Thầy Thu – tác giả bức tượng “Thương Tiếc”

 

 

Khi cuộc chiến leo thang khốc liệt, năm 1966 Nghĩa trang Quân đội tại Hạnh Thông Tây, Gò Vấp, bắt đầu không còn đủ đất để các tử sĩ VNCH yên nghỉ. Chính phủ nền Đệ nhị Cộng hòa của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu phải tính đến việc thành lập một nghĩa trang mới và địa điểm được lựa chọn nằm dọc theo phía tay trái của xa lộ Biên Hòa nếu từ hướng Sài Gòn đi Biên Hòa.
Kiến trúc sư kiêm điêu khắc gia, Đại úy Nguyễn Thanh Thu, được lệnh của Tổng thống Thiệu lên đường đi Phi Luật Tân để nghiên cứu mô hình xây dựng Nghĩa trang Quân đội Hoa Kỳ tại Manila (American Cemetery in Manila), được coi là một nghĩa trang đẹp nhất Á châu.
… Sau chuyến đi tham khảo tại Phi Luật Tân, Đại úy Thu sẽ phải trình đề án lên Tổng thống Thiệu để giao cho công binh xây dựng một nghĩa trang mới mang tên Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa. Ông còn gợi ý phải có một tác phẩm điêu khắc tại cổng vào nghĩa trang để nói lên sự tri ân của mọi người tại hậu phương trước những tử sĩ được chôn cất tại đây.
Đại úy Nguyễn Thanh Thu xin một tuần để suy nghĩ về dự án và trước khi ra về anh còn được Tổng thống Thiệu nhắc nhở bằng những lời rất thân tình: “Anh cần chú ý đến ý nghĩa của nghĩa trang phải xoay quanh “cục nhưn” là bức tượng… Tôi đặt nhiều hy vọng vào anh…”.
Tất cả mọi chuyện chỉ bắt đầu một cách giản dị như vậy. Tuy nhiên, đối với nhà điêu khắc Nguyễn Thanh Thu đó là thời gian anh trăn trở nhiều nhất với những ý tưởng của một nghệ sĩ sáng tạo cho một công trình mang tầm vóc quốc gia nói lên lòng tri ân của mọi người đối với những chiến sĩ đã bỏ mình ngoài chiến trường.
Trong suốt một tuần lễ, hầu như ngày nào anh cũng có mặt tại nghĩa trang Hạnh Thông Tây để chứng kiến những cảnh tang tóc, đau thương của vợ con tử sĩ. Nhà chứa xác đầy nghẹt, những chiếc hòm chưa chôn còn mịt mù nhang khói tại những khu phải căng lều bạt chờ chôn… trong khi trực thăng vẫn hằng ngày tiếp tục chở xác về nghĩa trang.
Ngày cuối cùng của một tuần tìm ý tưởng là vào một buổi trưa Thứ Sáu trên đường từ Nghĩa trang Hạnh Thông Tây anh Thu ghé vào một quán nước gọi ly đá chanh. Và đây chính là giờ phút “định mệnh” khi anh nhìn thấy một người lính thuộc binh chủng Nhảy dù ngồi trước những chai bia và hai cái ly…
Anh lính ngồi nói chuyện với cái ly thứ hai trước sự ngạc nhiên của chủ quán lẫn khách uống nước. Hình như anh lính là người vừa thăm bạn được chôn cất tại Nghĩa trang Hạnh Thông Tây. Một ly anh cúng bạn và một ly anh uống. Anh ngồi vừa uống vừa nói chuyện với chiếc ly!
Cảm động trước hình ảnh một người lính khổ sở khi phải mất bạn, anh Thu cầm ly nước chanh bước qua bàn làm quen. Anh lính ngước lên nhìn anh Thu với vẻ khó chịu vì sự riêng tư của mình bị người lạ làm phiền và tiếp tục trở về với ly bia “cúng” bạn.
Anh Thu cũng bị lúng túng vì thái độ “bất hợp tác” của anh lính nhảy dù. Mấy cô bán hàng lại cười khúc khích, có lẽ các cô nghĩ nãy giờ có một người “điên” ngồi uống bia nói chuyện với cái ly và bây giờ lại thêm người “điên” nữa lân la đến làm quen.
Người lính tiếp tục gục đầu ngồi độc thoại, phớt lờ những lời xã giao làm quen của anh Thu. Dường như anh tưởng bị quân cảnh hỏi giấy nên lẳng lặng móc bóp giấy tờ cho anh Thu mà không hề ngước mắt nhìn và tiếp tục uống!
Anh Thu cầm bóp trở về bàn mình và ghi lại tên anh lính: Võ Văn Hai, cấp bậc Hạ sĩ, binh chủng Nhảy dù, cả tên tiểu đoàn lẫn KBC (Địa chỉ Khu Bưu Chính của quân lực VNCH). Khi anh Thu trả lại giấy tờ, Hạ sĩ Võ Văn Hai nhét vào túi với vẻ bất cần, cũng không thèm ngước mặt nhìn lên.
