Lịch sử Việt Nam

Lịch sử Việt Nam
Thời tiền sử
Hồng Bàng
An Dương Vương
Bắc thuộc lần I (207 TCN – 40)    Nhà Triệu (207 – 111 TCN)
Hai Bà Trưng (40 – 43)
Bắc thuộc lần II (43 – 541)    Khởi nghĩa Bà Triệu
Nhà Tiền LýTriệu Việt Vương (541 – 602)
Bắc thuộc lần III (602 – 905)    Mai Hắc Đế    Phùng Hưng
Tự chủ (905 – 938)    Họ Khúc    Dương Đình Nghệ    Kiều Công Tiễn
Nhà Ngô (938 – 967)    Loạn 12 sứ quân
Nhà Đinh (968 – 980)
Nhà Tiền Lê (980 – 1009)
Nhà Lý (1009 – 1225)
Nhà Trần (1225 – 1400)
Nhà Hồ (1400 – 1407)
Bắc thuộc lần IV (1407 – 1427)    Nhà Hậu Trần    Khởi nghĩa Lam Sơn
Nhà Hậu Lê
   Nhà Lê sơ (1428 – 1527)
       trung    hưng (1533 – 1789) Nhà Mạc (1527 – 1592)
TrịnhNguyễn phân tranh
Nhà Tây Sơn (1778 – 1802)
Nhà Nguyễn (1802 – 1945)    Pháp thuộc (1887 – 1945)    Đế quốc Việt Nam (1945)
Chiến tranh Đông Dương (1945 – 1975)    Việt Nam Dân chủ Cộng hòa    Quốc gia Việt Nam    Việt Nam Cộng hòa    Cộng hòa Miền Nam Việt Nam
Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (từ 1976)

Tên gọi “Việt Nam” được cho là xuất xứ từ tên gọi “Nam Việt” (tiếng Trung: 南越, Nányuè), tồn tại vào thế kỷ 2 trước Công nguyên dưới thời nhà Triệu.[14] Trong đó, chữ “Việt” được xuất xứ từ thuật ngữ “Bách Việt” (tiếng Trung: 百越, Bǎiyuè), một thuật ngữ chỉ những người Việt không bị Hán hóa sinh sống tại phía Nam Trung Hoa và bắc Việt Nam cổ.[15] Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải, tên gọi “Việt Nam” xuất hiện lần đầu vào khoảng thế kỷ 15 trong bài Sấm Trạng Trình của Nguyễn Bỉnh Khiêm.[16]

Quốc danh “Việt Nam” được chính thức sử dụng lần đầu dưới thời vua Gia Long từ năm 1804 đến 1813.[14] Tên gọi này sau đó xuất hiện trong tác phẩm Việt Nam vong quốc sử của Phan Bội Châu năm 1905, và sau đó được sử dụng bởi Việt Nam Quốc dân Đảng.[17] Thời Pháp thuộc, đất nước thường được gọi bằng tên “An Nam” cho tới sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, chính quyền Việt Minh ở Hà Nội chính thức đặt quốc hiệu là “Việt Nam”.[18]

Thời tiền sử và cổ đại

Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy những dấu vết của người đứng thẳng (Homo erectus) vào thời kỳ đồ đá cũ trên lãnh thổ Việt Nam cách đây khoảng 500.000 năm; các công cụ thô sơ bằng đá và các dấu răng của con người thời tiền sử được phát hiện tại các tỉnh phía Bắc gồm Lạng Sơn, Thanh Hóa, Yên Bái, Ninh BìnhQuảng Bình.[19] Tại các vùng phía Bắc, con người sinh sống trong các hang động đá vôi và sống bằng các hoạt động săn thú, hái lượm. Trong khi đó, tại các vùng duyên hải miền Trung như Nghệ An, con người chủ yếu sống bằng hoạt động đánh cá.[19]

Đến thời đại đồ đá mới cách đây khoảng 5000–6000 năm, người Việt cổ bắt đầu biết canh tác lúa nước; hàng loạt dấu vết của việc trồng lúa đã được phát hiện trên khắp lãnh thổ, từ cao nguyên cho tới đồng bằng.[19] Ngoài ra, con người đã bắt đầu biết chế tác công cụ tinh tế hơn và làm đồ gốm với kỹ thuật tinh xảo đạt đến đỉnh cao.[19] Đến khoảng năm 1000 trước Công nguyên, khu vực lúa nước phát triển ở sông Hồng và sông Cả phát triển mạnh mẽ thành nền văn hóa Đông Sơn, nền văn minh đầu tiên của người Việt cổ, nổi tiếng với những trống đồng Đông Sơn tinh tế.[20] Sau đó, những nhà nước đầu tiên của người Việt, Văn LangÂu Lạc, lần lượt xuất hiện vào khoảng thiên niên kỷ 1 trước Công nguyên.[21]

Thời phong kiến

Hoàng thành Thăng Long là nơi đóng đô của nhiều triều đại phong kiến Việt Nam

Bản đồ thể hiện công cuộc Nam tiến mở rộng bờ cõi nước Việt từ Bắc xuống Nam trong vòng từ năm 1069-1757

