn cào dù bầu không khí lúc này đã phần nào dịu mát. Tôi bần thần, người toát mồ hôi, những lời kể của ông Kavin gợi nhớ đêm giao thừa năm xưa. Hình ảnh cái đêm giao thừa Mậu Thân khủng khiếp ấy bỗng ào ạt hiện về.

Những ngày trước Tết 68, người ta nghe nói đã có lệnh “ngừng bắn để cho dân ăn Tết” giữa hai bên, vậy mà sau đó người dân miền Nam lại phải ăn Tết trong cảnh máu lửa kinh hoàng. Ba giờ sáng mồng một Tết tôi và một người bạn từ Nha Trang ngồi xích lô ra bến xe miền Trung để về quê ăn Tết. Trên đường đi chúng tôi thấy xác pháo ngập đường Độc Lập, tiếng pháo vẫn còn “Tạch! Tạch! Đùng! Đùng!” và tiếng súng lớn mà chúng tôi cứ tưởng là pháo đại cũng “Ầm! Ầm!” khắp mọi nơi. Chúng tôi nào biết thành phố đã bị tấn công, nên cứ mãi trầm trồ là chưa có năm nào tiếng pháo giao thừa lại nổ rầm rộ và kéo dài đến gần sáng như năm này. Từ đường Độc Lập chạy xuống hướng chợ Đầm, dưới ánh đèn đường thỉnh thoảng có những vật hay đống gì đó đen đen nằm lù lù dọc theo hè phố. Khi ra đến đường Phan Bội Châu thì trời đã sáng dần, và chúng tôi hoảng hốt nhận ra những đống đen đó là những xác người bị bắn chết bỏ nằm rải rác trên lề đường. Ra đến bến xe thì gặp phải đánh nhau, súng nổ bốn phương tám hướng, cuối cùng chúng tôi phải hối xe chạy bán sống bán chết để quay về.

Tuy sự chết chóc ở thành phố Nha Trang trong sự kiện Mậu Thân chưa đến nỗi khủng khiếp kinh hoàng như những gì nhà văn Nhã Ca đã đối diện ở Huế khoản thời gian đó và tường thuật trong quyển hồi ký “Giải Khăn Sô Cho Huế” của bà, nhưng nó cũng đã làm cho tôi gặp ác mộng hằng đêm sau ngày ấy. Thật là kinh khủng.

“Anh chị biết không?” Ông Devin lên tiếng sau phút im lặng. “Vì còn thức nên chúng tôi là những người ra ngoài sớm nhất trong khi các phòng khác còn đang mặc trang phục và la hét nhốn nháo trong phòng. Chúng tôi cùng nhau bước về hướng bên trái, là nơi có những lô cốt chống đạn xây bằng bao cát, để chuẩn bị phòng thủ. Trời lúc này vẫn còn tối và lạnh. Đi được mấy bước, thình lình tôi thấy một người con gái mặc áo dài tím xuất hiện ngay trước mắt tôi. Cô ta đưa tay ra chận lại và hét lên: “Stop!” Đừng đi! Rồi cô biến mất. Nhìn quanh nhìn quất cũng không thấy cô ta đâu, tôi giật mình chụp lấy tay thằng bạn Mike. “Cô ta là ai thế?” Tôi hỏi nó. Thằng bạn tôi ngơ ngác, rồi phì cười: “Mày nói cái gì vậy Devin? Cô nào? Mới có mấy tiếng rốc kết mà mày đã hoảng loạn như thế rồi sao?”

Ông Devin nói người bạn tên Jack cũng cười nhạo ông, dù ông quả quyết đã chính mắt nhìn thấy rõ ràng cô gái đó dưới ánh đèn lờ mờ của căn cứ. Tuy chưa bao giờ tin là có ma, nhưng cô ta biến mất một cách nhanh chóng như thế cũng làm Devin cảm thấy rờn rợn, dựng tóc gáy. Và ông bỗng rùng mình trong đêm tối khi bước theo hai người bạn. Hiện tượng kỳ lạ đã làm cho ông phân tâm, quên đi sự lo lắng về mấy quả pháo kích.

“Chúng tôi tiếp tục bước,” Ông Devin kể tiếp, “khi đến gần một chiếc xe Jeep đang đậu thì cô gái áo dài tím lại hiện ra. Tôi dụi mắt thật mạnh để biết là mình không mơ ngủ. Lần này thì tôi thấy cô gái đang bay lơ lửng, vạt áo dài tím phất phơ bên trên đôi chân cụt lủn máu chảy ròng ròng, hai tay cô vung vẩy trước mặt tôi, và cô gào lên thảm thiết: “Đứng lại! Đừng đi!”

Devin bỗng lắc đầu thật mạnh, như xua đi những hình ảnh thảm thương mà ông vừa nhớ lại. Ông bưng ly nước lên hớp một ngụm rồi đặt chiếc ly xuống bàn, cố gắng nuốt một cách khó nhọc như người đang mắc nghẹn:

“Tôi hoảng quá, biết là mình đã gặp ma thật rồi. Không kịp suy nghĩ, tôi vội vàng chụp tay hai thằng bạn lôi ngược lại, vừa lúc tiếng đạn rốc kết bay xé gió rít lên trên không “Hú…ú…ú…ú…” và chúng tôi chỉ kịp nhào xuống phía sau chiếc Jeep thì “Boooom!” một tiếng nổ long trời lở đất vang lên ở gần bên, tôi bị hất tung lên rồi bắn ra xa, và không còn biết gì nữa.”

– Trời! Tôi và nhà tôi cùng kêu lên thảng thốt. -Rồi bạn ông và ông có bị thương không? Tôi vội vàng hỏi.

“Jack bị thương rất nặng, sém chút nữa thì nó đã đi chầu trời, thằng Mike thì gãy chân và một cánh tay. Tụi nó được trạm y tế dã chiến trong căn cứ tận tình cứu chữa và cầm cự đến hơn hai mươi ngày mới được đưa đi bệnh viện. Riêng tôi bị ngất xỉu một ngày đêm, nhưng như một phép lạ, tôi chỉ bị thương ở những phần mềm, vì tôi văng trúng cái thùng container bằng giấy cát tông và mấy cái bao cát.”

“Oh my God!” -Trời ơi! Như vậy là cô “Ma” đó đã cứu các ông rồi! Tôi kêu lên trong sự ngưỡng mộ, ma người Việt mà cũng có lòng nhân, đã giúp cứu mạng mấy người lính Mỹ. Thật là kỳ diệu.

Ông Devin đột nhiên ngồi sững, hai tay ôm lấy đầu nhìn vào khoảng không trước mặt, mắt lộ vẻ đau đớn cùng cực. Được một lúc, ông bỏ tay ra và nói nho nhỏ, gần như là thì thầm với chính ông:

“Cô ấy là Thơ, vợ tôi. Nàng đã bị giết trong đêm giao thừa, buổi tối trước lúc chúng tôi bị tấn công.”

Tôi tròn mắt, không thể tin được những gì mình vừa nghe:

– Trời đất! Nhưng làm sao mà ông biết được chính xác như thế chứ?

Ông Devin thở dài:

“Mãi đến gần một tháng sau, đúng hơn là hai mươi tám ngày sau, sau khi quân đội Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa lấy lại được toàn bộ thành phố Huế, tôi mới liên lạc được với gia đình Thơ. Họ cho tôi biết, hôm tối ba mươi, chiếc xe lam chở vợ tôi và hai người bạn của cô ấy cùng nhiều người khác nữa, trên đường đi chùa về thì bị trúng một quả đạn súng cối, mọi người trên xe đều chết hết.” Và ông bỗng nấc lên: “Tối hôm đó Thơ cũng mặc chiếc áo dài màu tím và mảnh đạn đã cắt mất đôi chân của nàng…”

– Tôi thật xin lỗi. Tôi nói, nước mắt tôi ứa ra. – Linh hồn cô ấy quả linh thiêng, đã hiện về để cứu ông và mấy người bạn. Chắc bây giờ cô ấy đang ở trên thiên đàng, xin ông cũng đừng buồn.