Khuya Thứ Sáu anh Thu mới bắt đầu vẽ để sáng Thứ Bảy trình Tổng thống. Từ 8g tối đến 6g sáng anh phác thảo được 7 bản vẽ trong tiếng súng và bom thỉnh thoảng vọng về Sài Gòn. Những ý nghĩ ở một hậu phương yên bình trong khi những người lính ngày cũng như đêm xả thân ngoài chiến trường khiến anh Thu dồn hết tâm trí vào những nét vẽ của mình.
Anh Thu hôm đó chỉ ngủ 2 tiếng thì bị đánh thức bởi tiếng chó sủa, thì ra theo lời của vợ anh: “Có người đến nhà mời anh đi trình dự án!”. Họ đến sớm để mời anh đi ăn sáng trước khi gặp Tổng thống Thiệu. Lần trước đây anh gặp Tổng thống để bàn về dự án tại Bộ Tổng tham mưu nhưng lần trình dự án lại là tại dinh Gia Long.
Lịch gặp Tổng thống vào lúc 9 giờ sáng nhưng vì Tổng thống còn đang tiếp khách nên anh Thu trong lúc đi lại trên hành lang dinh Gia Long bỗng nảy ra câu hỏi “Tại sao lại không vẽ Võ Văn Hai?”. Nghĩ là làm ngay. Anh tưởng tượng một bố cục dựa trên hình ảnh Hạ sĩ Hai ngồi nhớ bạn tại quán nước.
Anh trở ngay vào phòng Đại tá Cầm, tùy viên của Tướng Thiệu, chụp một cây bút nguyên tử, lấy trong giỏ rác một bao thuốc lá và rút mảnh giấy bọc bao thuốc trở ra hành lang ngồi vẽ lại hình ảnh Hạ sĩ Hai.
Một lần nữa, “định mệnh” lại ra tay: trong 7 bản vẽ mang theo, anh Thu thấy bản cuối cùng, một “tốc họa” trên bao thuốc lá tại dinh Gia Long, là bản anh ưng ý nhất. Đến khi vào gặp Tổng thống, anh trải 7 bản vẽ lên sàn nhà trước bàn làm việc, bản vẽ cuối cùng trên bao thuốc lá anh vẫn còn cầm trên tay.
Tổng thống Thiệu sau khi đi tới, đi lui ngắm 7 bản vẽ, ông nói: “Anh là “cha đẻ” của dự án này nên theo ý anh, bức nào làm anh hài lòng nhất”. Phải nói, anh Thu là người thật thà, chất phác, anh thẳng thắn trình bày: “Thưa Tổng thống, nếu Tổng thống cho tôi chọn lại thì bản vẽ mới đây tôi vừa nghĩ ra và vẽ vội trên bao thuốc lá lại là bản vẽ tôi ưng ý nhất… nhưng tôi sợ mình quá vô lễ để đưa ra tại đây”.
Tổng thống Thiệu vui vẻ và đồng ý xem “tốc họa” trên bao thuốc lá. Ông cầm bản phác thảo Hạ sĩ Võ Văn Hai về ngồi trên ghế ngắm nghía, một lúc sau ông nói: “Anh Thu à, người nghệ sĩ hay lãng mạn lắm mà chiến sĩ của mình thực tế hơn, họ cần một cái tên cho đề tài, anh cho tôi biết đề tài của bức hình là gì đây?”.
Anh Thu lần lượt đề nghị các tên: (1) Khóc bạn, (2) Tình đồng đội, (3) Nhớ nhung, (4) Thương tiếc và (5) Tiếc thương. Cuối cùng Tổng thống chọn tên “Thương Tiếc” cho bức phác họa Hạ sĩ Võ Văn Hai ngồi nhớ bạn. Tổng thống còn nhắc nhở phải làm sao nói lên được ý nghĩa vừa thương tiếc bạn bè nằm xuống nhưng cũng phải thể hiện tinh thần chiến đấu của người lính VNCH lúc nào cũng vững tay súng.
Bất ngờ, Tổng thống yêu cầu anh vẽ một bản thứ hai lớn hơn, vẽ tại chỗ, ngay ở dinh Gia Long. Thế là với dụng cụ giấy vẽ, bảng đen và các loại màu được cung cấp ngay theo yêu cầu, anh Thu bắt đầu… “ra tay” trước mặt Tổng thống Thiệu và một số sĩ quan thân cận của ông.
Anh Thu có thêm yêu cầu cần một người ngồi làm mẫu… và trong số các sĩ quan hiện diện, chính Đại tá Cầm “xung phong” làm… người mẫu! Thực ra thì hình ảnh Đại tá Cầm mặc quân phục chỉnh tề, “ủi hồ láng cóng”, không thích hợp với hình ảnh người lính thật sự nhưng đó chỉ là một hình ảnh gợi ý để sáng tác cấp tốc.
Anh Thu còn xin thêm thêm một khẩu súng trường cho Đại tá Cầm để trên đùi, đó là khẩu Garant M1 đang được quân đội sử dụng trên chiến trường… Anh cũng đề nghị trong lúc anh vẽ, tất cả mọi người miễn đặt câu hỏi, vì nếu như thế anh sẽ mất sự tập trung trong sáng tác và sẽ thất lễ nếu anh không dừng vẽ để trả lời.