Bắt đầu từ thế kỷ 2 TCN, người Việt bị các triều đại phong kiến Trung Quốc cai trị trong hơn một ngàn năm.[22] Sau nhiều lần khởi nghĩa không thành của những vị anh hùng Bà Triệu, Mai Thúc Loan hoặc chỉ giành độc lập ngắn của Hai Bà Trưng, Lý Bí, đến năm 905 Khúc Thừa Dụ đã giành quyền tự chủ cho người Việt, song chưa hẳn là giành được độc lập dân tộc.[23]

Đến năm 938, Việt Nam chính thức giành được độc lập lâu dài sau trận chiến lịch sử trên sông Bạch Đằng do Ngô Quyền chỉ huy, đánh bại quân Nam Hán.[24] Sau khi giành được độc lập, từ thế kỷ 10 đến thế kỷ 14 dân tộc Việt Nam đã xây dựng đất nước với quốc hiệu là Đại Việt, tổ chức chính quyền tương tự thể chế chính trị của các triều đại Trung Hoa, lấy Phật giáo làm tôn giáo chính của quốc gia và cho truyền bá những tư tưởng của Nho giáo, Đạo giáo và Phật giáo. Đến năm 1406-1407, Đại Việt bị nhà Minh của Trung Hoa xâm lược, giai đoạn độc lập của người Việt bị gián đoạn. Sau đó, Lê Lợi đánh đuổi quân Minh, lập nên nhà Hậu Lê, giành lại độc lập cho dân tộc Việt. Triều Hậu Lê là triều đại mà chế độ phong kiến Việt Nam đạt đến đỉnh cao, đặc biệt là đời vua Lê Thánh Tông (1460-1497).[25]

Vào thế kỷ 16, khi nhà Hậu Lê suy yếu, hai thế lực phong kiến lớn của Việt Nam là tập đoàn Lê-Trịnh và chúa Nguyễn tranh chấp nhau, gây nên cuộc nội chiến Trịnh-Nguyễn phân tranh kéo dài hơn một trăm năm, chia cắt Đại Việt thành đàng Ngoàiđàng Trong. Sau đó, Nguyễn Huệ đánh bại cả hai lực lượng và lập nên nhà Tây Sơn, thống nhất Đại Việt. Nhà Tây Sơn tồn tại trong khoảng thời gian ngắn ngủi và sau đó bị Nguyễn Ánh cùng với viện trợ từ Pháp lật đổ, lập nên nhà Nguyễn, triều đại phong kiến cuối cùng của Việt Nam.[26]

Trong suốt thời đại phong kiến, các triều đại Lý, Trần, Hậu Lê và Nguyễn đã có công thu phục Chiêm Thành, Chân LạpTây Nguyên ở phía Nam, mở mang bờ cõi đất nước.[27]

Lịch sử hiện đại

Đại lộ Paul Bert, Hải Phòng thời Pháp thuộc

Đến giữa thế kỷ 19, thực dân Pháp tiến hành xâm lược bán đảo Đông Dương, thâu tóm ba nước Việt Nam, LàoCampuchia làm thuộc địa. Đến năm 1887, ba quốc gia trên sát nhập thành Liên bang Đông Dương, chính thức trở thành thuộc địa của Pháp. Trong thời gian này, Thiên Chúa giáo được truyền bá vào Việt Nam, cùng với những phong tục, tập quán Tây phương, dần dần trở nên phổ biến song hành với những phong tục văn hóa truyền thống.[28] Trong chiến tranh thế giới thứ hai, đế quốc Nhật Bản đảo chính Pháp và chiếm toàn thể Đông Dương. Ngay sau khi hay tin đế quốc Nhật đầu hàng quân Đồng Minh, Hồ Chí Minh đã lãnh đạo Việt Minh giành lại chính quyền từ tay Nhật. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập và thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước tự chủ đầu tiên của người Việt thời hiện đại.[29]

Trực thăng Hoa Kỳ phun chất độc hóa học (có thể là chất độc da cam) xuống đồng bằng sông Cửu Long năm 1969

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Pháp muốn chiếm lại thuộc địa Đông Dương nhưng vấp phải sự phản kháng quyết liệt của người Việt Nam do lực lượng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Việt Minh) lãnh đạo. Để đối chọi lại với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, năm 1949, Pháp cho thành lập Quốc gia Việt Nam do Bảo Đại (từng là hoàng đế nhà Nguyễn) làm Quốc trưởng.[30][liên kết hỏng]