Ông Devin ngồi thẫn thờ, hình như không nghe những lời tôi nói. Ông lại lần nữa mân mê chiếc nanh heo rừng trên cổ. Có lẽ ông đang hồi tưởng lại thời kỳ yêu đương nồng thắm với Thơ, thời kỳ yêu đương cách nay đã hơn bốn thập niên, nhưng nó vẫn còn sôi sục trong lòng người cựu chiến binh cho đến tận bây giờ. Không biết chiếc nanh heo này có thật sự linh nghiệm hay chăng, nhưng tôi tin chắc một điều, là nó đã được hòa quyện tình yêu bất diệt của cô gái Huế, và tình yêu ấy đã cứu mạng ông Devin.

Ba người chúng tôi cùng ngồi bất động thật lâu cho đến khi trời xẩm tối. Đèn đường đã bật sáng, ban nhạc đã ngừng chơi tự lúc nào, thực khách lục tục đứng dậy ra về, và người ta bắt đầu xếp dù, thu dọn bàn ghế.

Khi vợ chồng tôi và ông Devin đứng lên thì mọi người cũng đã về gần hết. Chúng tôi băng qua khu vực bãi đậu, ra ngoài đường để lấy xe. Hàng cây maple vô tư phe phẩy xạc xào trước ngọn gió đêm mát rượi, bầu trời hè buổi tối trong xanh, rải rác những vì sao lấp lánh, và thoang thoảng đâu đây trong không khí mùi hương hoa dạ lý ngọt ngào. Một buổi tối thật yên bình, nhưng tôi biết trong lòng người cựu chiến binh Devin đang dậy sóng. Tôi thở dài, nhìn ông cúi đầu lầm lũi bước đi.

Phương Hoa

CÁI NANH HEO RỪNG (Xuân Vũ)

Kính tặng Anh Chị Tư và Sơn Nam
Lời mở đầu tóm tắt của tác giả: 
(Trích bản thảo truyện lịch sử
 “Giọt Máu Bốn Đời” của Xuân Vũ

Cách đây một năm rưỡi, anh Hứa Hoành có đưa tới nhà tôi hai ông già, ông thứ nhứt là Tướng NHAN MINH TRANG, cựu Tỉnh Trưởng Rạch Giá, người thứ hai là cựu Đại Tá LÂM QUANG PHÒNG, nguyên Tổng Giám Đốc Thanh Niên thời Đệ Nhứt Cộng Hòa. Ông Lâm Quang Phòng vừa bước vào nhà sau anh Trang với nét mặt ngạc nhiên nhưng trên môi lại hé một nụ cười. Tôi ngờ ngợ nhìn anh, như có quen mà không biết quen hồi nào. Thì anh Hứa Hoành hỏi: “Bộ anh (tức Xuân Vũ) không nhận ra ông này sao?” Tôi không lắc mà cũng không gật, vì thâm tâm tôi có nhận là “biết” nhưng không nhớ hẳn.

… Thì ra là anh Lâm Quang Phòng, Chỉ Huy Trưởng của tôi thời tôi làm phóng viên cho tờ báo Quân Khu IX “Tiếng Súng Kháng Địch” còn anh thì làm Trung Đoàn Trưởng, lừng lẫy với danh hiệu “Con Hùm Xám Miền Tây”(tức vùng 11 tỉnh Hậu Giang) trong thời kỳ đánh Pháp. Tôi vốn yêu bộ đội. Còn anh thấy tôi trắng trẻo có vẻ học trò, nên xin với anh Rum – Bảo Việt (tức là Rừng U Minh – viết tắt là RUM) cho tôi đi với anh theo đơn vị tác chiến. Anh Rum cho đi ngay để có những bài phóng sự nóng hổi cho tờ báo. Tôi là bạn học của con trai lớn của ông NGUYỄN VĂN TRẤN, Chánh ủy Quân Khu lúc bấy giờ. Thằng này cũng bỏ trường đi kháng chiến, và cũng ham đi oánh Tây như tôi. Cho nên thấy tôi được đi với Con Hùm Xám thì nó phân bì với bố. Ông Trấn mới hay cái việc anh Rum cho tôi theo “Hùm”, ông bảo anh Rum: “Mầy cho nó đi, rủi “có bề gì” làm sao?” Anh Rum nói: “Nó không chịu ở tòa soạn anh Bảy à!” (ông Trấn thứ Bảy), ổng bảo: “Còn hai thằng Anh Tài và Huy Hà đó, dẫu có đòi, mầy cũng không được cho đi!” Tôi đã sống theo “Hùm” rồi, không bắt nhốt lại được.

Cái thời tôi đi theo anh Lâm Quang Phòng đó, cách đây không lâu lắm, mới có 49 năm thôi. Trí nhớ của tôi đã mòn đi ít nhiều.

…. Trong buổi gặp lại bất ngờ đó, anh (Lâm Quang Phòng) nay đã 84 tuổi, nhắc sơ qua những trận đánh xe tăng ở Giang Thành, những trận ở Phú Quốc, trận đánh Tây ở Kinh Xáng chân núi Trầu với sự hưởng ứng của “ông Cha” (linh mục) Huân, đã làm cho anh nổi danh là Con Hùm Xám miền Tây.

Ngồi với tôi anh nhắc lại những chuyện xưa làm tôi mơ màng như sống trong mộng, những chuyện của chính mình mà tưởng chuyện của ai.

Hôm nay, ông Nguyễn Văn Trấn và anh Rum – Bảo Việt đã qua đời, anh Lâm Quang Phòng còn tại thế với tiếng nói sang sảng như chuông đồng, như tiếng thét xung phong của anh vang lại từ ký vãng xa xôi.

Tôi ghi lại đây một câu chuyện nhỏ của anh – ghi ra cho tôi trong 10 tape recorders mà anh tặng cho tôi với lời dặn “Không được nói cho ai”. Anh dặn như thế vì đời anh là một quyển tiểu thuyết ly kỳ tôi chưa hề thấy ở một cá nhân nào: Khởi đầu là học sinh trường Taberd, kế đó là lấy súng Nhựt đánh Tây, thành lập bộ đội Vệ Quốc Đoàn như Phan Văn Phải, Đồng Văn Cống, Nhàn Râu và những “Hùm Xám” khác, như con Hùm Xám vùng Yên Thế, khắp đất nước trong cuộc kháng chiến chống xăm lăng kéo dài một thế kỷ, nhưng tính anh kín đáo và khiêm tốn anh không muốn nói ra những đóng góp của anh vào cuộc kháng chiến của dân tộc.

Anh Lâm Quang Phòng, con thứ tư của một vị Cai Tổng, từng đi học ở Hà Nội, tứng đánh lộn và học võ Tây, võ Tàu, võ Nhựt, võ Miên, từng được Delatour, Tổng Chỉ Huy Đông Dương phong chức (nhưng anh không nhận), từng chỉ huy Trung Đoàn Vệ Quốc Đoàn, từng được mời giữ trọng trách 2 trung đoàn (Liên Trung Đoàn 124 – 126) của miền Hậu Giang (cũng không nhận) được giao cho nhiều trọng trách khác trong kháng chiến nhưng anh cũng không nhận. Từng được Phan Trọng Tuệ mời mọc v.v… và… cũng không nhận và rồi… từng bị Cộng Sản lên án tử hình và cũng đã từng được Hồ Chí Minh hạ lệnh giảm án và sống đến ngày nay và… v.v…

Một con người mang một trời tâm sự, một pho tiểu thuyết trong lòng nhưng không chịu nói gì hết nhưng nói cho ai nghe ở cái xứ xa lạ này, may mà tôi được nghe. Tôi không thể để ngòi bút tôi nằm im được nữa, tôi phải cố gắng viết ra giấy quyển tiểu thuyết ly kỳ này – gồm có hàng trăm nhân vật nhưChiến Tranh Và Hòa Bình của Tolstoi vậy. Một gia đình Tolstoi toàn công hầu bá tước (Baron – Famille de Noblesse đã được Tolstoi “mượn” để làm nhân vật cho tiểu thuyết của ông).

Ai dám bảo rằng địa chủ, trí thức, tư sản không yêu nước? Ai dám bảo Công Giáo, Phật Giáo, Hòa Hảo, Cao Đài và những tôn giáo khác không yêu nước? Chỉ có Cộng Sản, chỉ có Cộng Sản mới biết yêu nước thôi hay sao? Chỉ có Cộng Sản mới biết chống Pháp giành độc lập thôi sao? Nếu chỉ vậy thì Pháp chưa thua sau Điện Biên Phủ đâu cụ Hồ ạ! Cụ đừng có nhầm.