Khó khăn của anh Thu là phải hoàn thành tác phẩm trong một thời gian gấp rút, anh tâm sự: “Lúc bấy giờ, không biết có một điều xui khiến vô hình nào đó mà tôi xuất thần phóng bút vẽ lại Hạ sĩ Hai… Không biết là tôi vẽ hay là ai nữa!”.
Sau khi Tổng thống Thiệu ký tên vào bức “tốc họa”, anh Thu chỉ có 3 tháng để hoàn tất công trình tượng đài trước ngày 1/11/1967, ngày Quốc khánh của VNCH. Vấn đề trước mắt là đi tìm “người mẫu” Võ Văn Hai trong quán nước ngày trước tại Gò Vấp. Anh đã tìm đến đơn vị của Hạ sĩ Hai và gặp vị Thiếu tá phụ trách đơn vị.
Thoạt đầu khi nghe anh Thu trình bày vấn đề, vị Thiếu tá có vẻ băn khoăn, suy tính… nhưng khi thấy tận mắt bức họa có chữ ký của Tổng thống Thiệu, ông lại hãnh diện khi có người lính thuộc đơn vị nhảy dù của mình được chọn làm biểu tượng cho người lính VNCH tại nghĩa trang…, ra lệnh cho tập họp đại đội với súng ống đầy đủ để anh Thu chọn “người mẫu”, vì theo ông, trong đơn vị có nhiều người cao to tới 1,7 hoặc 1,8 mét, còn Hạ sĩ Hai chỉ cao chừng thước 1,6… Chính ông Thiếu Tá cũng chọn được 4 người lính lực lưỡng trong hàng đầu còn anh Thu thì chỉ réo tên Võ Văn Hai ở gần cuối hàng quân.
Anh Thu được giao 5 người lính nhảy dù để làm mẫu cho bức tượng Thương Tiếc trong vòng 3 tháng. Anh cũng nói riêng với các “người mẫu”, sự thật anh chỉ cần Hạ sĩ Hai, nhưng tất cả đều được nghỉ phép 3 tháng tại Sài Gòn với điều kiện chỉ được mặc quần áo dân sự để không bị quân cảnh làm khó dễ.
Chính hình ảnh Võ Văn Hai ngồi tiếc thương bạn trong quán nước đã ám ảnh anh Thu để sáng tạo ra bức tượng “Thương Tiếc” ngồi trước cửa Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa. Ngày ngày, anh Hai trong bộ quần áo dân sự đạp xe lên nhà anh Thu, tại đây anh thay bộ quân phục, với ba lô, súng đạn đầy đủ để ngồi làm mẫu.
Một hôm, khi bức tượng gần hoàn chỉnh chỉ còn thiếu chi tiết khuôn mặt, anh Thu đã cố tình để cho người lính ngồi một mình trong phòng, còn anh kín đáo quan sát qua bông gió trên tường. Đây là dụng ý của nhà điêu khắc muốn để anh ngồi một mình nhớ đến người bạn đã qua đời.
Anh Thu có thể thấy từng đường nét diễn biến trên khuôn mặt lúc anh lính ngồi buồn một mình và nhà điêu khắc đã phác họa lại trên giấy khuôn mặt anh. Phần mình, Hạ sĩ Võ Văn Hai lại sợ đã làm chuyện gì khiến Đại úy Nguyễn Thanh Thu phiền lòng nên cho anh về sớm mà không biết ông đã bí mật quan sát!
Khoảng 3 giờ sáng anh Thu thức dậy để bắt đầu giai đoạn hoàn chỉnh cuối cùng của bức tượng: nét mặt của người lính. Anh dùng đèn cầy để lấy ánh sáng chiếu vào nhiều góc cạnh, qua đó anh có thể sửa lại nét mặt người lính theo những gì anh phác họa.
Loại ánh sáng nhân tạo qua ánh đèn cầy có tác dụng điều chỉnh các góc cạnh của tác phẩm theo hướng người nghệ sĩ di chuyển từ nhiều phía. Anh Thu hoàn toàn bị cuốn hút vào những cảm xúc trên khuôn mặt người lính. Đó là những giây phút chỉ mình anh và nhân vật của bức tượng trong ánh sáng mờ ảo của cây đèn cầy.
Sau một giấc ngủ ngắn, anh tỉnh dậy sáng hôm sau để quan sát và so sánh công trình của mình đêm qua dưới ánh đèn cầy với ánh sáng ban ngày. Anh mừng vì khuôn mặt của người lính giữa ánh sáng tự nhiên ban ngày và ánh sáng nhân tạo từ đèn cầy vẫn hiện lên một nét buồn ray rứt.
Như vậy là điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu có thể hài lòng với công trình nghệ thuật kéo dài 3 tháng của mình. Và chúng ta được chứng kiến pho tượng “Thương Tiếc” ngồi trước cổng vào Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa từ năm 1967 cho đến sau ngày 30/4/1975.