Sau chiến thắng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại chiến trường Điện Biên Phủ ngày 7 tháng 5 năm 1954, Pháp buộc phải rút khỏi Đông Dương. Hiệp định Genève được ký kết đã chấm dứt ách đô hộ gần một trăm năm của thực dân Pháp tại Việt Nam, đồng thời chia nước Việt Nam thành hai vùng tập kết quân sự cho Quân Đội Nhân Dân Việt Nam ở phía bắc và quân đội Liên Hiệp Pháp (bao gồm Quốc gia Việt Nam) ở phía nam, lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới tạm thời, dự kiến sau hai năm sẽ tiến hành tổng tuyển cử cả nước.[31] Tuy nhiên, vì nhiều tác nhân bên ngoài, đặc biệt là sự can thiệp chính trị của Hoa Kỳ và sự bác bỏ tổng tuyển cử toàn quốc của chính quyền Ngô Đình Diệm nên ở miền Nam, việc bầu cử thống nhất đất nước đã không thực hiện được. Tại miền Nam, chính thể Việt Nam Cộng hòa thành lập trên cơ sở kế thừa Quốc gia Việt Nam, được Hoa Kỳ hậu thuẫn và được công nhận bởi nhiều quốc gia đồng minh với Hoa Kỳ.[32] Tại miền Bắc, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa theo mô hình xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao Động Việt Nam được Liên Xô, Trung Quốc hậu thuẫn và được các nước trong khối xã hội chủ nghĩa khác công nhận và giúp đỡ. Từ đây, Việt Nam bị chia thành hai nửa: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa theo xã hội chủ nghĩa và chủ nghĩa cộng sản, còn Việt Nam Cộng hòa thì theo chủ nghĩa tư bảnchống cộng sản.[7]

Năm 1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời tại miền Nam với mục tiêu đoàn kết những người dân miền Nam có tinh thần chống lại sự can thiệp của Mỹ, muốn đánh đổ chế độ Việt Nam Cộng hòa để thực hiện thống nhất Việt Nam.[33] Xung đột quân sự dần trở nên nghiêm trọng và kéo dài suốt hai thập kỷ (gọi là cuộc chiến tranh Việt Nam). Năm 1964, Hoa Kỳ chính thức can thiệp quân sự, đưa quân Mỹ vào chiến đấu trực tiếp tại chiến trường Nam Việt Nam và thực hiện các đợt ném bom vào miền Bắc.[34] Năm 1968, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam thực hành tổng tấn công khắp miền Nam nhân dịp Tết Mậu Thân, gây ra những tổn thất lớn cho Hoa Kỳ và làm cho phong trào phản chiến tăng mạnh.[35] Đến tháng 1 năm 1973, sau những tổn thất vượt ngưỡng chịu đựng trên chiến trường Việt Nam, cùng với những khó khăn trên chính trường Mỹ cộng với tác động của phong trào phản chiến trong nước và trên thế giới, Hoa Kỳ ký Hiệp định Paris và rút quân khỏi Việt Nam. Cuộc chiến kết thúc vào ngày ngày 30 tháng 4 năm 1975 khi chính quyền tổng thống Dương Văn Minh của Việt Nam Cộng Hòa đầu hàng trước lực lượng quân Giải phóng tiến vào Sài Gòn.[36]

Năm 1976, nước Việt Nam thống nhất đổi quốc hiệu thành nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam; Sài Gòn – Chợ Lớn đổi tên thành Thành phố Hồ Chí Minh. Sau chiến tranh, do nhiều cuộc chiến tiếp tục nổ ra (chiến tranh biên giới phía Bắcchiến tranh biên giới Tây Nam) và chính sách kinh tế bao cấp của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước lâm vào các khủng hoảng trầm trọng về kinh tế và xã hội, đồng thời bị Hoa Kỳ cấm vận thương mại trong gần hai thập kỷ, do đó Việt Nam vốn đã bị tàn phá bởi chiến tranh nay lại càng nghèo đói hơn.[8] Năm 1986, Đại hội Đảng lần VI năm 1986 chấp thuận chính sách Đổi mới theo đó cải tổ bộ máy nhà nước, và chuyển đổi nền kinh tế theo hướng kinh tế thị trường định hướng chủ nghĩa xã hội.[37] Giữa thập niên 1990, Việt Nam bắt đầu hội nhập vào cộng đồng quốc tế. Năm 1994, Việt Nam bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ,[8] và một năm sau đó, Việt Nam gia nhập khối ASEAN. Hiện nay, Việt Nam là thành viên của 63 tổ chức quốc tế như Liên Hiệp Quốc (ECOSOC, UNESCO), Cộng đồng Pháp ngữ, ASEAN, APEC.[38] Ngày 11 tháng 1 năm 2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) sau 11 năm đàm phán.[39]

Địa lý

Bài chi tiết: Địa lý Việt Nam

Bản đồ địa hình Việt Nam

Việt Nam nằm trong bán đảo Đông Dương, thuộc vùng đông nam châu Á. Lãnh thổ Việt Nam chạy dọc bờ biển phía đông của bán đảo này. Việt Nam có đường biên giới đất liền dài 4.550 km: phía Bắc giáp Trung Quốc, phía Tây giáp CampuchiaLào và phía Đông giáp biển Đông.[40]

Việt Nam có diện tích 331.698 km², bao gồm khoảng 327.480 km² đất liền và hơn 4.500 km² biển nội thủy, với hơn 2.800 hòn đảo, bãi đá ngầm lớn nhỏ, gần và xa bờ, bao gồm cả Trường SaHoàng Sa mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền, có vùng nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tếthềm lục địa được Chính phủ Việt Nam xác định gần gấp ba lần diện tích đất liền khoảng trên 1 triệu km².

