Thắng Tích Chùa Đậu

Thắng tích
Là một trong những ngôi pháp vũ danh tiếng của đất Hà Tây cũ, chùa Đậu có tên chữ là “Thành Đạo Tự”, tọa lạc ở thôn Gia Phúc, xã Nguyễn Trãi, huyện Thường Tín, Hà Nội. Theo cuốn sách đồng còn lưu lại ở chùa có từ thời Sĩ Nhiếp (đầu thế kỷ thứ 3), có ghi khá rõ về sự tích Mang Nương và quá trình du nhập cũng như thành hình văn hóa, Đạo Phật Ấn Độ lúc bấy giờ ở nước ta. Vì chùa còn có thờ một pho tượng Bà Đậu, là ảnh hưởng văn hóa tín ngưỡng thờ Thần Nông đã ăn sâu vào người dân bản địa nên thường được gọi bằng cái tên dân dã là Chùa Đậu hay Pháp Vũ Tự.Quá trình hình thành
Cũng theo cuốn sách đồng, thì chùa được xây dựng vào đầu Công nguyên, thời Bắc Thuộc (602 – 939). Trong một lần Quách Thông đi hành đạo đến làng Gia Phúc, thấy thế đất ở đây tựa như hình đóa sen đang nở, lại thêm linh khí hội tụ nên trình lên Sĩ Nhiếp. Sĩ Nhiếp nghĩ đây là đất Phật nên cho xây dựng ngôi Bảo Tự “Thành Đạo Tự” và rước thánh tượng Pháp Vũ trong tứ pháp về thờ nên chùa còn có tên là Pháp Vũ Tự. Nhưng khảo cứu theo những văn bia thì chùa được xây dựng dưới triều nhà Lý, Thế kỷ 11. Và sau đó đã được trùng tu nhiều lần. Có một lần trùng tu lớn năm 1635 dưới thời vua Lê Thần Tông, do bà cung tần Ngô Thị Ngọc Nguyên đứng ra cung tiến. Sau đó cũng đã có thêm nhiều lần tu bổ. Như có những chứng tích từ thời nhà Mạc và một số văn bia có niên hiệu Sùng Khang (1566 – 1577). Đến năm 1947 chùa lại bị phá hủy trong chiến sự… Và hiện nay chùa vẫn đang được tiếp tục trùng tu.

Kiến trúc
Như bao nhiêu ngôi chùa khác, chùa Đậu cũng gắn liền với nét văn hóa của làng quê Việt, nằm ở mé làng và nhìn ra một cánh đồng rộng. Ngay trước tam quan là một hồ nước lớn, điểm thêm một nét chấm phá trong quần thể kiến trúc tuy giản dị mà mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc. Tiền cảnh của chùa là cổng Tam quan với cấu trúc hai tầng tám mái và được điểm xuyết những hình thể cách điệu đã làm tăng thêm nét đẹp thanh thoát của cấu trúc. Tầng trên trong tổng thể này cũng chính là gác chuông, một sự kết hợp hài hòa như nguồn diệu âm của chánh pháp hòa quyện với nét tinh anh của Dịch học và Nho giáo. Nơi đây treo quả chuông được đúc năm Cảnh Thịnh thứ 9 (1801) thời nhà Tây Sơn. Tiếng chuông chùa… là một thanh âm quen thuộc của mỗi làng quê Việt. 

Chuông chùa vọng tiếng ngân nga
Vác cuốc về thôi kẻo trời tà
Dẫn trâu đủng đỉnh lần lối cũ
Thấp thoáng lều tranh hãy còn xa.

Tổng thể của ngôi chùa được xây dựng theo lối “Nội Công Ngoại Quốc”. Nối tiếp giữa tam quan và tiền đường là một khoản sân rộng được lót gạch và hai bên tả hữu là hai tòa giải vũ, làm chốn nghỉ chân cho khách thập phương. Tiền đường, với lối kết cấu chồng rường (đặc trưng của nhà rường miền Bắc), uyển chuyển với nét chạm trổ tinh xảo với những hình thù như: long vờn, phượng vũ, lân hý thủy và những vân xoắn, mang đậm nét nghệ thuật giữa thế kỷ 17. Phần thượng điện đã bị tàn phá trong chiến tranh, hiện còn lại bệ đá với những hoa văn của thế kỷ 16. Nối với tiền đường và nhà Tổ là hai dãy hành lang, tạo thành hình chữ khẩu bao bọc lấy tòa thiêu hương và điện thờ bà Pháp Vũ (hậu cung), tượng của bà bằng đồng được làm từ năm 1951 và phía sau là một am thờ nhỏ.

