KHÍ CÔNG VẤN ĐÁP

Thiền sư Thích Thông Triệt thế danh là Lê Kế Tông sinh năm 1929 tại quận Long Thành, tỉnh Biên Hòa, Đồng Nai. Xuất gia với cố Đại Lão Hoà Thượng Thích Thanh Từ tại Thiền viện Chơn Không, Vũng Tàu, Việt Nam. Đầu năm 1982, thầy ngộ đạo nhận ra vọng tưởng là sự nói thầm, không nói thầm thì kinh nghiệm Định”. Từ đó thầy miên mật dụng công củng cố Định vững chắc.

Thiền sư đến Hoa Kỳ năm 1992, bắt đầu hướng dẫn thiền từ năm 1995 tại các tiểu bang Oregon, California. Sau đó các Hội và đạo tràng Thiền Tánh Không (TTK) được lần lượt mở ra tại California, Texas, Florida, Washington cũng như tại Pháp, Đức, Canada, Thuỵ Sĩ và Úc Châu. Thiền sư là người sáng lập Dòng Thiền Tánh Không, chủ trương thực hành thiền theo Đức Phật Thích Ca, đồng thời dùng những phương tiện của Khoa học để soi sáng lời Phật dạy cũng như các kỹ thuật thực hành Thiền, hướng dẫn thiền sinh thực hành thẳng vào cơ chế Tánh Giác để từng bước kinh nghiệm thân khoẻ, tâm an và trí tuệ phát sáng.

Thiền sư đã thành công trong công trình nghiên cứu Khoa học về Tác Động của thiền trên Não Bộ từ năm 2007-2013, dưới sự bảo trợ của trường Đại học Tubingen (Đức Quốc) và được trình bày tại Hội Nghị Khoa Học Não Bộ Thế Giới tổ chức tại Barcelona năm 2010 và tại Canada năm 2011.

VÀI HÀNG CHIA SẺ VỀ BÀI VIẾT “KHÍ CÔNG VẤN ĐÁP”

TP và HH đã đồng lòng cùng lược thảo bài viết “Khí Công Vấn Đáp” của Ân Sư Thích Thông Triệt và đã đăng tải trên Facebook, hầu mong cùng chia sẻ kinh nghiệm sống với các ACE.

Sở dĩ phải lược thảo vì trong bài viết có những khúc phân tích trái tim cho độc giả hiểu thêm hoặc có đôi phần chính trị nên thiết tưởng không liên quan đến phương pháp điều tức này.

Khi thực hành, TP có vài điểm chia sẻ như sau:
– Cơ thể bạn sẽ đổ mồ hôi ban đêm và bốc ra mùi hôi thúi trong vài tuần đầu. Đừng lo lắng. Đó là do cơ thể bài tiết và tống chất độc ra ngoài. Nhiều người bỏ cuộc cũng vì lý do này.
– TP thường dùng Apps Stopwatch trong IPhone để nhìn số giây phút nhảy chứ không lo đếm giây như thầy hướng dẫn. Trong lúc thực hành, tâm chỉ quán hơi thở thì tự nhiên không sanh vọng động. Bạn có thể nhập sơ thiền ngay lúc này.
– Ngay sau khi thực hành xong, ACE sẽ có giọng nói vang rền như Sư Tử Hống vậy. Người nghe cũng mến nể.
– Những ai còn hút thuốc thì nên đợi 2 tiếng sau khi hút rồi mới thực hành vì nếu không khói thuốc sẽ bám chặt trong nang túi phổi khi nén khí. Có hại mà không có lợi.
– Trước khi tập nên lấy kết quả máu để so sánh với sau khi tập. ACE sẽ thấy kết quả mỹ mãn vô cùng và cũng làm bằng chứng khuyến khích người thân, bạn bè và nhất là Cha Mẹ lớn tuổi.
– Người không duyên thì không ép tập hoặc cưỡng cầu.

Thiết nghĩ, sống mà mang niềm vui, hạnh phúc, sức khoẻ và cảm giác an toàn cho người xung quanh là 1 trong những Pháp thí đơn giản và không cầu kỳ.