Địa hình Việt Nam rất đa dạng theo các vùng tự nhiên như vùng tây bắc, đông bắc, Tây Nguyên có những đồi và những núi đầy rừng, trong khi đất phẳng che phủ khoảng ít hơn 20%. Núi rừng chiếm độ 40%, đồi 40%, và độ che phủ khoảng 75%. Các vùng đồng bằng như đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long và các vùng duyên hải ven biển như Bắc Trung BộNam Trung Bộ. Nhìn tổng thể Việt Nam gồm ba miền với miền Bắc có cao nguyên và vùng châu thổ sông Hồng, miền Trung là phần đất thấp ven biển, những cao nguyên theo dãy Trường Sơn, và miền Nam là vùng châu thổ Cửu Long. Điểm cao nhất Việt Nam là 3.143 mét, tại đỉnh Phan Xi Păng, thuộc dãy núi Hoàng Liên Sơn. Diện tích đất canh tác chiếm 17% tổng diện tích đất Việt Nam.

Về tài nguyên đất, Việt Nam có rừng tự nhiên và nhiều mỏ khoáng sản trên đất liền với phốt phát, than đá, chôrômát,vàng…Về tài nguyên biển thì có , tôm, dầu mỏ, khí tự nhiên.Với hệ thống sông, hồ nhiều, đây là tiềm năng cho thủy điện phát triển.

Khí hậu

Bài chi tiết: Khí hậu Việt Nam

Việt Nam có khí hậu nhiệt đới xavan ở miền Nam với hai mùa (mùa mưa, từ giữa tháng 5 đến giữa tháng 9, và mùa khô, từ giữa tháng 10 đến giữa tháng 4) và khí hậu cận nhiệt đới ẩm ở miền Bắc với bốn mùa rõ rệt (mùa xuân, mùa hè, mùa thumùa đông), còn miền trung và Nam bộ có đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa. Do nằm dọc theo bờ biển, khí hậu Việt Nam được điều hòa một phần bởi các dòng biển và mang nhiều yếu tố khí hậu biển. Độ ẩm tương đối trung bình là 84% suốt năm. Hằng năm, lượng mưa từ 1.200 đến 3.000 mm, số giờ nắng khoảng 1.500 đến 3.000 giờ/năm và nhiệt độ từ 5 °C đến 37 °C. Hàng năm, Việt Nam luôn phải phòng chống bãolụt lội và hứng chịu 5 đến 10 cơn bão/năm.

Nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0,5 độ Celsius trong vòng 50 năm (1964 – 2014).[41]

Tôn giáo

Bài chi tiết: Tự do tín ngưỡng, Tôn giáo tại Việt Nam, và Tự do tôn giáo ở Việt Nam

Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo và tín ngưỡng. Cộng đồng các dân tộc tại Việt Nam đều có tín ngưỡng dân gian từ lâu đời. Cùng với các tôn giáo lớn của thế giới như Khổng giáo, Lão giáo, Phật giáo, Công giáo Rôma, Tin Lành, Hồi giáo, Việt Nam còn có một số tôn giáo tự sinh như đạo Cao Đàiđạo Hòa Hảo. Bên cạnh đó, có một lượng đáng kể người dân tự nhận mình là người không tôn giáo.

Giáo dục

Bài chi tiết: Giáo dục Việt Nam

Đại Học Bách Khoa Hà Nội(C1)

Nhà nước Việt Nam rất quan tâm đến việc phát triển giáo dục. Tỷ lệ ngân sách nhà nước dành cho giáo dục ngày càng tăng từ 10,89% năm 2005 tăng lên đến 12,05% năm 2010 và 16,85% năm 2012.[57]

Nền giáo dục Việt Nam hiện nay đang cố gắng hội nhập với các nước trong khu vực Đông Nam Á và trên Thế giới. Ở Việt Nam có 5 cấp học: tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, đại họcsau đại học. Các trường Đại học chủ yếu tập trung ở hai thành phố lớn là Hà NộiTP.Hồ Chí Minh. Theo kết quả đánh giá học sinh quốc tế (PISA) của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) được công bố ngày 3/12/2013, điểm trung bình môn Khoa học của học sinh Việt Nam ở độ tuổi 15 năm 2012 đứng thứ 8 thế giới.[58] Tuy nhiên có ý kiến cho rằng kết quả này không phản ánh đúng chất lượng giáo dục của Việt Nam vì các trường phổ thông theo chỉ thị của Bộ giáo dục Việt Nam đã chuẩn bị khá kỹ lưỡng cho kỳ thi PISA từ trước đó[59][60].