Di Vật
Trong tổng thể của chùa có khá nhiều bia đá từ thế kỷ 16 đến 18. Chùa còn lưu giữ được sách đồng, ghi lại sự hình thành và quá trình phát triển ban đầu của chùa. Một khánh đồng được đúc vào năm 1774 với bài minh do Phan Trọng Phiên biên soạn. Các bản sắc phong qua các triều đại. Ở tiền đường còn có một khánh gỗ lớn, đây cũng là tấm bản văn ghi niên hiệu Chính Hòa. Trước tiền đường có đôi rồng đá thành bậc được làm từ thời Trần. Ngoài ra chùa còn lưu giữ được các hiện vật có giá trị về văn hóa và lịch sử của thời nhà Mạc và các triều đại khác của dân tộc. Gần đây, trong một lần tu bổ cũng đã phát hiện thêm ở chùa có gạch chữ vạn làm từ đất nung. Và ở đây cũng lưu giữ được hai tấm biển gỗ sơn son thiếp vàng khắc hai bài thơ nôm của chúa Trịnh Căn và chúa Trịnh Cương. Văn bản khắc trên gỗ thứ nhất bằng chữ Nôm của chúa Trịnh Cương làm năm 1718, tạm phiên âm như sau 

Ngự đề
Pháp Vũ tự thi
Vô biên công đức dậy lừng danh
Phơi ngỏ hồ thiên cảnh tứ thanh
Ngọc thỏ một vầng in địa trục
Bàn long đòi thế mở đồng tranh
Cầm thông gió quyến khi tuyên pháp
Hoa báu mưa rây thu ở diễn kinh
Tiết gặp thăng bình nhân thưởng ngoạn
Tuệ quang hay được khí chung linh.
Vĩnh Thịnh thập tứ niên thập nguyệt sơ cửu nhật

Văn bản khắc trên biền gỗ thứ hai, gồm lời dẫn bằng chữ Hán và bài thơ viết bằng chữ Nôm, của Định Vương Trịnh Căn làm năm 1698. Lời dẫn bằng chữ Hán tạm dịch như sau: “Giữa nơi bằng phẳng của vũ trụ, cảnh chẳng có mây hồng ráng tía, thú không có vách đá muôn hình mà tạo thành một thế giới lưu ly. Chùa Pháp Vũ thuộc đất Gia Phúc thật kỳ vĩ.
Trên mặt đất nổi lên đài sen, lầu son sáng rạng. Cây cỏ xum xuê rủ kín một trời, cành dương tốt tươi nhuần che muôn vật. Gió lành rười rượi hoà cùng lá bối, trăng sáng lung linh ánh với đàm hoa. Bốn phương rộng lớn đuốc tuệ dõi xa. Trăm sông về một mối, thuyền từ cập bến thiêng. Tinh linh mồn một như hiện ngay trước mắt. Công đức chất chồng không bề lượng tính. Ngẫu hứng trước danh thắng mà ngầm ngợi rằng: Bài thơ bằng chữ Nôm tạm phiên âm như sau:

“Thanh quang mẽ mẽ chốn giao quang
Gấp mấy trần gian mấy thế thường
Cả mở tượng đồ, đồ tuệ chiếu
Vẹn gồm khoa lục, lục kim c ương
Duềnh thâu bích hải quyền quanh quất
Sắc ánh từ vân sắc rỡ rang
Đức thịnh ngày càng ngày hiển ứng
Lành thay rành rãnh dấu đăng hương.
Chính Hoà Mậu Dần mạnh xuân cốc đán

Tượng trong chùa
Hiện hay chùa vẫn còn lưu giữ được các pho tượng cổ có từ thế kỷ 16 và một số pho tượng trước và sau đó. Tượng bà Pháp Vũ bằng đồng tuy mới được làm lại từ thế kỷ 20 nhưng vẫn giữ được phong cách tạc tượng của thế kỷ 17 nên cũng khá đẹp. Đặc biệt là ở đây còn lưu giữ được hai pho tượng (toàn thân xá lợi) của hai vị Vũ Khắc Minh và Vũ Khắc Trường. Được biết, đây là hai chú cháu, xuất gia tu tập và thay nhau trụ trì ngôi chùa vào nửa đầu thế kỷ 17. Đây là hai bậc chân tu đã thành tựu pháp Tam Muội, các vị đã thể nhập với pháp tướng và để lại cho hậu thế xá lợi toàn thân. Hiện nay hai pho tượng đang được tôn tạo và bảo quản. Du khách đến tham quan sẽ ngạc nhiên khi thấy có đến hai cặp tượng y như nhau, một cặp thờ trong chính điện, một cặp thờ ngoài hai cái miếu hai bên chính điện. Đó là cách đánh hoả mù để kẻ trộm tượng không phân biệt được đâu là thật đâu là giả.

Pháp Vũ huy hoàng chốn đất thiêng
Hai vị chân tu chứng đạo thiền
Là bậc tỏ nguồn vi diệu pháp
Trời Nam kim cổ vẫn lưu truyền.

Chùa Đậu là một tổng thể kiến trúc đặc sắc, đậm nét đân tộc. Đây là sự hòa quyện của văn hóa và tín ngưỡng dân gian còn lưu giữ lại những giá trị nghệ thuật và nhân bản qua bao thời đại; đồng thời là một chứng nhân của lich sử. Một trong những điểm sáng của văn hóa dân tộc, vì vậy cần được lưu giữ và bảo tồn. Từ xưa, đây đã là chỗ nương tựa tâm linh cho bao thế hệ. Chùa, đã gắn liền với những làng quê Việt, đã ăn sâu vào tâm thức của người dân Việt. Là một nét chấm phá đồng điệu của quê hương, là một phút thanh bình giữa bộn bề công việc.

Đều đặng oai hùng tiếng mỏ khua
Thanh tịnh trăng lên chiếu bóng chùa
Màu huyền lan trải dần lan trải
Chuông gọi ta về… nhớ cảnh xưa!

Hạnh Lam tổng hợp và đề thơ

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s