Chuyện bây giờ mới kể về bức tượng “Thương Tiếc” được viết lại theo nội dung cuộc phỏng vấn của Lê Xuân Trường với nhà điêu khắc Nguyễn Thanh Thu qua một video clip dài 36,57 phút trên YouTube, bạn đọc có thể theo dõi qua địa chỉ:

Trong clip này, ở phần cuối dài hơn 5 phút, có đề cập đến thời gian đi học tập cải tạo của Đại úy Nguyễn Thanh Thu. Anh tâm sự cuộc đời của mình dính liền với tác phẩm “Thương Tiếc”, từ “danh vọng” đến “thê thảm”. Tại trại cải tạo trong thời gian bị “biệt giam” 22 tháng trong “thùng conex” với lời buộc tội: “Tướng lãnh, sĩ quan xong giặc rồi là hết, còn anh vẫn lưu lại tư tưởng phản động qua tác phẩm….”.
Cán bộ trong trại chắc cũng chưa từng thấy bức tượng “Thương Tiếc” mà chỉ nghe đồn qua người Sài Gòn vì bức tượng đã bị giật sập và nấu thành kim loại sau năm 1975. Khi ở trong trại được khoảng 8 tháng, có lần “quản giáo” trong trại đề nghị anh Thu khai chỉ đóng vai phụ giúp trong việc tạc tượng còn tác giả đã ra nước ngoài!
Anh Thu đã trả lời một cách khẳng khái rằng anh đã “làm” thì anh “chịu”, tàu chìm thì anh chìm theo, máy bay rớt thì anh rớt theo, tượng chết thì anh chết theo… chứ không thể nào khác được. Anh Thu đã phải trả giá về sự “ngoan cố” của mình, nhưng một “phép lạ” đã xảy ra trên đường ra pháp trường xử bắn…

Nguyễn Ngọc Chính
(Hồi ức một đời người)

https://youtu.be/IJbgQGqBsCA

Câu chuyện buổi viếng thăm Thầy Thu – tác giả bức tượng “Thương Tiếc” tại Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa.
TƯỢNG “THƯƠNG TIẾC”
NGHĨA TRANG QUÂN ĐỘI BIÊN HÒA
(1966 – 1975)
1
TÁC GIẢ
Điêu Khắc Gia Nguyễn Thanh Thu (1934)
Nguyên Thiếu Tá Cục Quân Nhu QLVNCH
2
“Tôi làm tôi chịu. Tàu chìm tôi chìm theo,
máy bay rớt tôi rớt theo, tượng chết tôi chết theo.
Chứ tôi không thể đổ cho người khác được…”
—–***—–
Câu chuyện buổi viếng thăm Thầy Thu tại tư gia vào sáng ngày 15/02/2017
 
