Thơ Vương Duy

Văn học

Thơ Vương Duy
của những bạn đọc viết
và lời bình của Thái Thanh Nguyên

Vương Duy (701 – 761), tự là Ma Cật, người huyện Kỳ nay thuộc phủ Thái Nguyên tỉnh Sơn Tây. Ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình Phật tử thuần thành, mẹ và anh em ông đều quy y và trường trai. Ngoài tài thơ như đã nói, Vương Duy còn giỏi về âm nhạc, lừng danh sành điệu về thư pháp và hơn nữa ông còn là Tổ sư của hoạ phái Nam tông. Thiên hạ xưa nay quen gọi ông là Thi Phật – để phân diện với Thi Tiên Lý Bạch và Thi Thánh Đỗ Phủ.

Người ta chỉ gọi ông là Thi Phật mà không dùng danh xưng đó cho Bạch Cư Dị là vì dù ông không sáng tác nhiều thơ về kinh điển Phật giáo như Bạch Cư Dị nhưng thơ ông gần như toàn bộ đều hàm chứa tinh chất Thiền thi của Phật giáo. Văn học  Trung Quốc tác giả Trịnh Ân Ba – Trịnh Xuân Lôi, dịch giả Lê Hải Yến, nhận  xét về Thi Phật Vương Duy như sau:

“Vương Duy để lại hơn 400 bài thơ. Thơ sơn thủy điền viên của ông chủ yếu miêu tả cuộc sống an nhàn và cảnh đẹp núi sông nơi ông sống ẩn cư ở Giang Nam Võng Xuyên. Thơ Vương Duy đạt thành tựu rất cao về nghệ thuật. Bất luận là cảnh tượng hùng vĩ rộng lớn như : “Đại mạc cô yến trực, trường hà lạc nhật viên” (Làn khói cô độc bay thẳng lên không trung giữa sa mạc rộng vô bờ bến, trên sông Hoàng Hà mênh mông hoang vắng, vầng mặt trời đỏ ối đang từ từ lặn xuống), hay vẻ đẹp thiên nhiên tinh tế như : “Minh nguyệt tùng gian chiếu, thanh tuyền thạch thượng lưu” (Anh trăng sáng rọi chiếu qua khe rừng thông soi bóng xuống thảm cỏ, gần đó là suối nước trong lành chảy từ núi len lỏi qua những hòn đá), ông đều có sự cảm nhận tinh tế, nhạy bén về thiên nhiên, nắm bắt được màu sắc, thanh âm và động thái của thiên nhiên, rồi phác họa, miêu tả lại bằng thơ một cách tự nhiên trôi chảy với ý cảnh độc đáo.

Người xưa khái quát đặc sắc nghệ thuật trong thơ Vương Duy bằng câu: “Thi trung hữu họa, họa trung hữu thi”. Thơ ông lấy cảnh theo con mắt của nhà họa sĩ, hơn thế, màu sắc hình ảnh trong thơ ông thường ẩn hiện lúc đậm,  lúc nhạt, điều này được thể hiện tập trung trong tác phẩm Võng Xuyên tập của ông. Ngôn ngữ trong thơ của Vương Duy mới mẻ, cô đọng, súc tích, trong giản dị toát ra vẻ hoa lệ, đẹp đẽ.”…

 送 別
下馬 飲 君 酒
問君 何 所 之
君 言 不得 意
歸 臥 南山 陲
但 去 莫 復 問
白 雲 無 盡 時
 

Dịch âm:

Sòngbié
xiàmǎ yǐn jūn jiǔ
wèn jūn hé suǒ zhī
jūn yán bù déyì
guī wò nánshān chuí
dàn qù mò fù wèn
báiyún wú jǐn shí

TỐNG BIỆT
Há mã ẩm quân tửu
Vấn quân: “Hà sở chi?”
Quân ngôn: “Bất đắc chí”
Quy ngoạ Nam sơn thuỳ
Đãn khứ mạc phục vấn
Bạch vân vô tận thì.

Dịch nghĩa:

ĐƯA TIỄN

Mời anh xuống ngựa uống cùng tôi một chén rượu
Xin hỏi anh sẽ đi về nơi đâu
Anh nói vì trong lòng không được như ý nguyện
Nên muốn quay về nằm ẩn bên núi Chung Nam
Nghe nói ta chẳng hỏi lại làm gì
Chỉ thấy trên trời mây trắng bay hoài không ngớt. 