Về nền giáo dục bậc đại học, hiện nay Việt Nam có tổng số 376 trường đại học, cao đẳng trên cả nước, trong đó bộ Giáo dục và Đào tạo trực tiếp quản lý 54 trường, các Bộ, ngành khác quản lý 116 trường.Các tỉnh, thành phố là cơ quan chủ quản của 125 trường. Ba cơ sở đại học lớn nhất quốc gia gồm Đại học Bách Khoa Hà Nội, Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh. Năm 1988, Bộ Đại học ra Quyết định cho phép thành lập Trung tâm Đại học dân lập Thăng Long (hiện nay là Trường Đại học Thăng Long) như một mô hình giáo dục đại học mới, đánh dấu sự ra đời của trường đại học dân lập đầu tiên tại Việt Nam. Tính đến hiện nay toàn Việt Nam có 81 trường dân lập, tư thục. Tổng số sinh viên bậc đại học hiện nay khoảng 1.800.000 người, số lượng tuyển sinh hằng năm trong những năm gần đây khoảng 500.000 người/kỳ thi. Tuy nhiên đánh giá chung chất lượng đào tạo giáo dục bậc đại học ở Việt Nam còn thấp, chưa tạo được sự đồng hướng giữa người học, người dạy, nhà đầu tư cho giáo dục, người sử dụng lao động và xã hội. Quản lý nhà nước về giáo dục đại học còn nhiều trì trệ là nguyên nhân cơ bản của việc chất lượng giáo dục đại học Việt Nam ngày càng tụt hậu trước đòi hỏi của phát triển đất nước.[61] Nhưng nhà nước Việt Nam đang tích cực cải cách hệ thống giáo dục đại học bằng việc trao thêm quyền cho các trường đại học. Điều 32 Luật Giáo dục Đại học số 08/2012/QH13 được Quốc hội thông qua ngày 18/6/2012 quy định “Cơ sở giáo dục đại học tự chủ trong các hoạt động chủ yếu thuộc các lĩnh vực tổ chức và nhân sự, tài chính và tài sản, đào tạo, khoa học và công nghệ, hợp tác quốc tế, bảo đảm chất lượng giáo dục đại học. Cơ sở giáo dục đại học thực hiện quyền tự chủ ở mức độ cao hơn phù hợp với năng lực, kết quả xếp hạng và kết quả kiểm định chất lượng giáo dục.“. Điều 36 luật này cũng quy định “Hiệu trưởng cơ sở giáo dục đại học tổ chức biên soạn hoặc lựa chọn, duyệt giáo trình giáo dục đại học để sử dụng làm tài liệu giảng dạy, học tập trong cơ sở giáo dục đại học trên cơ sở thẩm định của Hội đồng thẩm định giáo trình do hiệu trưởng cơ sở giáo dục đại học thành lập.“, tuy nhiên “Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức biên soạn giáo trình sử dụng chung các môn lý luận chính trị, quốc phòng – an ninh để làm tài liệu giảng dạy, học tập trong các cơ sở giáo dục đại học“.[62] Các lãnh đạo hàng đầu của Chính phủ Việt Nam bày tỏ sự ủng hộ tự chủ đại học và yêu cầu thúc đẩy nhanh hơn nữa tiến trình này.[63] Tuy nhiên có ý kiến cho rằng các trường đại học Việt Nam chưa đủ năng lực và thiếu sự sẵn sàng cho việc tự chủ[64][65], các điều khoản trong Luật Giáo dục Đại học cho thấy quyền tự chủ của các trường đại học khó có thể trở thành hiện thực vì có quá nhiều điểm hoàn toàn trái với tinh thần tự chủ đại học hoặc mơ hồ đến độ không thể thực thi.[66]

Từ năm 2000 tới nay, nhiều học sinh Việt Nam đã đi du học ở các nước phát triển như: Mỹ, Anh, Úc, Pháp, Đức, Nhật… Riêng năm 2007 đã có 39.700 học sinh đi du học [67]

nói chung.

Văn hóa

Bài chi tiết: Văn hóa Việt Nam

Múa rối nước, một loại hình nghệ thuật sân khấu dân gian của Việt Nam

Văn hóa Việt Nam là nền văn hóa dân tộc thống nhất trên cơ sở đa dạng sắc thái văn hóa tộc người

Việt Nam có một nền văn hóa phong phú và đa dạng trên tất cả các khía cạnh, người Việt cùng cộng đồng 54 dân tộc anh em có những phong tục đúng đắn, tốt đẹp từ lâu đời, có những lễ hội nhiều ý nghĩa sinh hoạt cộng đồng, những niềm tin bền vững trong tín ngưỡng, sự khoan dung trong tư tưởng giáo lý khác nhau của tôn giáo, tính cặn kẽ và ẩn dụ trong giao tiếp truyền đạt của ngôn ngữ, từ truyền thống đến hiện đại của văn học, nghệ thuật.

Sự khác biệt về cấu trúc địa hình, khí hậu và phân bố dân tộc, dân cư đã tạo ra những vùng văn hoá có những nét đặc trưng riêng tại Việt Nam. Từ cái nôi của văn hóa Việt Nam ở đồng bằng sông Hồng của người Việt chủ đạo với nền văn hóa làng xã và văn minh lúa nước, đến những sắc thái văn hóa các dân tộc miền núi tại tây bắcđông bắc. Từ các vùng đất biên viễn của Việt Nam thời dựng nước ở Bắc Trung bộ đến sự pha trộn với văn hóa Chăm Pa của người ChămNam Trung Bộ. Từ những vùng đất mới ở Nam Bộ với sự kết hợp văn hóa các tộc người Hoa, người Khmer đến sự đa dạng trong văn hóa và tộc người ở Tây Nguyên.