Một buổi sáng đẹp trời vào những ngày cuối xuân, ba anh em – Anh Nghĩa, anh Phúc & tôi – chúng tôi cùng hẹn nhau đến thăm thầy Thu (Tác giả bức tượng “Thương Tiếc” đặt tại Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa 1966 – 1975). Đây cũng là một dịp tốt giúp tôi có cơ hội tìm hiểu thêm những chi tiết lịch sử về bức tượng của một người lính mà lâu nay có nhiều tin đồn rất ly kỳ và huyền bí này khi được tiếp xúc với chính người đã tạo ra nó.
3
Khi đến nơi thì tôi mới biết nhà của thầy Thu là một quán cà phê sân vườn có tên là “Tượng Đá” nằm trong khuôn viên rộng lớn tọa lạc trong khu vực quận Bình Thạnh. Vì không có hẹn trước, nên sau một lúc ngồi nhâm nhi cà phê hơn ba mươi phút chúng tôi mới thấy bóng dáng thầy Thu xuất hiện trong bộ đồ ngắn – áo thun, quần đùi. Trông dáng người ông còn khỏe mạnh, hình như ông đang chuẩn bị làm một công việc gì đó. Anh em chúng tôi dõi mắt nhìn theo ông chứ chưa tiện bước ra chào hỏi. Tiếp sau đó, ông kéo một chiếc xe đất nhỏ đem đến bón vào chậu cây mai đã tàn hoa sau những ngày tết, cạnh một bức tượng cô gái cầm bó lúa thật cao đặt trước sân vườn nhà ông.
4

untitled

Đợi thầy Thu làm sắp xong anh Nghĩa mới đến bên cạnh giơ tay chào và kề vào tai ông nói lớn: “Em là Nghĩa nè, Nghĩa lính ruột của Tướng Lê Văn Hưng hồi ở An Lộc và Vùng IV Chiến Thuật ngày xưa đó. Vừa rồi em có tới thăm anh hồi trong năm đó, anh có nhớ không? Anh làm xong chưa, mời anh vào uống cà phê với tụi em nghen”. Anh Nghĩa phải lập đi lập lại câu nói này hai ba lần, phân làm từng đoạn khi ông chưa nghe được mà chỉ “hả hả, cái gì..?”. Thầy Thu nhìn anh Nghĩa đăm đăm một hồi như để nhớ ra rồi gật gật đầu, nhưng rồi ông vẫn khom người cắm cúi làm việc tiếp tục.
1

2

Một lúc sau ông mới đi rửa tay, thay chiếc quần sọt và đội lên đầu cái mũ Beret màu đen đã cũ kỹ rồi đi đến bàn ngồi vào uống cà phê với anh em chúng tôi. Lúc đó tôi với anh Phúc ngồi nhìn theo anh Nghĩa mà cũng hơi hồi hộp, không biết thầy Thu có nhận lời hoặc sẽ cáu gắt gì không đây. Vì được anh Nghĩa cho biết trong lúc ngồi chờ, thời gian sau này thầy Thu đã thay đổi nhiều, thầy khó tính hơn trước vì đã lớn tuổi (84t) và do bịnh lãng tai nặng nên làm cho ông không còn muốn tiếp xúc với ai nữa, nhất là người lạ mặt – mà đặc biệt là ông rất ghét những ai đến có ý muốn tò mò về ông.
3

4

Sau những lời thăm hỏi, anh Nghĩa mới giới thiệu anh Phúc và tôi cho thầy Thu biết. Chờ cho ông nhấm nháp hết ly sữa đá để tinh thần được sảng khoái, chúng tôi mới kiêng dè hỏi thăm ông từng câu về câu chuyện của bức tượng “Thương Tiếc” cũng như cuộc đời binh nghiệp mà ông đã trải qua và cuộc sống của ông hiện tại. Sau khi trở lại trạng thái thoải mái dễ chịu, thầy Thu bắt đầu kể cho chúng tôi nghe về cuộc đời của ông.
Câu chuyện thầy Thu kể lại theo từng đoạn như sau:
–         Hồi đó (1966), thật sự là tôi chưa từng được dịp quen biết hay tiếp xúc với Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu, mặc dù lúc đó tôi là Đại Úy ở Cục Quân Nhu. Nhưng không hiểu vì sao Tổng Thống lại biết đến tôi và cho gọi tôi đến trình diện để bàn về việc thành lập Nghĩa Trang Quân Đội QLVNCH, tôi hết sức bất ngờ. Thì sau đó, như các anh đã biết rồi đó, tôi đã tiến hành công việc phải thực hiện hoàn thành bức tượng “Thương Tiếc” đặt tại Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa. 
 