Dịch thơ:

  • ĐƯA TIỄN

I

Xuống ngựa cùng uống rượu
Hỏi bạn : “ Chốn nào đi ?”
Rằng : “Tôi chẳng thỏa ý
Về núi Nam nằm lì”
Đi rồi không hỏi nữa
Bất tận trắng ngàn mây

II

Mời nhau xuống ngựa cạn ly
Chia tay hỏi bạn định đi đâu là
Bạn cười chẳng thỏa lòng ta
Thôi về nghỉ lại non nhà Nam Sơn
Ta còn biết nói chi hơn
Một màu mây trắng rập rờn nghìn năm.

Trần Ngọc Hưởng

Bản dịch khác:

Xuống yên chuốc chén rượu đào
Hỏi anh đi đến nơi nào hỡi anh
Thưa rằng lòng đã bất bình
Nam sơn kia để cho mình nghỉ ngơi
Anh đi tôi chẳng dài lời
Kìa làn mây trắng bên trời ngổn ngang.

Nguyễn Hữu Bông

Bản dịch khác:

Xuống yên uống rượu cùng anh
Hỏi anh sắp sửa cất mình đi đâu
Rằng ta chán chuyện mưu cầu
Định về nằm ở mé đầu Nam sơn
Đi đây đừng có hỏi han
Mây kia trắng xóa chẳng tan bao giờ.

Trần Trọng Kim

 Lời bình:

Chỉ cần mượn hình tượng một làn mây trắng thôi là chuyển tải biết bao trạng thái tâm tư con người đang lặn lội trong dòng thế cuộc.

Vui chăng? Sắc nhuộm như hồng lĩnh

Buồn mấy! Màu pha tựa lãnh đài.

Đi hay không đi, làm hay không làm nếu không tự quyết bằng chính kiến của mình thì về sau bạn cũng hối hận về việc đó. Huống hồ, dòng đời đâu chỉ một phương, tâm người cũng không một niệm, nên trên vòm trời cứ vẫn bất tận trắng ngàn mây.

Bạn cười chẳng thỏa lòng ta

Thôi về nghỉ lại non nhà Nam Sơn.

(Trần Ngọc Hưởng dịch)

Thôi thì hãy tạm nằm nghỉ ngơi bên lề cuộc thế để lắng nghe duyên nghiệp tương sinh.

Thái Thanh Nguyên

 

送 春 詞

日人

年年

Dịch âm:

TỐNG XUÂN TỪ

Nhật nhật nhân không lão

Niên niên xuân cánh quy

Tương hoan hữu tôn tửu

Bất dụng tích hoa phi.

 

Dịch nghĩa:

LỜI TIỄN XUÂN

Ngày lại ngày người cứ già thêm

Năm theo năm xuân cứ về hoài

Hãy cứ vui thú cùng chén rượu

Chẳng cần phải tiếc thương cánh hoa bay làm gì !

 

 

Dịch thơ:

LỜI TIỄN XUÂN

I

Ngày ngày người luống tuổi dần

Năm năm qua vẫn mùa xuân lại về

Cùng vui cất chén rượu đầy

Tiếc làm chi cánh hoa bay hỡi người.

II

Ngày ngày người cứ lão

Năm năm xuân lại đây

Cùng vui say cất chén

Tiếc gì cánh hoa bay.

Trần Ngọc Hưởng

 

Bản dịch khác:

Ngày một ngày hai tuổi đã già

Mỗi năm xuân lại đến cùng ta

Chung vui còn có vài ly rượu

Bay mất thì thôi mặc kệ hoa.

Đinh Vũ Ngọc

 

Bản dịch khác:

Năm năm xuân lại về đây

Người ta già với ngày này, như không

Làm vui, đây chén rượu nồng

Hoa rơi, tiếc cũng uổng công, ích gì…

Nguyễn Văn Tùng

 

Lời bình:

Bởi duyên và nghiệp tương sinh nên duyên nghiệp có luật tuần hoàn của nó. Vạn vật sinh trưởng thu tàng rồi lại sinh. Muốn tống cũng không được, lưu cũng không xong. Sao không để mặc nhiên nó đến đi như nó đã tự định.