Các ACE có thể copy và đăng tải những bài viết Khí Công Vấn Đáp này nhưng xin đừng kèm tên vì chúng tôi thật tình không muốn kết bạn thêm. Mến chúc các ACE vạn sự như ý và thân tâm an lạc.

NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Image may contain: 1 person, outdoor
KHÍ CÔNG VẤN ĐÁP (PHẦN 1)

KHÍ CÔNG ĐỐI VỚI SỰ THỰC HÀNH THIỀN

Phần một: KHAI THÔNG

Những lợi ích thiết thực của Khí Công đối với người mới (sơ cơ)

Tác dụng của Khí công
Trước hết, chúng tôi nói những tác dụng của Khí Công đối với người thực hành nó, sau đó trình bày thêm những cơ chế trong cơ thể liên hệ đến Thở trong Khí Công. Trong đó gồm có vấn đề Máu, hệ thống tuần hoàn, gồm có tim và các hệ thống mạch máu, vấn đề các chất nước hóa học trong cơ thể thông qua tác dụng của Khí Công giúp chúng ta ngăn ngừa hay tiêu trừ bệnh tật và tăng cường nội lực. Đến phần thực hành, chúng tôi sẽ biểu diễn những tư thế tập liên hệ đến từng cách chữa trị bênh tật hay ngăn ngừa chúng. Chúng tôi biểu diễn trước, quí vị thực hành sau. Mỗi vị có thể hỏi từng loại bệnh mà mình thấy có ít nhiều liên hệ đến mình, như huyết áp cao, hen suyễn, suy nhược thần kinh, cảm cúm, đau khớp và những thứ bệnh viêm…

Nếu áp dụng đúng những nguyên tắc thở theo Khí Công, tác dụng cụ thể của nó đưa đến như sau:

1) Tăng cường sức khỏe tự nhiên trong cơ thể.

2) Điều hòa khí và huyết bên trong cơ thể.

3) Ngăn ngừa và chữa trị được một số bệnh do thờì tiết gây nên, như cảm cúm, dị ứng, và chữa trị được những chứng viêm, như viêm xoang mũi, viêm họng, viêm mắt, viêm đường ruột. Đặc biệt nhất là điều chỉnh được huyết áp cao hay huyết áp thấp, cũng như trị dứt hen suyễn và suy nhược thần kinh.

4) Ngăn ngừa xơ cứng động mạch và tai biến mạch máu não.

5) Ngăn ngừa hay điều chỉnh những bệnh về tim mạch.

Đây là 5 điểm chính yếu trong Khí Công ở cấp Sơ Đẳng, nhưng với điều kiện, vị đó phải luyện tập đều đặn và theo đúng những nguyên tắc cơ bản của Khí Công.
Trong Khí Công có nhiều cấp. Nhưng ở đây chúng ta không cần học qua các cấp đó mà chỉ cần học thở để ngăn ngừa và tự chữa bệnh vì chúng ta có mục tiêu khác là học Thiền.
(Sưu tầm và thảo lược từ bài viết của đài phát thanh RFF do Thiền Sư Thích Thông Triệt hướng dẫn)

(Quăng hình múa võ lên cho nó hách cái coi (hihi)-Thái Cực Quyền, bài Hạc Quyền Cước Pháp)

 

Image may contain: 1 person, shoes

KHÍ CÔNG VẤN ĐÁP (Phần 2)

TÁC DỤNG KHÁC NHAU CỦA THỞ KHÍ CÔNG VÀ THIỀN

Nói riêng về phương pháp Thở để tăng cường nội lực hay chữa một vài chứng bệnh thông thường nào đó thì trong Thiền không có phương pháp Thở đó. Trái lại Thiền có phương pháp khác, độc đáo hơn, kỳ diệu hơn; tuy không theo phương thức thở như Khí Công mà vẫn ngăn ngừa hay chữa trị một số bệnh tật như Khí Công, và đặc biệt là chữa những thứ bệnh tâm thể, trong đó có tiểu đường, huyết áp cao, suy nhược thần kinh hay những khủng hoảng tâm lý khác. Đó là Định. Một khi vị nào vào đựợc Định thì nhiên hậu vị đó tự chữa được nhiều thứ bệnh của mình mà trong Khí Công, ở cấp Sơ Đẳng không có. Đây là điều mà quí vị nghe nhiều người nói tu Thiền tự chữa lấy bệnh tật cho chính mình là điểm này.