Hình ảnh bệ đài tượng “Thương Tiếc” tại Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa
Trước & Sau 1975
5

6

Sau khi làm xong bản mẫu của bức tượng thì tôi có một đề nghị hết sức táo bạo và cũng hơi run khi trình lên Tổng Thống là xin được đúc bức tượng này bằng đồng. T.T Thiệu hỏi lại tôi: “Tại sao anh có ý này mà không nói trước, bây giờ đang chiến tranh gay gắt mình không có dư tiền và lấy đồng đâu ra để đúc một bức tượng to lớn như vậy”. Tôi trả lời: “Dạ thưa Tổng Thống, do ý tưởng mới nảy sinh, là công trình Quốc Gia nên tôi nghĩ mình nên đúc bức tượng này bằng đồng để được tồn tại vĩnh viễn muôn đời. Xin phép Tổng Thống cho tôi xin được vào khu căn cứ Long Bình tìm vỏ đạn đồng của đại bác đã được thu gom lại có thề là đang để trong đó rất nhiều”. Tổng Thống nghe có lý, ông vui vẻ chấp thuận và cho đúc luôn bức tượng bằng đồng theo nguyên bản (nặng 10 tấn, cao 6,5m). Sau khi hoàn thành xong bức tượng “Thương Tiếc” được đặt tại Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa, Tổng Thống Thiệu đã ban thưởng thăng cấp Thiếu Tá cho tôi ngay lúc đó. Tôi rất biết ơn ông.
1

2

–         Nhưng cũng vì bức tượng quá nổi tiếng mà cuộc đời của tôi sau đó cũng gần như muốn chết theo bức tượng này trong những ngày tháng tù cải tạo. Tôi bị đánh đập rất nhiều và quá hiểm nên lỗ tai bên trái của tôi bị điếc hẳn luôn từ đó đến bây giờ. Chỉ còn lại tai bên phải, khó khăn lắm mới nghe được. Tôi bị đi cải tạo hết 8 năm, sau đó sang định cư tại Mỹ được 15 năm (1989 – 2004) thì tôi trở về VN ở luôn cho đến bây giờ.
3
–         Nơi đây là miếng đất hương quả của cha mẹ tôi qua đời để lại rộng hơn 2.800.m2 và tôi đã ở đây từ nhỏ. Tôi có cả thảy 6 đứa con – 5 trai, một gái. Bà xã tôi và mấy đứa con cùng ở chung quanh trên mảnh đất này. Quán cà phê này là của đứa con gái út buôn bán sống đắp đổi qua ngày thôi.

 