Năm năm xuân lại về đây

Người ta già với ngày này, như không.

(Nguyễn Văn Tùng dịch)

Như thế con người, có là gì khác hơn một kiếp hoa dài ngày nhởn nhơ trong cuộc luân hồi miên viễn của hữu tình vô hạn!

Xuân khứ xuân lai xuân khai mãn

Vô ưu hoa lai khứ tự nhiên thành.

Cứ vậy đi, cứ sống an nhiên, cứ vui trọn vẹn với cái ngang trái cũng như cái ân sủng từ cuộc đời này thì cuộc đời sẽ thi vị biết bao từ một thời rộn ràng cùng hương sắc đến những ngày cô độc với trăng sao.

Thái Thanh Nguyên

酬 張 少 府

 

THÙ TRƯƠNG THIẾU PHỦ

Vãn niên duy hiếu tĩnh

Vạn sự bất quan tâm

Tự cố vô trường sách

Không tri phản cựu lâm

Tùng phong xuy giải đới

Sơn nguyệt chiếu đàn cầm

Quân vấn cùng thông lý

Ngư ca nhập phố thâm.

 

Dịch nghĩa:

ĐÁP QUAN THIẾU PHỦ HỌ TRƯƠNG

Tuổi già chỉ thích yên tĩnh

Chẳng để ý chi đến mọi việc đời

Tự thấy không có mưu kế gì hay

Chỉ còn biết trở về rừng xưa

Gió thông thổi bay dải áo lỏng

Trăng núi dọi sáng đàn cầm đang gẩy

Ông hỏi tôi cái lẽ cùng thông ở đời

Xin cứ nghe tiếng hát dân chài vọng vào đầm sâu.

 

Dịch thơ:

ĐÁP QUAN THIẾU PHỦ HỌ TRƯƠNG

Già cả ưa tĩnh lặng

Việc đời mặc gió đưa

Nghĩ mình không kế giỏi

Đành trở lại rừng xưa

Đai lỏng gió tùng thổi

Đàn rung trăng núi đùa

Lẽ cùng thông chớ hỏi

Khúc ngư ca vào bờ.

Trần ngọc Hưởng

Bản dịch khác:

Chuỗi ngày còn lại sống âm thầm

Mọi việc trên đời chẳng để tâm

Đã biết tập bầy mưu chẳng có

Thà về trở lại núi xưa thăm

Gió thông phất phới bay tà áo

Trăng núi lung linh rọi phím cầm

Cái lẽ “Cùng thông” người mới hỏi

Hãy nghe chài hát vọng bên đầm.

Trần Nhất Lang

 

 

Bản dịch khác:

Tuổi già nương chốn thanh bình

Lo chi thế cuộc điêu linh thêm sầu

Nghĩ mình chắng có kế mưu

Lui về rừng vắng ngẩm câu vô thường

Gió lùa bay áo lam sương

Trăng treo đỉnh núi chiếu loang phím đàn

Người về hỏi lý cùng thông!

Hãy nghe ngư phủ giữa giòng hát ngâm.

Hoa Sơn

Lời bình:

Những tháng ngày mang mang với duyên sự; như ai sống cầm chừng chưa tận nhân lực thì về già cũng chẳng thể tri thiên mệnh. Họ ôm ấp hoài bão hoặc trăn trở với tham vọng đến phút giây trút hơi tàn. Thậm chí tham vọng đó còn trút gánh vào kẻ truyền thừa mà chẳng biết người ta có làm được hay không!

Còn như ai đã cống hiến trọn vẹn, dù thuận duyên mà ra cơ nghiệp rạng rỡ hay nghịch cảnh mà thất bại triền miên thì họ cũng hoàn toàn yên tâm với chính mình.

Thì thôi như thế cũng đành

Mấy gian nhà cũ khuyên anh nên về

Khi say rót rượu nhà quê

Vui xem sách cũ cận kề cổ nhân.

(Tống Mạnh Lục… – Trần Ngọc Hưởng dịch)

Khi đã bằng lòng với tri túc thì sẽ thấy chuỗi thành bại vừa qua như mây bay gió thoảng. Lúc đó, chỉ việc quay về nguồn xưa cội cũ tự nguyên nguyên là cái vui viên mãn nhất.