Cái nhầm cố ý của cụ là cái nhầm quốc tế hóa nước Việt Nam. Cụ chết rồi nhưng cái nhầm đó còn di xú muôn đời. Phải chi cụ chết hồi năm 51 hoặc 54 thì có thể cụ được tôn vinh là anh hùng dân tộc – để bây giờ cụ không phải nằm phơi rốn ở Ba Đình mà nghe dân nguyền rủa hằng ngày là tên phản đồ của dân tộc và để đọc nhũng trang ca ngợi cụ Sào Nam Phan Bội Châu, cụ Phan Châu Trinh, cụ Hoàng Hoa Thám, cụ Thủ Khoa Huân, cụ Nguyễn Trung Trực, cụ Nguyễn Hải Thần.

Tinh thần dân tộc sẽ xóa bỏ được chủ nghĩa Mác ngu xuẩn chớ cái chủ nghĩa này không bao giờ dập tắt nổi Ngọn Lửa Dân Tộc. Bằng chứng là Liên Xô sụp đổ nhưng dân tộc Nga vĩ đại vẫn trường tồn. Bức tường Bá Linh bị san bằng nhưng dân tộc Đức đã hợp nhứt. Xít-ta-lin thắng Hít-le là vì Hồng Quân được võ trang bằng tinh thần dân tộc “L’ Esprit de la Grande Russie” chớ có phải bằng tinh thần Mác-xít đâu! Bà Lady Barbara đã dẫn giải sự việc này trong tác phẩm vĩ đại vô tiền khoáng hậu của làng văn của bà là“Socialisme et Nationalisme” xuất bản năm 1950 ở Canada nghĩa là 50 năm trước khi Liên Xô đổ sụp! Lạ lùng thay một bộ óc đàn bà.

Lâm Quang Phòng là nhân vật chính của thời đại 1945-1954 và là nhân vật của một thời đại mà tinh thần dân tộc là kẻ chiến thắng vinh quang nhứt và là kẻ chiến thắng sau cùng! Le dernier et le gloríeux vainqueur!

Viết đến đây tôi run tay quá chị Bích à, không phải vì giá rét mùa đông ngoại quốc mà vì xúc động nặng nề và Nguyễn Du ngồi dậy trong lòng tôi mãnh liệt.

“Lửa tâm càng dập càng nồng”.

Câu thơ còn lại khi thế gian bị hủy diệt. Tôi cũng mượn trang báo của chị để xin lỗi anh Tư Lâm Quang Phòng (và chị Tư, người đàn bà xứng đáng là con Bà Trưng, cháu Bà Triệu) vì đã không làm tròn lời dặn của anh chị nên đã viết lên báo những dòng này.

Chỉ một mẩu chuyện con con trong đời cậu bé “Taberdien” thôi anh Tư ạ. Còn các phần khác thì sẽ tiếp tục trong “Giọt Máu Bốn Đời’. Cuộc đời thứ nhứt là cuộc đời của nhà chí sĩ tuẫn tiết LÂM QUANG KỴ- chịu chết thay cho anh hùng Nguyễn Trung Trực ở Rạch Giá (hiện có bài vị thờ chung với Nguyễn Trung Trực ở Tà Niên), cuộc đời thứ tư là LÂM QUANG PHÒNG cháu gọi cụ Lâm Quang Kỵ bằng ông cố nội.

o O o

Sáng nay Tư Nghĩnh đi rừng bằng một chiếc xuồng Cui. Binh khí mang theo gồm có giáo, mác, lao, chĩa… Ngoài ra còn có một bầy chó. Theo thứ tự cuộc “hành quân”, trước nhứt phải kể: con chó Đuổi và con Theo. Như tên cúa chúng nói lên, Đuổi và Theo có nghĩa là truy tầm ráo riết, bám sát địch và báo về cấp chỉ huy như trong một cuộc hành quân “lùng và diệt” vậy. Đã xuất quân là nuôi ý chí quyết thắng, nhưng chiến trường không phải là vườn mơ, còn săn bắt không phải là đi dạo.

Chuyến đi này Tư Nghĩnh nhằm diệt gọn hốt nhanh và về lẹ nên chỉ đem theo một lực lượng vừa đủ. Anh để cho thằng Hai, con trai anh bơi lái và chỉ huy con Đuổi con Theo, còn anh bơi mũi và chỉ huy con Giật, con Kềm.

Vô tới ngọn rạch Nhà Ngang anh bảo thằng Hai cho con Theo con Đuổi đổ bộ. Anh cầm giáo bước lên trong lúc thằng Hai ngồi lại dưới xuồng giữ con Giật và con Kềm chờ lệnh anh. Như hai mũi tên vừa bay ra khỏi dây cung cặp trinh sát Đuổi – Theo bay vào trận địa đầy bí mật ở phía trước. Anh dựng cây giáo cán dài hai thước rưỡi vào gốc tràm và móc thuốc rê quấn hút để khỏi sốt ruột. Anh chờ cặp “trinh sát” báo cáo về, có khi cũng phải chờ như chờ đợi người yêu – mười phút bằng thế kỷ – nhưng kỳ này, vừa bập mấy hơi thuốc thì đã nghe “tín hiệu gâu gâu” vọng lại. Chúng đã chạm địch rồi. Anh Tư ném điếu thuốc, chụp lấy cán giáo và quay lại ra lệnh cho thằng con:

– Thả Giật và Kềm ra! – Rồi len lỏi qua lùm bụi lội về phía đang dội lên tiếng của Đuổi và Theo. (Kể từ dòng này, xin gọi Đuổi, Theo, Giật, Kềm như nhũng nhân vật).

Giật và Kềm vọt qua mặt anh và biến mất. Cũng như tên của Đuổi và Theo, Giật và Kềm cũng có nhiệm vụ như tên của chúng. Giật có nghĩa là giật ngược lại, không cho đối tượng chạy tới, còn Kềm là khống chế, cầm chân không để cho nó dễ dàng xoay trở hoặc phản công. Nếu xem Đuổi và Theo là bộ phận tiền sát thì Giật và Kềm là Tả Quân, Hữu Quân của một chiến trận vậy. Tất cả các cánh bủa vây địch, làm cho nó mất sức, rối ren để chờ vị “Tư Lệnh” đến giải quyết tình thế, nhanh hay chậm, đổ máu ít hay nhiều là do tài ba của ông ta.

Nghe tiếng “gâu gâu” lơi lơi ít đượm mùi máu, Tư Nghĩnh đoán đây chỉ là một đối tượng xoàng, không cần phải nhọc sức cho lắm. Nhưng khi đến bãi chiến thì khác hẳn với dự kiến của anh ta. Tất cả Đuổi, Theo, Giật, Kềm đang phủ kín một con heo ước chừng trên một tạ và đang cố lôi nó ra khỏi bụi rậm. Theo lệ thường khi Giật và Kềm đến tiếp nhận đối tượng thì Đuổi và Theo đã hoàn thành nhiệm vụ, chúng có thể đứng bên ngoài xem đồng đội chiến đấu mà “vỗ tay” như xem hát và đánh tín hiệu về cho Tư Lệnh. Nhưng lần này đụng phải một đối tượng ngổ ngáo nên Đuổi lẫn Theo phải lăn xả vào trợ lực cho Giật và Kềm, nên không rỗi mồm để đánh tín hiệu khẩn cấp.

Theo ngoạm ngập một bên nọng, Đuổi đeo dính bên hông trong lúc Giật và Kềm chia nhau trọn phía sườn bên kia, cắn xé, gầm rú hồng hộc làm cho con heo quật qua né lại túi bụi nhừ nát lùm cây mà nó đang đứng như một chiếc khiên khổng lồ để che thân.

Tư Nghĩnh đã hờm sẵn ngọn giáo trong tay. Con mồi trong tầm giáo đâm, nhưng mục tiêu cứ quay vun vút nên anh cứ đi loanh quanh, lui tới, mà không dám đâm, sợ trúng bồ nhà.

Còn con heo bị bốn bộ răng thép càng ngày càng siết chặt. Có lẽ nó biết không thể chạy thoát ra được, nên chỉ tìm cách tứ thủ.

Trong rừng này chỗ nào cũng nhẩm dấu heo ăn bầy hay ăn lẻ, nhưng dù ăn bầy hay ăn lẻ chúng cũng không bao giờ tiếp cứu nhau trong lức nguy nan. Đã vậy lại còn thầm mong cho đồng loại sụp hầm để có cơ hội mở rộng cái vương quốc rừng của mình, cho nên cách tốt nhứt của nó là tự vệ bằng cách vùi địch xuống đất, để thu hẹp mục tiêu tấn công của kẻ thù.