a
–         Gốc cây đa (đường kính hơn 5m) giữa sân này là do tôi trồng từ lúc còn là cái nhánh nhỏ nay đã được 55 tuổi rồi (1962). Còn những tảng đá lớn đặt kế bên gốc cây đa làm hòn non bộ là của ông Tướng Trần Văn Đôn cho Công binh chở đến tặng tôi sau khi làm xong bức tượng “Thương Tiếc” để sau này tôi sử dụng tiếp tục tạc tượng cho Quốc Gia.
Hai bức tượng mẫu chuẩn bị cho công trình Quốc Gia tại Mỹ Tho
“Được Mùa”                                               “Chín Đầu Rồng”
6
untitled
–         Thời điểm 1973, có lần Tổng Thống Thiệu đến nhà tôi chơi, ông nhìn thấy bức tượng hình cô gái cầm bó lúa mà tôi đã làm hồi mấy năm trước, ông hỏi bức tượng này tên là gì?. Tôi trả lời là “Được Mùa”. Ông ngắm nghía, tấm tắc khen và bảo: “Nếu tôi muốn làm nó cao 15m, đúc bằng đồng để đặt trong sân ngay bồn phun nước trước Dinh Độc Lập làm biểu tượng cho nông nghiệp hùng mạnh của miền Nam. Nếu làm được thì anh tính xem rồi cho tôi biết kinh phí khoảng bao nhiêu?”. Sau thời gian tính toán kỹ lưỡng tôi mới trả lời cho Tổng Thống biết tổng kinh phí là khoảng 45 triệu đồng VNCH. Tổng Thống đồng ý và bảo tôi sau này sang gặp Đại Tá Cầm để nhận tiền về làm. Sau đó trong lòng tôi mãi ngẫm nghĩ, nếu đặt bức tượng “Được Mùa” này trước Dinh thì thật sự là không hay lắm về ý nghĩa của nó. Nhưng khổ nỗi là tôi lại không dám trình với ngài về ý này vì sợ phật lòng ông, cho nên tôi cứ lần lựa lãng tránh để tìm cách nào đó thưa lại với Tổng Thống chuyện này. Lúc đó Đại Tá Cầm cho người gọi tôi lên bảo: “Có tiền rồi sao anh Thu không đến nhận để tiến hành làm tượng cho Dinh đi”. Tôi trả lời là vì lý do sức khỏe và công việc bận rộn quá, từ từ tôi sẽ làm. Cuối cùng tôi cũng nhờ được ông Tỉnh (Tổng trưởng Bộ Giáo Dục) trong dịp về dự hội nghị tại trường Võ Trường Toản, nơi tôi đang dạy lúc bấy giờ. Ông Tỉnh đã giúp tôi có dịp trình bày lại với Tổng Thống. Sau khi nghe tôi thuyết trình, tuy không đồng tình lắm nhưng Tổng Thống cũng hỏi lại tôi: “Vậy, nếu tôi muốn đặt nó tại Mỹ Tho làm biểu tượng cho vùng lúa gạo trù phú của đồng bằng sông Cửu Long, mà nếu đặt tại đó thì anh phải làm cho bức tượng này lớn gấp 10 lần nữa, tức cao 150m, để mọi người ở khu vực miền Tây ai cũng đều nhìn thấy được nó. Anh tính xem có làm nổi không và cho tôi biết kinh phí khoản bao nhiêu?”. Tôi trằn trọc cả tháng trời ngày đêm suy nghĩ, tính toán. Và sau đó tôi mới trình với Tổng Thống: “Dạ thưa Tổng Thống, nếu đặt bức tượng “Được Mùa” ở đó thì rất phù hợp nhưng có thể tôi sẽ làm thêm tượng “Chín Đầu Rồng” bao quanh để tượng trưng cho Cửu Long Giang thì sẽ đầy đủ ý nghĩa hơn và đặt tên là: “Cửu Long Được Mùa”. Công trình này tổng kinh phí phải tốn hơn cả tỷ đồng mới làm được ạ!”. Tổng Thống trả lời: “Tôi cũng biết nó phải tốn kém lớn cở như vậy rồi, nhưng bây giờ thì ngân sách quốc gia chưa có đủ tiền. Thôi thì ta tạm gác lại kế hoạch này, đợi lúc thuận tiện mình sẽ tính tiếp”. Tuy ngài nói vậy, nhưng tôi biết trong lòng ông rất nôn nao để thực hiện công trình đặc biệt này cho Quốc Gia.
8

9

–         Thầy Thu chỉ tay về phía bên kia hòn non bộ, còn đây là phần đầu của bức tượng người lính Thủy Quân Lục Chiến với tư thế quỳ chân trước chân sau chồm lên ném lựu đạn, toàn thân tượng cao 4,5m. Tôi rất tâm đắc với tác phẩm này, và bức tượng đó cũng được Tướng Nguyễn Chánh Thi khen ngợi. Nguyên vào năm 1974,  Tổng Thống Thiệu có yêu cầu tôi nên tạc một mẫu tượng nào cho nó có vẻ hùng hồn hơn để thay cho bức tượng “Hai Người Lính Thủy Quân Lục Chiến Xung Phong” đang đặt trước tòa nhà Quốc Hội. Ngài bảo tôi phải làm gấp rút. Nhưng đến khi bức tượng này hoàn thành thì Tổng Thống do dự chần chừ, ông chưa muốn thay đổi vì ngại có sự hiểu lầm nhau trong nội bộ. Do tác giả của bức tượng “Hai Người Lính Thủy Quân Lục Chiến Xung Phong” này là Điêu khắc gia – Thiếu Tá Huỳnh Huyền Đỏ thuộc Bộ Tổng Tham Mưu.
Toàn bộ chi phí để làm ra bức tượng người lính mới này lúc đó trên ba trăm ngàn đồng. Vì lý do đó mà sau khi làm xong rồi tôi vẫn chưa nhận được tiền gì cả. Thôi thì tôi cũng cam lòng chấp nhận chia sẻ với hoàn cảnh khó xử của Tổng Thống trong tình hình đất nươc lúc bấy giờ. Sau ngày 30/4/75, tôi bị đi cải tạo thì cách mạng vào cho giật sập đổ bức tượng này trong sân nhà tôi, chỉ còn lại cái phần đầu là nguyên vẹn. Khi cải tạo về, tôi đem đặt nó vào tảng đá này để làm kỷ niệm đến bây giờ. Mỗi lần nhìn vào những bức tượng trên tôi buồn nhớ đến một thời làm việc của mình và nhớ đến Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, ông rất tốt với tôi. Hơn nữa, tôi rất kính phục ông vì lúc nào ông cũng rất quan tâm đến chuyện đất nước đang bị chiến tranh và đời sống của đồng bào.
1