Với một lịch sử có từ hàng nghìn năm của người Việt cùng với những hội tụ về sau của các dân tộc khác, từ văn hóa bản địa của người Việt cổ từ thời Hồng Bàng đến những ảnh hưởng từ bên ngoài trong hàng nghìn năm nay. Với những ảnh hưởng từ xa xưa của Trung QuốcĐông Nam Á đến những ảnh hưởng của Pháp từ thế kỷ 19, phương Tây trong thế kỷ 20 và toàn cầu hóa từ thế kỷ 21. Việt Nam đã có những thay đổi về văn hóa theo các thời kỳ lịch sử, có những khía cạnh mất đi nhưng cũng có những khía cạnh văn hóa khác bổ sung vào nền văn hóa Việt Nam hiện đại.

Ghi chú

  1. Bộ Ngoại giao. “Một số thông tin về địa lý Việt Nam”. Chính phủ Việt Nam. Bản gốc lưu trữ 14 tháng 10 năm 2009. Truy cập 19 tháng 3 năm 2012.
  2. “Vietnam – Geography”. Index Mundi. 12 tháng 7 năm 2011.
  3. “Thông cáo báo chí”. Tổng cục Thống kê. Truy cập 28 tháng 7 năm 2014.
  4. “2013 Human Development Index and its components – Statistics” (PDF). Chương trình Phát triển của Liên hiệp quốc. 2013. Bản gốc (PDF) lưu trữ 23 tháng 4 năm 2013. Truy cập 15 tháng 3 năm 2013.
  5. “Gini Index (estimate)”. Ngân hàng Thế giới. Truy cập 21 tháng 11 năm 2015.
  6. “Tầm quan trọng của đảo và quần đảo ở Việt Nam”, tiến sĩ Trần Nam Tiến, báo Tuổi Trẻ ngày 27 tháng 8 năm 2012.
  7. a ă “CIA Factbook: Vietnam”. Cơ quan Tình báo Trung ương (CIA). Truy cập 21 tháng 11 năm 2015.
  8. a ă â F. Martin, Michael (29 tháng 10 năm 2009). “U.S.-Vietnam Economic and Trade Relations: Issues for the 111th Congress” (PDF). CRS Report for Congress.
  9. a ă “Vietnam’s new-look economy”. BBC. 18 tháng 10 năm 2004.
  10. Một số thông tin cơ bản về Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bộ Ngoại giao Việt Nam. tr. 25.
  11. “Distribution of Family Income – Gini Index”. Cơ quan Tình báo Trung ương (CIA). Truy cập 27 tháng 11 năm 2011.
  12. “ScienceDirect – Journal of Econometrics: On decomposing the causes of health sector inequalities with an application to malnutrition inequalities in Vietnam”. Science Direct. 12 tháng 9 năm 2002. doi:10.1016/S0304-4076(02)00161-6. Truy cập 6 tháng 8 năm 2011.
  13. Gallup, John Luke (2002). “The wage labor market and inequality in Viet Nam in the 1990s”. REPEC. Truy cập 7 tháng 11 năm 2010.
  14. a ă Woods 2002, tr. 38
  15. Yue-Hashimoto 1972, tr. 1
  16. Thành Lân (14 tháng 3 năm 2003). “Ai đặt quốc hiệu Việt Nam đầu tiên?”. Đại sứ quán Việt Nam tại Hoa Kỳ (báo Đại Đoàn Kết).
  17. Tonnesson & Antlov 1996, tr. 117
  18. Tonnesson & Antlov 1996, tr. 126
  19. a ă â b “Origin of Vietnamese People”. American Technologies, Inc. (Business Collaboration Services). Lưu trữ ngày 6 tháng 1 năm 2010.
  20. Cooke, Li & Anderson 2011, tr. 46
  21. Ngô Văn Thạo, tr. 823-824
  22. “History of Vietnam: Chinese Colonization”. Windows on Asia (Asian Studies). Lưu trữ ngày 25 tháng 8 năm 2007.
  23. Hà Anh Thư 2000, tr. 29
  24. “Spears offer insight into early military strategy”. Thông tấn xã Việt Nam (tiếng Anh), 22 tháng 1 năm 2006. Lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2009.
  25. Việt Nam sử lược (越南史略), Trần Trọng Kim tr. 99.
  26. Eugene Page & M. Sonnenburg, tr. 723
  27. Đại Việt sử lược, tr. 52
  28. “French Counterrevolutionary Struggles: Algeria and Indochina” (PDF). Học viện Quân đội Hoa Kỳ (1968), lưu trữ ngày 11 tháng 8 năm 2011.
  29. Hirschman, Charles; Preston, Samuel; Vũ Mạnh Lợi (1995). “Vietnamese Casualties During the American War: A New Estimate” (PDF). 21 (4): 783–812. JSTOR 2137774.
  30. http://www.hue.vnn.vn/vedephue/201206/Cuu-hoang-Bao-dai-va-nhung-canh-bac-de-vuong-2161292/
  31. Nash, Gary B., Julie Roy Jeffrey, John R. Howe, Peter J. Frederick, Allen F. Davis, Allan M. Winkler, Charlene Mires, and Carla Gardina Pestana. The American People, Concise Edition Creating a Nation and a Society, Combined Volume (ấn bản thứ 6). New York: Longman, 2007.