Đất U Minh được cấu tạo bằng những lớp lá mục chồng chất lên nhau và làm phù sa mới bồi, nên chân đất không chắc như nhiều nơi khác ở đồng bằng sông Cửu Long (ngoài ra nó còn có những vùng phập phều gọi là trấp) vì thế con heo đã vùi được một phần thân mình vào trong đất rồi chồm trên hai chân trước và dùng cái mõm dài xọc như vũ khí độc nhứt để đánh trả, nhưng bị địch thủ bám riết nên không phản công được mà chỉ tự vệ và tìm cách trốn thoát.

Thằng Hai cầm cây “lao phụng”[1] trong tay chờ lệnh của ba nó. Bỗng nó la lên:

– Con heo này chỉ có một cái nanh ba à!

– Biết rồi! Heo độc chiếc!… Mầy lùi ra! – Tư Nghĩnh quát.

Heo độc chiếc là heo đi một mình, một thứ hung ác nhứt loài heo. Hơn nữa chỉ còn có một cái nanh. Thi sự hung ác của nó phải gấp bội!

Trong rừng heo chỉ đánh nhau với cọp và cọp chỉ sợ heo. Chúa sơn lâm mặc dầu có bộ vuốt sắc cũng phải kiêng cặp nanh heo. – Con quỉ này đã từng chiến đấu với cọp! Tư Nghĩnh nghĩ.

Trông kia cái mõm nó càng dài ra và để lộ cả răng lẫn nanh.

Nước dãi nó đặc lại đóng hai bên mép như bọt oáp [2] còn trong mắt nó thì rực lên hai ngọn lửa như muốn thiêu sống Tư Nghĩnh.

– Làm sao ba? – Thằng bé con hỏi với giọng không giấu được nỗi lo âu.

Tư Nghĩnh không đáp. Thằng Hai ra một kế hoạch chi tiết:

– Phóng cho nó mũi lao phụng rồi để nó chạy ra khỏi cái hố, rồi cho chó rượt, nghen ba!

Thấy bố vẫn không đáp, nó không dám hỏi nữa nhưng cũng không lùi ra xa hơn, mà chỉ chờ. Nó tin tưởng tuyệt đối ở ba nó. Quả thật vậy, Tư Nghĩnh chưa bao giờ đi rừng mà về xuồng không, cũng chưa bao giờ hứa “bắt thịt” cho ai mà sai hẹn. Ở vùng này nhà nào có đám tiệc thì gia chủ thường đến “đặt thịt” nơi anh – mà phải loại “thịt lớn” như heo, nai cơ, còn thịt nhỏ như trăn, chồn, trút thì tay ngang cũng bắt được, đâu cần phải nhọc công Tư Nghĩnh.

Thấy con heo vùi đít càng ngày càng sâu xuống, Tư Nghĩnh quát:

– Kềm, qua bên này!

Kềm đang đeo bên kia, nghe lệnh chủ, phóng vòng cầu qua bụi rậm ngoạm má trái con heo. Như vậy cái má phải đã bỏ trống. Được giải tỏa nhẹ nhàng, không bỏ lỡ cơ hội, nhanh như chớp heo ta hất tới. Tư Nghĩnh đưa mũi giáo hứng. Cái nọng heo dính vào. Con heo không la mà cứ sấn tới. Tư Nghĩnh đạp cán giáo xuống đất. Nếu gặp một chỗ đất thường thi anh chỉ cần giữ cán giáo ở đó, chờ mũi giáo chạm tim con mồi sẽ ngã quỵ. Nhưng đất lại lún không kềm cán giáo được. Còn con heo bị đau điên tiết nên liều chết rấn tới từng tí một, càng lúc càng gần địch thủ. Trong lúc cán giáo lút xuống đất thì lưỡi giáo đã ngập sâu hơn, nhưng nó vẫn chưa gục. Có lẽ vì cái thân to tướng của nó và vì đất lún hay vì lẽ gì khác mà mũi giáo chưa thọc vào tim nên nó vẫn còn chồm trên hai chân trước. Tuy mồm nó kêu yếu đi nhưng ngọn lửa trong mắt nó vẫn rực lên và chiếc nanh của nó đã kề bên bắp chân Tư Nghĩnh. Anh phải bước lùi lại và ngoặt tay ra sau. Thằng Hai ấn cán lao phụng vào (lúc nãy anh hơi chủ quan, nghĩ không cần đến món bửu bối này). Anh nắm lấy cán dao, chưa kịp đâm thì con Kềm đã bỏ mục tiêu, phóng tới vừa lấy thân nó chắn ngang rồi vừa ngoạm luôn mép con heo, vừa rướn thân lên, hai chân sau chòi đạp tung cả mặt đất, đẩy lùi cái đầu heo ra xa bắp chân của chủ nó. Đó cũng là lúc mũi lao của Tư Nghĩnh đâm lút vào nách con heo rồi anh nhổ tung cán giáo lên, một tay cầm cán giáo một tay nắm cán lao, hét lên như hổ gầm:

– Đuổi, Theo, Giật lôi nó qua!

Ba chàng ngự lâm bốn chân vốn biết nghe lệnh chủ, đồng loạt lôi con heo về một phía.

Ngọn giáo và mũi lao trong tay Tư Nghĩnh như cặp sừng bò mộng húc đổ núi. Cái tảng thịt nặng nề không còn chống chế nữa, từ từ lật qua bên kia xa hẳn Tư Nghĩnh. Kềm cũng bật theo, bụng nó ngửa ra, chân nó chòi lia trong không khí nhưng răng nó vẫn ngoạm cứng.

Một tiếng “è… è…” hắt ra như một tiếng nhạc quái dị cáo chung đời con ác thú… Hai cha con Tư Nghĩnh mổ thịt móc bộ đồ lòng heo đãi “tướng sĩ” ngay tại trận khi xác giặc còn tươi rói. Tư Nghĩnh xắt lá gan ra làm bốn miếng và để trái tim còn thoi thóp trên lòng bàn tay, bảo thằng Hai:

– Con coi nè, mũi giáo đâm toạc tim cho nên nó chết không kịp la.

Thằng Hai đã qua phút kinh hoàng, lấy lại hồn nói:

– Lần trước ba cũng bị một con nái già đánh trầy chân, nhưng ba phải kêu lên, con Kềm mới cắn họng con nái lôi ra, còn lần này, vừa thấy cái nanh kề sát chân ba thì nó đã bổ nhào tới, không đợi ba kêu.

– Ờ.. ờ, nếu không có nó… thì…

– Nhưng mà cái bắp chân của ba đã chảy máu kia rồi!

Tư Nghĩnh nhìn xuống, quả có một đường sướt da. Anh thản nhiên lấy tay quệt qua và bảo:

– Tại nhánh củi xốc chớ không phải tại nanh heo, con à! – Rồi anh xẻ cái tim heo ra. Nhưng anh rất đổi ngạc nhiên, trong khi các cậu kia đã ních hết, lại còn liếm mép đòi thêm thì Kềm lại nằm im. Miếng gan kề trước miệng mà nó không buồn ngó tới.

Anh bảo thằng Hai: “Đâu mầy coi nó có sao không?”

Thằng bé đến ngồi xuống ôm Kềm xem xét khắp mình rồi banh miệng nó ra và la lên:

– Ba ơi, ba! Cái nanh heo ghim trong đốc vọng của nó.

Tư Nghĩnh chạy tới thì thấy y như lời thằng nhỏ. Anh hốt hoảng. Đây là lần đầu tiên anh thấy con chó bị hóc cái nanh heo rừng. Nhưng không phải hóc mà cái nanh cắn lút vô hàm nó. Trời đất quỉ thần ơi!… Tư Nghĩnh kêu lên còn thằng Hai ra bộ như muốn giải thích cho ba nó cái trường hợp lạ lùng như vậy.

– Lúc nãy nó giang chân đẩy lui còn con heo thì hồng hộc ủi tới cho nên cái nanh mới gãy tốt như vậy, ba à!

Thằng bé vạch mõm con heo và nói gọn:

– Gãy sát gốc ba à! – Rồi thằng bé cầm lấy một miếng tim, nhứ nhứ trước mắt con Kềm bảo: -Ăn đi Kềm! Sao mầy cứ nằm im hoài vậy? Ăn đi… sẽ hết đau!