2

–         Lúc qua định cư ở Mỹ, tôi được người bạn cũ đang ở bên Pháp cho hay là Tổng Thống Thiệu sẽ có buổi diễn thuyết với đồng bào VN mình tại California. Ông bạn kêu tôi chuẩn bị thời gian đến đó để có dịp gặp lại Tổng Thống, mọi việc bạn tôi sẽ sắp xếp cho. Tôi rất mừng vì bao năm xa cách bây giờ có dịp gặp lại nhau, thật là một diễm phúc đối với tôi. Sau buổi nói chuyện với đồng bào tị nạn, bạn tôi đưa Tổng Tống đến tận nơi tôi ngồi, ông bắt tay tôi thăm hỏi thật vồn vã thân tình và cảm ơn tôi đã từng giúp ông trong thời kỳ ông còn làm Tổng Thống ở VN.
  untitled

 1

–         Còn những bức tượng còn lại xung quanh đây thì có nhiều chủ đề khác nhau, trong đó có bức tượng “Ngày Về” cũng là một kỷ niệm lớn với Tổng Thống vì chưa kịp thực hiện trước tháng 4/75, là điều nằm ngoài ý muốn mà thôi. Có nhiều người đến hỏi mua lại nhưng tôi nhất quyết là không bán, vì nó là kỷ niệm một thời của tôi từ “Đỉnh Danh Vọng đến Đáy Địa Ngục” (như lời của học trò nói về cuộc đời tôi trải qua). Và cũng trong số những tác phẩm nghệ thuật còn lại này là có sự kết hợp ý tưởng gợi ý của Tổng Thống để làm nên thì làm sao tôi rời xa nó được. Chính vì vậy mà tôi đã trở lại VN để sống nốt cuộc đời còn lại tại nơi đây.
2

3

–         Sức khỏe của tôi bây giờ đã yếu lắm vì vừa mới qua cơn bạo bệnh. Không hiểu sao tôi bị cảm sốt liên tục kéo dài mấy tháng trời tưởng đâu tôi “tiêu” luôn rồi, hôm nay như vậy cũng đỡ lắm rồi đó. Nhờ trước đây tôi thường xuyên tập tạ suốt mấy chục năm từ lúc còn trẻ nên mới có sức chịu đựng biết bao sóng gió, nghiệt ngã cho tới bây giờ. Nhưng cũng không sao, nếu ăn ngủ tốt thì vài tuần tôi sẽ lấy lại sức thôi. Coi vậy chứ cơ bắp tôi cũng còn chắc lắm không đến nỗi gì, chỉ có buồn cái là sức khỏe không còn tốt để tạc tượng nữa. Nhiều năm qua tôi rất ít khi đi lại bên ngoài và cũng không thích gần gũi tiếp xúc với ai vì trong người lúc nào cũng mang một nỗi buồn man mác, lại khó chịu vì cái bệnh lãng tai nặng của mình. Bạn bè thì thỉnh thoảng có tới thăm nhưng ít lắm. Còn học trò của tôi thì rất nhiều, ở khắp nơi trên thế giới và ở SG mà liên lạc hay lui tới thì chẳng được bao nhiêu.  Tôi biết, con người ai cũng có số phận cả, mình cũng phải chấp nhận vậy thôi. (Nói tới đây Thầy Thu nhếch miệng cười cùng cái lắc đầu trong giọng buồn trầm lắng).
4
–         Ước mong của tôi bây giờ là muốn có dịp đi Mỹ một chuyến để thăm lại các bạn bè, chiến hữu ngày xưa lúc cuối đời nhưng lại không có tiền đâu để mà đi, thôi đành sống ẩn dật thế này cho đến ngày theo ông bà vậy. Các anh cho tôi gửi lời thăm chúc sức khỏe đến các anh em chiến hữu, tôi luôn nhớ đến các anh em. Cảm ơn các anh em đã còn nghĩ đến tôi.
——***——
Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s