Tự cố vô trường sách

Không tri phản cựu lâm.

(Thù Trương thiếu phủ – Vương Duy)

Nơi đây không có quan quân vấn cật, không có mão đai đè thắt, mặc tình cho hương tùng len lỏi áo mong manh, mặc tình trăng mờ trăng tỏ phím đàn cầm. Chỉ những sự bình thường, vô tư, trong trẻo, không mưu cầu, không phiền lụy mới may ra đồng hành với sự rốt ráo của cái thấy biết tận cùng.

Người về hỏi lý cùng thông

Hãy nghe ngư phủ giữa giòng hát ngâm.

(Thù Trương thiếu phủ – Hoa Sơn dịch)

Thái Thanh Nguyên

 

 

Dịch âm:

QUÁ HƯƠNG TÍCH TỰ

 

Bất tri Hương Tích tự

Sổ lý nhập vân phong

Cổ mộc vô nhân kính

Thâm sơn hà xứ chung

Tuyền thanh yết nguy thạch

Nhật sắc lãnh thanh tùng

Bạc mộ không đàm khúc

An thiền chế độc long.

Dịch nghĩa:

QUA CHÙA HƯƠNG TÍCH

Chẳng biết chùa Hương Tích ở nơi nào

Đi mấy dặm mới tới được đám mây trên chóp núi

Cây cỏ đan đầy không người qua

Núi sâu tiếng chuông chẳng biết từ đâu vọng lại

Tiếng suối trên ghềnh đá cao chảy rì rầm

Mặt trời chiếu lạnh lẽo hàng thông xanh

Chiều tàn chỉ còn lại khúc đầm quạnh quẽ

Ngồi xuống định thiền để chế phục con rồng độc .

Dịch

Chẳng hay chùa Hương Tích

Mấy dặm gió mây lồng

Đường bặt trơ cây rậm

Chuông đâu dội núi cùng

Suối reo đau ghềnh đá

Trời ánh lạnh màu thông

Chiều xuống bên đầm vắng

Thuồng luồng tựa cửa không.

Trần Ngọc Hưởng

 

 

Bản dịch khác:

Chẳng hay Hương Tích chùa đâu
Đi đôi ba dặm, lên đầu non cao
Cây um, đường tắt vắng teo
Núi sâu chuông vẳng nơi nào tiếng đưa
Suối kêu nghẽn đá ria bờ

Lạnh lùng bóng nắng chui lùa thông xanh

Trời hôm, tấc dạ thanh minh
Quy y đạo Phật sửa mình là hơn.

Tản Đà

Bản dịch khác:

Chẳng hay Hương Tích ở nơi đâu
Mấy dặm mây lồng ngọn dốc cao
Cây cỏ quạnh hiu đường núi vắng
Chuông chùa văng vẳng chốn khe sâu
Suối tuôn róc rách len dòng đá
Thông nhuốm lạnh lùng xế bóng câu
Thanh thoát cõi lòng, đầm một giải
Độc long hàng phục phép Thiền mầu.

Trần Nhất Lang

 

 

Lời bình:

Tìm đến một di vật hay một sự kiện để thỏa mãn cái biết hay làm một điểm hầu nương tựa thân tâm là hành vi của một hành giả hay một con người đang cầu tiến. Thế nhưng có khi do bạc phước thiếu duyên mà đi không đến nơi, hoặc đến nơi mà không biết ra hoặc gặp rồi thì cũng chẳng ảnh hưởng nhau được chút gì.

Cây um đường bặt vắng teo

Núi sâu chuông vẳng nơi nào tiếng đưa.

(Tản Đà dịch)

Đó là những sự vật cụ thể hữu danh hữu hình, hoàn toàn nằm trong tầm cảm nhận bằng mắt tai mũi lưỡi … của con người mà đôi khi vẫn khó nhận ra. Hoặc có khi trong cuộc hành trình hành giả chỉ chuốc thêm phiền não thất vọng.

Suối reo đau ghềnh đá

Trời ánh lạnh màu thông.

(Trần Ngọc Hưởng dịch)

Huống hồ, có những điều nghe rất trừu tượng như tình cảm, trường sinh, nhân duyên, thần thông hay trí tuệ … con người vẫn khát khao hăm hở đi tìm. Tìm đâu? Khi con người luôn vận dụng cái khả năng hoạt động trong tần số hạn hẹp của bộ não và ngũ quan để hòng khám phá ra một thế giới huyền bí diệu kỳ?