Nói xong nó xốc Kềm lên vai vác ra bến.

Đuổi, Theo, Giật lặng lẽ đi sau. Tư Nghĩnh đứng nhìn, rưng rưng, lẩm bẩm, lắp bắp:

– Con Kềm… thật! Nếu không có nó..

Kềm nằm lim dim trên vai tiểu chủ như bay lâng lâng giữa hương cây. Cho tới lúc này nó mới cảm thấy trọn vẹn niềm đau do một vết thương mang tới. Bỗng nghe chủ nhắc tới tên, Kềm mở mắt ra.

Chập chờn trước mắt cái gương mặt dịu hiền gợi lên trong trí nó cả những chuyện lâu lơ tưởng đã quên, nhưng hôm nay bừng dậy rõ rệt, như nét vẽ, lẫn âm thanh. Lần đó nó đau, chủ nó vỗ về: “Mầy đau tao cũng muốn đau theo mầy nữa đó nghe Kềm!” Bữa nay cái vùng đất lún đã tạo lợi thế cho sự hung ác của con heo độc chiếc. Trông thấy cái nanh heo trắng nhởn sắp chạm tới chủ, nó cũng đau, đau như chính nó đau. Lấy mắt ngó sao đành? Trả ơn cho chủ có nhiều cách nhưng không nên bằng cách ngó. Nó muốn nói, nhưng chuyện lại khó nói. vả lại nó không biết nói. Mà dù nó biết nói, chắc gì nó chịu nói! Vì nói ra không bằng không nói. Nó đinh ninh sớm muộn gì rồi chủ sẽ hiểu bụng nó. Vạn nhất, chủ có không hiểu, thì cũng không sao, không sao cả! Đã có một người hiểu nó. Chỉ một người cũng đủ.

Tư Nghĩnh đã hạ được một địch thủ hung ác nhưng anh không mấy thích thú. Giá đừng có chuyến săn này. Anh không buồn ngó lại bãi chiến nát nhừ nơi nằm phơi cái xác nhầy nhụa máu tươi, trống phộc không còn tim gan.

Tư Nghĩnh vụt ném giáo lẫn lao đuổi theo thằng nhỏ. Thấy Kềm mở mắt dau dáu, Tư Nghĩnh bước sải tới đưa tay xoa đầu nó và thầm thì:

– Mầy đau lắm hả con?

Kềm nhắm mắt lại như để tận hưởng sự an ủi của những ngón tay sần sùi chai cứng vì luôn cầm nắm cán lao cán giáo hoặc tuốt vỏ tràm. Không biết chúng có cảm giác gì khi vuốt làn lông mịn màng của nó.

Tư Nghĩnh bỗng vọt tới bảo:

– Đưa cho tao!…. rồi nâng nhẹ đưa Kềm lên vai mình, vác thẳng xuống xuồng, đặt nó nằm trước mũi, lấy mảnh bao bố kê đầu nó nghếch cao lên rồi ngồi bên cạnh, vốc nước rưới lên tấm lưng đẫm mồ hôi, muối đầy bùn đất và lốm đốm máu của Kềm.

… Trên đường về, Kềm nằm khoanh trong lòng chú. Nó vùi trong cơn đau đã bắt đầu thấm. Thỉnh thoảng Tư Nghĩnh quay lại giục thằng bé bơi nhanh rồi rù rì với Kềm. Nó mơ màng cảm thấy những ngón tay quào nhẹ như gió lướt trên lưng nó. Qua tiếng nước reo triền miên ở mạn xuồng, nó mơ hồ nghe lại giọng nói thân thiết ngày nào, tưởng đã quên.

Đang bơi, bỗng Tư Nghĩnh nghe nóng hổi như bị một cục than nhỏ chạm ở bắp chân. Anh nhìn xuống vết trầy: máu đã khô. Giọt nước mắt của Kềm vừa rơi trên đó. Nó khóc. Kềm khóc thật, giọt nước mắt của một loài vật trung tín nhứt các loài.

Anh đưa tay quẹt ngang, vội vã. Rồi quay lại quát khẽ:

– Nhanh lên con!

Thằng Hai đè Giật nằm bẹp xuống và rướn cổ qua Đuổi, Theo, hỏi:

– Con Kềm có sao không ba?

– Đã bảo nhanh lên, đừng hỏi nữa! – Tư Nghĩnh quát trong sự nghẹn ngào, tay bơi lia lịa, không biết Kềm đang ngóc cổ lên. Nó từ từ mở mắt ra nhìn chủ mà thấy cả trời lấp lánh qua vòm lá xanh đan bít trên cao.

Bất giác Tư Nghĩnh gác dầm và gục đầu xuống với những tiếng không thốt ra, chỉ Kềm nghe được bằng đôi tai thính như lá rừng.

Chú thích:

[1] Một loại dao có ba phần: 1) Mũi bằng sắt có ngạnh, thân bọng. 2) Cắm một cái cán bằng gỗ dài chừng hai thước rưỡi. 3) Một sợ dây thừng thật chắc dài chừng một thước, nối liền mũi và cán. Khi phóng ra, mũi sẽ lút vào thịt con mồi. Con mồi chạy mũi tên sẽ dính trong đó bằng cái ngạnh trong khi mũi sút ra khỏi cán. Con mồi vẫn chạy nhưng cái cán vướng vào cây cỏ ở hai bên đường nên không thể chạy nhanh được.

[2] Một loại côn trùng ban đêm thường tiết ra trên cành cây một loại nước như bọt xà phỏng.

xuanvu_sign

(Lê Thy đánh máy lại từ tập “TRUYỆN 12 CON GIÁP” của Xuân Tước và Xuân Vũ)

Đốt Nanh Heo Rừng Xem Có Cản Lửa Như Lời Đồn

Image result for Chiếc Nanh Heo Rừng

Bạn nhận xét xem người nấu là dân miền Trung hay miền Nam ?



Niềm Vui Nhỏ‎ to Salut Saigon & Salut Les CopainsVisual Storyteller · May 10 at 9:26 AM

Hình : Kiều Hạnh

Dễ trả lời quá mà :
Người nấu ăn tên Nguyễn Trang Kiều Hạnh

Bi H Pham Miền Nam, miền Trung ít ăn cá trê, cá đồng, canh khổ qua dồn thịt.

Tung Thanh Sắp xếp cầu kỳ và trang nhã lên bàn, hai người ba chén, chén thứ ba để bỏ xương thì phải là người Trung.

Còn nữa :

Canh mướp đắng nấu với tôm.
http://sotaynauan.com/canh-muop-dang-nau-tom-ngot-mat-ngay/

Cá trê chấm nước mắm gừng ( thiếu dưa môn ).

https://cookpad.com/…/c%C3%A1%20tr%C3%AA%20chi%C3%AAn…

Thịt heo luộc với dưa giá tôm chua ( có thể thay tôm chua bằng nước mắm ớt )

https://cookpad.com/vn/tim-kiem/th%E1%BB%8Bt%20lu%E1%BB%99c

Đây là bữa cơm Huế.

TraMy Nguyen Người nam cũng thích tôm chua mà, miền tây đó.
Là người nam đó ,nhìn đồ ăn là đoán ra mà

Tiffany Chung, người nghệ sỹ đưa tiếng nói tị nạn Việt vào lịch sử chiến tranh

Tiffany Chung, người nghệ sỹ đưa tiếng nói tị nạn Việt vào lịch sử chiến tranh

Một bức tranh màu nước về người tị nạn chiến tranh Việt Nam tại triển lãm “Tiffany Chung: Vietnam, Past is Prologue” (Quá khứ là sự khởi đầu) ở bảo tàng Nghệ thuật Mỹ Smithsonian.
“Chiến tranh Việt Nam đã được lý giải chính thức từ phía Việt Nam, trong đó không có tiếng nói của người miền Nam. Người Mỹ cũng lý giải tương tự về cuộc chiến ấy, vẫn không có câu chuyện của người miền Nam.” Tiffany Chung chia sẻ về nỗ lực giới thiệu góc nhìn về người tị nạn Việt, vốn ít khi được nhắc tới trong lịch sử cuộc chiến Việt Nam.Là một nghệ sỹ đương đại Mỹ gốc Việt và bản thân là người tị nạn, Tiffany nghiên cứu trong nhiều năm về di sản cuộc chiến cùng những hậu quả để lại, thông qua các di vật, như bản đồ, video và các bức tranh nêu bật tiếng nói và những câu chuyện của những người từng là tị nạn.