  32. Robert C. Doyle (2010). The Enemy in Our Hands: America’s Treatment of Enemy Prisoners of War from the Revolution to the War on Terror. Đại học Kentucky. tr. 269. ISBN 978-0-8131-2589-3.
  33. “Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam với cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Trần Trọng Tân, Tạp chí Mặt Trận (số 86, tháng 12 năm 2010).
  34. “Vietnam War”, Clark D. Neher, Đại học Bắc Illinois (Hoa Kỳ).
  35. “The Massacre at Huế”. Tạp chí Time đăng ngày 31 tháng 10 năm 1969.
  36. Malcolme W. Browne (13 tháng 10 năm 1999). “Saigon’s Finale”, đăng trên báo The New York Times.
  37. “Đổi mới bắt đầu từ đâu?”. Báo Cần Thơ đăng tải ngày 19 tháng 10 năm 2005. Lưu trữ ngày 25 tháng 10 năm 2005.
  38. a ă “Các tổ chức quốc tế”, Bộ Ngoại Giao Việt Nam. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2015.
  39. “Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO” (Thông cáo báo chí). Xuân Danh, Báo Thanh niên. 8 tháng 11 năm 2006. Truy cập 9 tháng 12 năm 2011.
  40. “Một số thông tin về địa lý Việt Nam”. Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Bộ Ngoại giao). Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2015.
  41. Biến đổi khí hậu trong quá khứ và tương lai ở Việt Nam Mỹ Xuân – EINFO (Dựa trên đề tài nghiên cứu của Phan Văn Tân, Ngô Đức Thành, Khoa Khí tượng Thuỷ văn và Hải dương học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN) 05/11/2014, 20:44:23
  42. Đa số đại biểu trúng cử Quốc hội là Đảng viên VOA Thứ Ba, 29 tháng 5 2007
  43. “iệt Nam đã trúng cử Hội đồng Kinh tế – xã hội LHQ”.
  44. “Tham nhũng trong mắt người dân đô thị VN” (Thông cáo báo chí). BBC. Ngày 16 tháng 12 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2011.
  45. “Việt Nam tham nhũng thứ ba châu Á?” (Thông cáo báo chí). BBC. Ngày 8 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2011.
  46. GDP per capita, PPP (current international $) cập nhật 14/4/2015, truy cập 20/4/2015
  47. “Kinh tế đi xuống sau 5 năm gia nhập WTO” (Thông cáo báo chí). VnExpress. Ngày 3 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2013.
  48. a ă â Niên giám các năm 2000, 2005, 2006, 2007, 2008, 2009, 2010, Tổng cục Thống kê
  49. Niên giám thống kê tóm tắt 2014
  50. “Vì sao cần tăng cường quản lý báo điện tử?” (Thông cáo báo chí). Nguyễn Công Dũng, Tạp chí Cộng sản. Ngày 7 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2011.
  51. “Khách quốc tế đến Việt Nam tháng 12 và 12 tháng năm 2013”. Tổng cục Thống kê. 25 tháng 12 năm 2013. Truy cập 1 tháng 12 năm 2014.
  52. Dân số trung bình phân theo địa phương qua các năm, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
  53. The World Factbook CIA cập nhật tháng 7 năm 2014
  54. Vietnam – Geography. Index Mundi. ngày 12 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2011.
  55. “Dân số Việt Nam vượt mốc 90 triệu người”. Báo Điện tử Đài Tiếng nói Việt Nam. Truy cập 16 tháng 8 năm 2015.
  56. BÁO CÁO KẾT QUẢ CHÍNH THỨC Tổng điều tra dân số và nhà ở 1/4/2009 7/2010
  57. Niên giám Thống kê 2013, Trung tâm Tư liệu Thống kê – Tổng Cục Thống kê Việt Nam
  58. Học sinh Việt Nam vượt Mỹ về Toán và Khoa học, Xuân Vũ, Báo điện tử Dân trí, 04/12/2013
  59. Việt Nam vượt Mỹ, Úc nhờ… luyện ‘gà chọi’?, Vietnamnet, 18/05/2015
  60. Bộ Giáo dục bất ngờ với kết quả xếp hạng học sinh, Vietnamnet, 04/12/2013
  61. VnExpress – 30 năm chất lượng giáo dục đại học bị ‘bỏ ngỏ’ – 30 nam chat luong giao duc dai hoc bi ‘bo ngo’ Tiến Dũng, Thứ sáu, 30/10/2009 | 09:11 GMT+7
  62. Luật số 08/2012/QH13 của Quốc hội: LUẬT GIÁO DỤC ĐẠI HỌC, CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CHÍNH PHỦ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 18 tháng 6 năm 2012
  63. Thủ tướng thúc nhanh việc trao tự chủ đại học, Báo VietNamNet, 26/08/2014
  64. Thiếu sẵn sàng tự chủ ĐH, Tuổi Trẻ Online, 01/08/2014