Chiều đã xuống chỉ còn thấy một vùng không gian hẹp dần, chốc nữa sẽ không còn ánh sáng để thấy biết nữa. Bất như ý, con người sẽ sinh ra tâm trạng bất mãn hoặc manh nha một mối nghi ngờ rạo rực như con mãng xà rọ rạy trong tâm thức.

Đường cùng ắt có lối. Trong thời điểm đó, nếu có một khoảnh khắc chợt nhận ra thì con người lập tức phát hiện một lối đi quang đãng. Thực chất những điều tốt đẹp đó hoàn toàn có thật. Nó ở quanh ta, bên cạnh ta và chính trong ta. Ay là tìm lại với chính mình, là “Tự tại thân, Phật tại tâm”.

Bạc mộ không đàm khúc

An thiền chế độc long.

(Vương Duy)

Cũng là lúc con cá chép sẽ có cơ hội được hóa thành rồng mà không lộn thành loài rắn độc.

Thái Thanh Nguyên

 

 

 

 

 

Dịch âm:

THANH KHÊ

Ngôn nhập Hoàng Hoa xuyên

Mỗi trục thanh khê thủy

Tùy sơn tương vạn chuyền

Thú đồ vô bách lý

Thinh huyên loạn thạch trung

Sắc tĩnh thâm tòng lý

Dạng dạng tấn lăng hạnh

Trừng trừng ánh gia vi

Ngã tâm tố dĩ nhàn

Thanh xuyên đạm như thử

Thỉnh lưu bàn thạch thượng

Thuỳ điếu tương dĩ hĩ!

 

 

Dịch nghĩa:

SUỐI THANH KHÊ

Nghe nói vào sông Hoàng Hoa

Sẽ đến con suối Thanh Khê

Theo thế núi chảy quanh co muôn khúc

Trên đường dài chưa tới trăm dặm

Tiếng ào ào đổ nhào vào đám đá lô nhô

Cảnh sắc trong rừng thông thực là u tĩnh

Cỏ ấu rau hạnh bập bềnh trên mặt nước lay động

Lau lách đôi bờ soi bóng nước trong veo

Lòng ta vốn ưa thảnh thơi

Con suối xanh trong lại êm đềm như thế

Mời ở lại trên tảng đá này

Thả cần câu quên hết chuyện đời.

 

 

Dịch thơ:

SUỐI THANH KHÊ

Suối hoa vàng muốn đến

Phải nương dòng nước trong

Quanh co muôn thế núi

Trăm dặm cứ lượn vòng

Nước ào ào ghềnh đá

U tĩnh sắc ngàn thông

Au, hạnh con sóng dợn

Hoa lau bóng nước lồng

Lòng ta thanh thản lạ

Êm đềm mạch suối trong

Muốn ngồi lại bàn đá

Buông cần xuống… thong dong.

Trần Ngọc Hưởng

 

 

Bản dịch khác:

Chảy nhập sông Hoàng Hoa

Xanh trong suối nước hòa

Men sườn núi uốn khúc

Trăm dặm quãng đường xa

Róc rách reo ghềnh đá

Rừng tùng yên bóng sà

Chèo lung lay ấu hạnh

Lau sậy nắng trong sa

Lòng ngập tràn nhàn hạ

Nơi đây nước lặng qua

Ngồi câu bên tảng đá

Quên lãng mọi phiền hà.

Túc Mỡ

 

 

Bản dịch khác:

Lời rằng qua ngả Hoàng Hoa

Khe Thanh trong vắt thật là nên thơ

Giữa vùng non nước mộng mơ

Quanh co trăm dặm bên bờ núi cao

Xuyên vách đá… nước rì rào

Thông nghiêng soi bóng khác nào Bồng lai

Bập bềnh lăng, hạnh nổi trôi

Nước trong lau sậy đứng soi ven bờ

Yêu đời thanh thản… ngẩn ngơ

Theo làn nước biếc lững lờ… xuyến xao

Bên dòng êm… mỏm đá cao

Cần buông…

hồn thả dần vào… lãng quên.