“Một số người chọn viết sách để nói về cuộc chiến. Đối với tôi tiếng nói của những người miền Nam Việt Nam về chiến tranh sẽ không phải là cái gì mang tính hư cấu hay vật chất,” Tiffany nói trước cuộc triển lãm đầu tiên của cô tại Bảo Tàng Nghệ Thuật Hoa Kỳ Smithsonian (Smithsonian American Art Museum), Washington D.C. “Do đó tôi chọn cách làm tư liệu trực tiếp – để họ trực tiếp kể câu chuyện của bản thân họ.”Nhưng đó không phải là điều dễ dàng.“Tôi đã mất đến hơn 40 năm để có thể đối mặt với cuộc chiến tranh ở Việt Nam và lịch sử cá nhân, bao gồm cả thân phụ tôi, và cả tôi,” Tiffany nói.

Hành trình của bố
Cách đây 16 năm, Tiffany bắt đầu về thăm Việt Nam, tìm hiểu câu chuyện bố cô bị bắt làm tù binh chiến tranh và câu chuyện của mẹ cô chờ đợi trong vô vọng cho sự trở về của chồng mình, nơi gần vĩ tuyến 17.Nhưng chỉ đến khi tình cờ thấy một tấm ảnh của bố, Chung Tử Bửu, trong trang phục phi công trước một chiếc trực thăng tại Lộc Ninh năm 1970, cô mới quyết định quay trở lại Việt Nam để tìm hiểu những “chiến trường trên không”, nơi thân phụ từng tham chiến. Những chiến trường này cùng các chiến dịch mà thân phụ cô từng tham gia, trong đó có chiến dịch Lam Sơn 719, và những sự kiện lịch sử khác của chiến tranh Việt Nam, được Tiffany đưa vào một biểu đồ minh họa bằng hình ảnh và chú thích trưng bày tại Bảo Tàng Nghệ Thuật Hoa Kỳ Smithsonian.

 “Những di vật ấy khiến tôi thực sự đào sâu vào để bắt đầu những gì tôi làm về chiến tranh Việt Nam hôm nay,” Tiffany nói. Qua những tìm hiểu về bố mình, cô biết được nhiều điều về chiến tranh Việt Nam, về Cuộc hành quân Hạ Lào, nơi bố cô tham chiến, và Mùa hè Đỏ lửa 1972.Trực thăng ông Chung Tử Bửu bị bắn hạ; và ông bị quân miền Bắc bắt ở Lào trong chiến dịch Lam Sơn 719, 1971. Ông bị giam trong tù đến năm 1985, và 5 năm sau khi được trả tự do, cả gia đình đến Mỹ. Tiffany, sinh ra ở Đà Nẵng khi cuộc chiến đang ở cao trào năm 1969, cho biết gia đình cô cũng đã nhiều lần tìm cách vượt biên và bản thân cô từng bị giam trong tù trước khi đến được Mỹ.“Cuộc chinh phục cá nhân tôi đã mở đường đến những ký ức tổng hợp của người miền Nam Việt Nam về cuộc chiến đã để lại ảnh hưởng lớn đến cuộc sống nhiều người.”Ai cũng có lý do tham gia cuộc chiến. Việt Nam đã có lý giải của họ nhưng tôi quan tâm tới câu chuyện của những người thua cuộc… Trẻ con lớn lên trong trường chỉ được dạy về góc nhìn của chính phủ Việt Nam, còn góc nhìn của người miền Nam Việt Nam thì bị xóa bỏ hoàn toàn.Tiffany Chung, nghệ sỹ đượng đại và cựu tị nạn chiến tranh Việt NamTrước khi dựng nên các tác phẩm nghệ thuật về chiến tranh Việt Nam, Tiffany từng có các tác phẩm nghệ thuật về cuộc khủng hoảng tị nạn Syria. Việc tìm hiểu những câu chuyện người tị nạn Syria đã giúp Tiffany vượt qua được “chính bản thân để đối diện với chính mình và nói về câu chuyện của mình.” Cô thấy có sự tương đồng của hai cuộc khủng hoảng tị nạn Việt Nam và Syria – đều là nội chiến và có rất nhiều người tị nạn. “Đó là vì sao tôi trở lại (để đối diện chính mình).”Lịch sử bỏ quên Nói về chiến tranh Việt Nam thì phải nói về người Việt Nam ở cả hai miền Nam và Bắc, theo Tiffany, người từng có thời gian trở về Việt Nam tham gia thành lập “Sàn Art,” một diễn đàn nghệ thuật cho nghệ sỹ trẻ trong nước.“Ai cũng có lý do tham gia cuộc chiến. Việt Nam đã có lý giải của họ nhưng tôi quan tâm tới câu chuyện của những người thua cuộc. Mình thua trận, thua cuộc chiến. Trẻ con lớn lên trong trường chỉ được dạy về góc nhìn của chính phủ Việt Nam, còn góc nhìn của người miền Nam Việt Nam thì bị xóa bỏ hoàn toàn.”Theo cô, lịch sử người Việt tị nạn bị xóa sạch trong lịch sử chính thống của Việt Nam.

Để những câu chuyện của người miền Nam được biết đến, Tiffany phỏng vấn hàng chục người tị nạn Việt tại Mỹ và chọn 21 cuộc phỏng vấn qua video, trong đó có thân phụ cô, để trưng bày tại viện bảo tàng Smithsonian trong triển lãm có tên “Quá khứ là sự khởi đầu” (Tiffany Chung: Vietnam, Past is Prologue), mở cửa cho công chúng từ ngày 15/3 đến 22/9 năm nay.Tiffany gọi đây là nỗ lực “dù chưa hoàn chỉnh để nói lên được một khía cạnh nào đó về chiến tranh Việt Nam.”“Bao nhiêu người tị nạn trải qua những kinh nghiệm giống nhau. Nỗ lực của mình là nhằm nói lên một phần của (chiến tranh) Việt Nam, vốn đã không được đưa vào lịch sử chính thống (của Việt Nam) cũng như không được người Mỹ quan tâm đến nhiều.”Tác phẩm trưng bày tại triển lãm này còn có những bức tranh màu nước được vẽ dựa trên những bức ảnh mà cô tìm được trong quá trình nghiên cứu về di dân Việt Nam sau chiến tranh tại kho lưu trữ của Cao ủy tị nạn Liên hợp quốc (UNHCR) tại Geneva, Thụy Sĩ.

Những bức tranh, được một nhóm họa sỹ trẻ của Việt Nam chuyển thể từ các bức ảnh tư liệu, cho thấy hình ảnh những nạn nhân chiến tranh Việt Nam trên các con thuyền tìm cách vượt biển để đến một nơi nào đó trên thế giới.Trong số khoảng 1,6 triệu người Việt Nam tái định cư từ 1975 đến 1997, hơn 700.000 người là thuyền nhân, theo thống kê của UNHCR. Cơ quan này ước tính khoảng 200.000-400.000 thuyền nhân đã bỏ mạng trên biển.Một thế giới khácTiffany tới UNHCR hàng năm để làm các nghiên cứu và qua đó cô “mới biết được người Việt Nam đã đi đến nhiều nơi trên thế giới, gồm châu Phi, Mỹ La tinh và Trung Đông, ngoài những nơi mà mọi người đều biết là Mỹ và châu Âu.”Những tuyến đường người tị nạn Việt Nam vượt qua để tìm đến nơi “an toàn hơn” Việt Nam lúc đó đã được Tiffany đưa vào một tấm bản đồ lớn bằng vải thêu cũng được trưng bày tại triển lãm này.