  65. Tự chủ đại học – cái nhìn từ nhiều phía, Tuổi Trẻ Online, 08/01/2013
  66. Tự chủ đại học ở Việt Nam: Thiếu thực chất, Vũ Thị Phương Anh, Tạp chí Tia Sáng, 22/08/2014
  67. Muôn nẻo đường du học Cập nhật: Thứ ba, 04-03-2008 theo giaoduc.edu.vn
  68. “Số cơ sở khám, chữa bệnh (chưa kể cơ sở tư nhân)” (Thông cáo báo chí). Tổng cục Thống kê (Việt Nam). Ngày 6 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2012.
  69. “Số giường bệnh (chưa kể cơ sở tư nhân)” (Thông cáo báo chí). Tổng cục Thống kê (Việt Nam). Ngày 6 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2012.
  70. a ă Nỗ lực giảm tải và những tín hiệu vui Thái Bình, Báo SứcKhoẻ và Đời Sống cập nhật 1/9, 2014 | 06:00
  71. PHONG TRÀO THI ĐUA YÊU NƯỚC TRONG CHẶNG ĐƯỜNG XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH Y TẾ VIỆT NAM 01/03/2010 10:31:40 AM ghi lại Bài phát biểu của TS. Nguyễn Quốc Triệu – Bộ trưởng Bộ Y tế tại Phủ Chủ tịch nhân Lễ kỷ niệm ngày Thầy thuốc Việt Nam chiều 24/02/2010
  72. VOVNEWS.VN | Ngành Y tế 55 năm làm theo lời Bác dạy – Nganh Y te 55 nam lam theo loi Bac day Văn Hải hứ 7, 16:30, 27/02/2010
  73. Năm 2009, ngành y tế triển khai hiệu quả các nguồn vốn viện trợ ĐCSVN 21:04 | 04/02/2010
  74. Tham nhũng trong ngành y tế nghiêm trọng – Tuổi Trẻ Online Minh Quang 26/11/2009 22:48 GMT+7
  75. Vietnam was among 8 safest destinations: MSN Travel | Tuổi Trẻ news cập nhật 10/21/2012 14:08 GMT + 7
  76. a ă â Khánh Hiền (5 tháng 12 năm 2012). “Việt Nam chịu ảnh hưởng của các điểm “nóng” tội phạm ma túy – Pháp luật – Dân trí”. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2015.
  77. “Tệ lô đề ở Việt Nam lên báo nước ngoài – VnExpress”. VnExpress. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2012.
  78. “Binh Dinh to host Int’l Vovinam festival”. TalkVietnam.com. Ngày 6 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2012.
  79. “Soccer is very popular in Vietnam”. SaigonNezumi.com. Ngày 2 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2012.
  80. “BBC Vietnamese – Thể thao – TQ hay Mỹ sẽ đứng đầu bảng Olympic?”. BBC Online. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2012.
  81. Vision of Humanity
  82. Country Rankings, truy cập 11/4/2015
  83. “World Press Freedom Index 2014. Trang 31” (PDF) (Thông cáo báo chí). Phóng viên không biên giới. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2015.
  84. “CORRUPTION PERCEPTIONS INDEX 2014” (Thông cáo báo chí). Tổ chức Minh bạch Quốc tế. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2015.
  85. Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc. “Human Development Indicators” (bằng tiếng Anh). Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2014.
  86. “The Global Competitiveness Index 2011-2012 rankings” (PDF) (Thông cáo báo chí). Diễn đàn Kinh tế thế giới. 2011. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2011.
  87. “2013 KOF Index of Globalization (Rankings are based on data for the year 2010 – Xếp hạng dựa trên dữ liệu năm 2010)” (PDF) (Thông cáo báo chí). KOF. 2013.
  88. “The Global Gender Gap Report 2010” (PDF) (Thông cáo báo chí). Diễn đàn Kinh tế thế giới. 2010. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2011.
  89. “2011 Global Hunger Index” (PDF) (Thông cáo báo chí). IFPRI. 2011. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2011.
  90. “Country Profile: Viet Nam” (Thông cáo báo chí). EPI. 2014. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2014.

Nguồn tham khảo

Woods, L. Shelton (2002). Vietnam: a global studies handbook. ABC-CLIO. ISBN 1-57607-416-1.

Yue-Hashimoto, Oi-kan (1972). Phonology of Cantonese. Đại học Cambridge (Anh Quốc). ISBN 978-0-521-08442-0.

Tonnesson, Stein; Antlov, Hans (1996). Asian Forms of the Nation. Routledge. ISBN 0700704426.

 

 

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s