Nguyễn Tâm Hàn

 

 

Lời bình:

Xưa nói rằng: “Quân tử đãi nhau nhạt như nước lã”.

Ngày nay người ta dùng rất nhiều loại nước. Ơ vùng quê, từ loại đơn sơ nhất như nước lọc qua lu cát hoặc nước máy cũng được gia vị vài thứ  phèn khử hoặc thêm flour thêm iod đến nước đóng thùng cũng quảng cáo rằng có nhiều chất khoáng. Thậm chí có dùng nước mưa chăng nữa cũng được bốc từ sông biển ao hồ đầy ô nhiễm lên để tạo thành những cơn mưa acid, mưa đỏ, mưa đen hoặc nồng nặc mùi này mùi nọ.

Tại các thị tứ đã ngập tràn các loại nước đóng chai, lê thê bia bọt … có kẻ suốt ngày họ chỉ uống bia trừ nước. Ở thành thị các loại nước đóng chai càng cao cấp càng đa hệ càng lung tung.

Từ “nước lã” đối với người bây giờ thật mơ hồ. Họ tưởng rằng thứ nước ấy chắc dở ẹc hơn nước mở từ “la fontaine” ra để rửa rau rửa chén giặt đồ!

Có ai thực sự có được đôi ngày rảnh rang không? Có ai được rảnh đến mức nhàm chán các kiểu thụ hưởng khoái lạc nơi đô thành mà phải tìm về rừng sâu đảo vắng chưa? Và có ai vô sự đến có thể ngồi lâu bên một dòng suối đến khát mà thử hớp một ngụm nước trong chưa? Kẻ đó chính là một người rất giàu có đã chịu đánh đổi rất nhiều thứ lùm xùm trong cuộc đời để thọ hưởng một ngụm nước, chính là nước lã vậy.

Ngã tâm tố dĩ nhàn

Thanh xuyên đạm như thử.

(Vương Duy)

Cho nên, nước lã chỉ có ở nơi người nhàn và người quân tử bởi họ thường được dùng nước lã. Nước lã tính đạm nhưng uống vào nghe mát ngọt cả tâm can, như thế tâm họ thường xuyên được gôt rửa nên cũng rất đạm rất thanh rất giản dị. Tâm là thể của tánh, tánh thì thường hằng khó đổi dù hoàn cảnh nào tánh cũng hoàn như nhất. Như thế mới rõ câu: “Quân tử tánh như thủy”

Do đó, tánh người quân tử lại rất hào phóng như nước ban cho không tất cả mọi người. Có cảnh đẹp sẵn mời những ai thích đến và mặc nhiên với kẻ quay lưng.

Thỉnh lưu bàn thạch thượng

Thùy điếu tương dĩ hĩ!

(Vương Duy)

Và không đơn giản mà có được thứ tánh tự nhiên ấy. Dòng nước càng trong xanh càng êm đềm là nó đã phải chảy qua bách lý sơn khê, cũng như người đã trãi qua trăm dâu ngàn bể mà vẫn giữ được tâm trạng trong trẻo vô sự như nước lã mới thực sự là người nhàn vậy.

Quanh co muôn thế núi

Trăm dặm cứ lượn vòng

Tiếng rì rầm ghềnh đá

U tĩnh sắc ngàn thông.

(Trần Ngọc Hưởng dịch)

Thái Thanh Nguyên

 Thái Thanh Tùng

(Trích lời bình cho thơ Vương Duy)



滿

Tức phu nhân

Mạc dĩ kim thời sủng,
Năng vong cựu nhật ân.
Khán hoa mãn nhãn lệ,
Bất cộng Sở vương ngôn.

Dịch nghĩa

Đâu phải vì sự sủng ái bây giờ
Mà có thể quên được ân tình ngày xưa.
Ngắm hoa mà lệ chứa chan đôi mắt,
Không nói một lời nào với vua nước Sở.

Tức phu nhân, còn gọi là Đào Hoa phu nhân, vốn là vợ của vua nước Tức (một nước nhỏ thời Xuân Thu). Năm 680 tr.CN vua Sở diệt nước Tức, chiếm đoạt Tức phu nhân. Nàng tuy bị buộc phải lấy vua Sở sinh 2 con nhưng trọn đời không nói một lời nào với vua Sở.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s