Mặc dù được đào tạo về nhiếp ảnh và Nghệ thuật Studio ở California, Tiffany lại từng là một người vẽ bản đồ.. Chính cô đã vẽ lại những đường di chuyển của người tị nạn chiến tranh Việt Nam trên một tấm bản đồ giấy và sau đó được chuyển thể sang hình thêu trên vải.(Tiffany Chung) chuyển thể chúng vào hình thức tác phẩm nghệ thuật và chúng trở nên rất quan trọng cho tư liệu lịch sử của chúng ta; đưa chúng ta tới một thế giới hoàn toàn khác.Sarah Newman, phụ trách nghệ thuật đượng đại của bảo tàng Nghệ thuật Hoa Kỳ Smithsonian“Rất nhiều những thứ này không được nói tới trong văn hóa và nghệ thuật của (Mỹ). Nó thậm chí không được nhắc tới trong lịch sử,” Sarah Newman, phụ trách nghệ thuật đương đại của Bảo tàng Nghệ thuật Hoa Kỳ Smithsonian, nói. “(Tiffany Chung) đã tới trung tâm lưu trữ của UNHCR và nghiên cứu để tìm ra những người (Việt) đi đâu sau chiến tranh, họ đi con đường nào và họ tới đâu trên thế giới này. Cô ấy chuyển thể chúng vào hình thức tác phẩm nghệ thuật và chúng trở nên rất quan trọng cho tư liệu lịch sử của chúng ta; đưa chúng ta tới một thế giới hoàn toàn khác.”Tiffany gọi sự vắng bóng những tiếng nói của người tị nạn Việt trong lịch sử chiến tranh Việt Nam là một sự “bỏ quên lịch sử do ảnh hưởng của chính trị.”“Người tị nạn không được nhắc tới trong truyền thông chính thức. Họ không được bàn tới. không được nhớ tới,” Tiffany nói. “Mọi người đều có quyền được biết về lịch sử, ký ức và sự thật.”Theo người nghệ sỹ hiện đang sống ở Houston, Texas, “Nhớ tới nó để hiểu về nó. Để lịch sử không lặp lại lần nữa.”
Để kí ức người miền Nam Việt Nam không bị lãng quên (VOA)

https://baomai.blogspot.com/2019/05/tiffany-chung-nguoi-nghe-si-ua-tieng.html


Họa sĩ Trịnh Cung trước phòng tranh tại Smithsonian American Art Museum, Washington DC.
  
Để kí ức người miền Nam Việt Nam không bị lãng quên (VOA)

=====
Xem ‘Việt Nam, Quá Khứ là Mở Đầu’ của Tiffany Chung
Riêng cá nhân tôi, nếu được nhân danh cho người làm Nghệ thuật Việt Nam, xin cám ơn Tiffany Chung về một nỗ lực …
29/04/2019

Trịnh Cung 

VIỆT NAM, QUÁ KHỨ LÀ MỞ ĐẦU (Vietnam – Past is Prologue)
Một Tác Phẩm Nghệ Thuật Đa Phương Tiện của Nữ Nghệ Sĩ TIFFANY CHUNG, Một Công Trình Nghệ Thuật-Chính Trị Khổng Lồ, Giá Trị Nhất về Chiến Tranh Việt Nam sau 44 Năm Kể Từ 30-4-1975.

Với Tác Phẩm Nghệ Thuật Đa Phương Tiện Mang Tên “Vietnam, Past is Prologue”, đang được trưng bày tại Smithsonian American Art Museum, Washington DC, Tiffany Chung, một ngôi sao nghệ thuật đương đại Việt Nam đã dành hết nước mắt cho một quá khứ của quê hương mình đã bị bức tử kể từ 30-4-75.

Dẫn Nhập
Thật khó tưởng tượng được và cũng là sự trông mong của tôi từ lâu là sẽ có một ngày được nhìn thấy một công trình nghệ thuật xứng tầm cho một bị kịch lịch sử không chỉ có một không hai đối với lịch sử người Việt mà cho cả thế giới vào những thập niên cuối thế kỷ 20, được sáng tạo bởi một họa sĩ Việt Nam, dù rằng trước đây và hiện nay cũng không nhiều thì ít đã có một số nghệ sĩ đương đại Việt Nam thuộc thế hệ trưởng thành sau 1975 đã làm ra những tác phẩm chạm đến xương cốt của cái ác, cái cam tâm đang hủy hoại dân tộc mình. Có thể kể đến những cái tên: Trương Tân, Nguyễn Minh Thành, Nguyễn Mạnh Hùng, Nguyễn Thái Tuấn, Nguyễn Thuý Hằng… Tuy nhiên, tất cả đều, hoặc phải bỏ cuộc hoặc phải sử dụng thứ thủ pháp ẩn dụ để tránh sự truy bức của chính sách nhà nước Cộng Sản. 

Tiffany Chung, nghệ sĩ đương đại người Mỹ gốc Việt.
May thay, hôm nay, sau 44 năm, Tiffany Chung đã xuất hiện với một tác phẩm nghệ thuật khổng lồ, vĩ đại cả về kích thước, hình thức lẫn nội dung, cả về ngôn ngữ và phẩm chất sáng tạo.
Như tôi đã mô tả, đây là một tác phẩm khổng lồ, vĩ đại vì riêng chỉ qui mô không thôi, nó đã chiếm hết một không gian gồm 3 gian phòng, mỗi gian phòng rộng ước tính trên 16 mét vuông, chúng nằm kề và liên thông với nhau. Kế nữa là vì chúng là một khối chứng liệu bằng hình ảnh, bằng tranh vẽ, bằng 21 video clip phát hình và tiếng nói của 12 nhân chứng nam và 9 nữ đang là những người Việt lưu vong, và sau cùng là tấm bản đồ thế giới chiếm gần hết bức tường do chính Tiffany Chung thực hiện mô tả hằng chục hải trình trên các đại dương mà người Việt đã liều chết ra đi tìm đất sống và tự do. Điều này trên thế giới chưa có một tổ chức dân sự hay bất cứ nhà sử học hiện đại nào làm kể cả cơ quan Cao Uỷ Liên Hợp Quốc về người tỵ nạn. Cuộc mở những con đường máu để đến bến bờ tự do của họ không chỉ đến Mỹ hay châu Âu như chúng ta thường biết, mà đến cả châu Phi, Trung Đông và Mỹ La Tinh. Để làm được việc này, nữ nghệ sĩ đã bỏ ra nhiều năm để khám phá từ những kho tư liệu nằm im lặng tại cơ quan UNHCR (Cao Uỷ Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc) ở Geneve – Thụy Sĩ.
Nhưng theo tôi, cái khổng lồ đáng trân trọng nhất đối với Tiffany Chung là ý tưởng sáng tạo trên những tiêu chí cực kỳ dữ dội cho 3 chương của “VIETNAM, PAST IS PROLOGUE”,

chương thứ nhất: “An Autopsy of a Battle” và “An Excavation of a Man’s past” tạm dịch là “Khám nghiệm tử thi một trận chiến” và “Khai quật quá khứ một người đàn ông”;

chương 2 là “Collective Remembrance of The War, The Voices from Exiles” (Hồi tưởng tập thể về cuộc chiến: Tiếng nói từ những kẻ lưu vong) và chương 3 là Sự Tái Lập Một Lịch Sử Di Tản (Reconstructing An Exodus History) cho thấy hằng trăm đường bay và hải trình đi tìm tự do của 1 triệu sáu trăm ngàn người Việt đến được những nơi dung thân, không kể đã có từ 200 đến 400 ngàn người đã vĩnh viễn chìm sâu trong lòng biển cả.


Phi công trực thăng Chung Tử Bửu, thân phụ Tiffany Chung.
Tiffany Chung đã chọn một đề tài chính trị – nghệ thuật cực khó, hàm chứa nhiều bất an và hao tổn sức lực cùng thời gian nhưng lại không mang đến cho mình những lợi lộc thực dụng nào trong lúc mình lại là một phụ nữ.

Nội Dung và Hình Thức Nghệ Thuật

Chương 1 của “Việt Nam, Quá Khứ là Mở Đầu” (Vietnam, Past is Prologue)
A, Lập Lại Bản Đồ Lịch Sử (Remapping History)
a, Khám nghiệm tử thi một trận chiến (An Autopsy of a Battle)
b, Khai quật quá khứ một người đàn ông (Excavation of a Man’s Past)
Đây là gian phòng triển lãm đầu tiên, Tiffany Chung trình bày dưới hình thức nghệ thuật sắp đặt theo dạng một biểu đồ cho các tấm hình và những bức tranh màu nước trên giấy khổ nhỏ để đưa người xem cùng tác giả “Khai quật quá khứ một người đàn ông”, khai quật lại lịch sử một đất nước tự do bị bức tử bởi bộ đội Cộng Sản Bắc Việt, lịch sử con đường máu của người Miền Nam trốn chạy sự tàn bạo của chủ nghĩa Cộng Sản trên những con thuyền mỏng manh trên biển cả.
Tấm hình khởi đầu cho cuộc “khai quật” đó về “quá khứ của người đàn ông” và từ đây Tiffany Chung “khám nghiệm tử thi một trận chiến”, đó chính là tấm hình viên phi công trực thăng của Không quân Việt Nam Cộng Hòa, Chung Tử Bửu, bố của Tiffany, bị bắt làm tù binh sau khi chiếc trực thăng do ông lái bị quân Bắc Việt bắn rơi trong chiến dịch Lam Sơn 719 ở hạ Lào năm 1971. Chính vì tấm hình này đã khiến chị phải trở về lại Việt Nam trong rất nhiều năm sau khi tốt nghiệp bộ môn mỹ thuật nhiếp ảnh và nghệ thuật studio tại một trường đại học mỹ thuật của California để tìm hiểu về cuộc chiến tranh Việt Nam bằng những tư liệu cụ thể chứ không phải bằng hư cấu và diễn giải chủ quan.
Đứng trước tấm bản đồ mô tả vùng chiến sự Lam Sơn 719 tại nam Lào năm 1971, Tiffany Chung vẽ lại bằng mỹ thuật đồ họa, trên đó đã thể hiện đầy đủ các cánh quân của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa tiến vào từ nhiều hướng và cả nơi chiếc trực thăng do bố mình lái bị bắn hạ và bị địch bắt làm tù binh. Đó là một trận chiến thảm khốc và chết chóc mà phía các lực lượng tinh nhuệ của Việt Nam Cộng Hòa phải gánh chịu. Đây là một tổn thất to lớn và cũng là tiền đề cho sự sụp đổ toàn bộ Miền Nam Việt Nam vào ngày 30-4-1975.

Chung Tử Bửu, người sĩ quan không quân, thân phụ của nữ nghệ sĩ, bị Cộng quân bắt, vào lúc đó chị mới được 5 tuổi mà mãi khi lớn lên trên nước Mỹ chị mới nhận ra nơi tấm hình này ẩn chứa một câu chuyện về “Quá khứ một người đàn ông”, quá khứ lịch sử một đất nước của ba mình bị chôn sống, bị phản bội.
Trên con đường trở về nguồn đó, Tiffany Chung tìm thấy được bao nhiêu cảnh đời loạn lạc, tan nát, trốn chạy trong chết chóc, trong khốn cùng của hằng trăm ngàn người Miền Nam Việt Nam để tìm đến một nơi nào đó, bất cứ ở đâu miễn là nơi đó có tự do qua nhiều tấm hình được lưu giữ tại những trung tâm tỵ nạn và tại kho lưu trữ của UNHCR (Cao Uỷ Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc) nằm tại Geneve – Thụy Sĩ.
Với sự “tái lập bản đồ lịch sử” qua hình thức kết hợp các tư liệu bằng hình và tranh vẽ ở gian phòng đầu tiên, Tìffany Chung đã mở đầu bản cáo trạng tội ác của chủ nghĩa Cộng Sản một cách khoa học và khách quan bằng ngôn ngữ của nghệ thuật đa phương tiện không còn gì thích hợp hơn.
Chương 2, Hồi Tưởng Tập Thể về Cuộc Chiến, Tiếng Nói Từ Những Kẻ Lưu Vong (Collective Remembrance of The War, The Voices from Exiles)
Tôi bước sang gian phòng triển lãm thứ 2, một phòng tối đen đầy âm khí chỉ có tiếng nói được phát ra từ 21 nhân chứng về vì sao họ phải trôi dạt ra khỏi quê hương, tất cả gồm 12 người đàn ông và 9 phụ nữ được phát ra qua những khung hình video nhỏ cho từng người.. Họ là những người lưu vong, nay đều lớn tuổi.
Bằng nghệ thuật Video Art, Tifany Chung đưa người xem từ những dấu chân dẫn đường khám phá một quá khứ đau đớn được trình bày minh bạch ở phòng số 1 đến một phòng của nhân chứng sống, bằng giọng thật của từng kiếp nạn sống sót nhưng vết thương trong tâm hồn họ thì vĩnh viễn không lành. Những vết thương vẫn cứ buốt lên, vẫn cứ dày xéo, vẫn cứ rịn mủ mỗi khi trái gió trở trời vào dịp 30 tháng Tư hằng năm. Đứng trong gian phòng đen đầy những lời linh hồn, người xem chỉ biết im lặng nghe mắt mình rớm lệ.
Chương 3, Tái Lập Môt Lịch Sử Di Tản (Reconstructing An Exodus History)
Đây lại là một gian phòng khác, gian phòng cuối cùng của tác phẩm “Vietnam, Past is Prologue” mà tôi gọi là “chương ba,” chương cuối của cuốn tiểu thuyết lịch sử về Chiến Tranh Việt Nam do Tiffany Chung viết bằng ngôn ngữ nghệ thuật đa phương tiện.
Ở đây, người nghệ sĩ dùng kỹ năng vẽ bản đồ, một nghề chị từng đã trải qua ở Hoa Kỳ, để thực hiện trên chất liệu vải và bằng kỹ thuật thêu tay. Bằng nền đen, màu xám cho toàn thế giới từ châu Phi, châu Âu, châu Á, châu Úc và châu Mỹ, màu đỏ dùng cho các đường bay từ các trại tỵ nạn và chương trình ODP. Một tấm bản đồ bằng vải thêu có kích cỡ khoảng 8 mét vuông (chiều cao 2m, chiều ngang 4m), chiếm gần nguyên một bức tường. Một bức bản đồ chưa từng được thực hiện về lịch sử một cuộc di tản khổng lồ thuộc loại bi thảm nhất của lịch sử nhân loại mà người Việt chạy trốn Cộng Sản thực hiện sau ngày 30-4-1975.

Bản đồ những đường bay của lịch sử đi tản người Việt sau 30-4-75.
Để làm được việc này, Tiffany Chung đã phải bay đến các trại tỵ nạn tại nhiều quốc gia Đông Nam Á và cả UNHCR (Cao Uỷ Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc) nằm ở Geneve – Thụy Sĩ để sao lục, tập hợp lại các dữ liệu đã được thống kê để thực hiện một cách khá đầy đủ về người Việt miền Nam đã đến được bến bờ tự do bằng bao nhiêu con đường và trong số họ có hằng trăm ngàn người đã nằm vĩnh viễn trong lòng đại dương. Riêng những con đường màu đỏ có thể đếm được là hơn 100, còn lại thì chằng chịt, vô số, không thể đếm xuể.
Điều qua tấm bản đồ này, lần đầu tiên tôi biết được, người Việt không chỉ tỵ nạn chính trị tại Hoa Kỳ, Châu Âu, Châu Úc mà cả ớ Châu Phi, Trung Đông và Mỹ La Tinh.
“Việt Nam, Quá Khứ là Mở Đầu,” một tác phẩm nghệ thuật đa phương tiện (Multimedia Art) được kết thúc tại đây, theo tôi, trong hơn 50 năm vẽ tranh và luôn bị ám ảnh về đề tài những nỗi đau của phận người, của đất nước mình nhưng chưa bao giờ làm được điều mình mong muốn. Có lẽ phương tiện nghệ thuật mà tôi có sở trường không thể chuyển tải một đề tài lớn như những gì mà Tiffany Chung thể hiện trong tác phẩm khổng lồ này. Nghệ thuật đa phương tiện có đầy đủ giọng điệu, kỹ thuật thực hành tốt nhất và thích hợp nhất cho những đề tài mang tầm vóc lịch sử – chính trị như Việt Nam, Quá Khứ là Mở Đầu của Tiffany Chung hôm nay.
Riêng cá nhân tôi, nếu được nhân danh cho người làm Nghệ thuật Việt Nam, xin cám ơn Tiffany Chung về một nỗ lực phi thường của chị cho tác phẩm lớn lao này, một tác phẩm không tiền khoáng hậu cho đề tài về chiến tranh, chiến tranh Việt Nam mà hơn 40 năm qua không một nghệ sĩ Việt từ trong và ngoài nước làm được và thành công như thế. Tiffany Chung với tác phẩm “Việt Nam. Quá Khứ là Mở Đầu” đã thay mặt cho hội họa Sài Gòn trả được món nợ lịch sử đúng vào dịp Tháng Tư năm 2019.
(Viết tại Bolsa, tháng Tư 27-2019)
__._,_.___