Quý vị muốn thở để chữa cảm cúm, chỉ trong vòng 10 lần thở Khí công, quí vị sẽ cảm thấy toát mồ hôi, sau đó cơn bệnh thuyên giảm đôi chút. Trong một ngày thở 5 lần, chia làm nhiều buổi, chắc chắn quí vị sẽ chận đứng được cảm cúm. Trường hợp bị nặng lắm, quí vị có thể tăng cường số lượng thở trong 1 ngày lên đến 10 lần và thở trong 2 ngày.

Các Hòa Thượng thường nói: “Thiền là một khoa học thuộc về tâm linh.” Vậy thì đã là 1 khoa học thì Thiền là một môn học như bao nhiêu môn học khác trên thế gian này. Cho dù Thiền có mang tính chất tôn giáo đi chăng nữa, Thiền cũng không thoát ra ngoài nguyên tắc phục vụ nhân sinh như những ngành khoa học khác trên thế gian. Tức là Thiền cũng có mục tiêu nhắm đến như các môn học khác. Nếu trong Thiền không có mục tiêu thì học Thiền để làm gì? Có người nghĩ mình học Thiền để được thân tâm an lạc. Có người nghĩ mình học Thiền để chữa trị một vài thứ bệnh tật nào đó mà y học đã bó tay. Có người nghĩ mình học Thiền để phát triển trí tuệ tâm linh. Có người nghĩ mình học Thiền để đạt được tâm giải thoát vì mình đã hay đương va chạm vào những thực tế phũ phàng, khiến đau khổ và phiền não vẫn ray rứt nội tâm vân vân… Nếu như vậy, tức là chúng ta học Thiền có mục tiêu. Khi đã có mục tiêu, tất nhiên phải có phương tiện thực hiện mục tiêu đó. Đó chính là kỹ thuật.

Trong Thiền có môn Sổ Tức, thuộc Lục Diệu pháp môn. Còn phương pháp thở của Khí Công, quí vị chỉ cần tập trong vòng 7 ngày liên tiếp, quí vị sẽ thấy sức khỏe mình đổi thay và bệnh cao huyết áp cũng thuyên giảm. Đây là sự khác nhau khá đặc biệt giữa thở Khí Công và thở Sổ Tức của Thiền.

Ta phải thở theo Pháp Định niệm hít vào thở ra do Đức Phật dạy, bằng cách giữ niệm Biết, chớ không tập trung theo dõi hơi thở, hay phải nhớ số đếm,hoặc tưởng tượng hơi thở đi đến đâu. Vì lúc bấy giờ do niệm Biết hơi Thở nên mọi trung tâm khác ở vỏ não đều không hoạt động, khiến vọng tưởng không có điều kiện khởi ra, làm ta cảm thấy tâm mình lắng động. Nếu áp dụng miên mật, trong một thời gian nào đó, kết quả ta sẽ đạt được sự điều tâm. Tâm ta sẽ có một quán tính mới là không dao động, lăng xăng như trước nữa. Đó là nét ưu điểm của pháp Thở Thiền.
Bằng phương pháp thở theo Khí Công, chúng ta chẳng những chữa trị được các bệnh do thời tiết gây nên, chữa trị được huyết áp cao, viêm và hen suyễn mà còn có sức khỏe dẻo dai, tăng cường nội lực, phục hồi sinh lực; trợ duyên cho việc thực hành Thiền.

(ĐIỂM QUAN TRỌNG ĐỂ ACE TIN HIỂU VỀ ĐIỀU TỨC (Lời của TP chú thích lời của thầy))
Lý do là Khí Công sử dụng hệ thống Giao Cảm Thần Kinh, tác động đến trung tâm gia tốc tim (cardioacceleratory centers) ở hành tủy, vô hình trung tác động vào hệ thống tim mạch làm hoạt hóa máu hay tạo ra trạng thái ly tâm máu trong quá trình nén khí và thở ra. Ngoài ra bằng cách nén khí, ta đã sử dụng hệ thống cơ bắp ở 2 tay, cơ hoành và cơ bụng, làm căng cơ bắp khi ta chuyển cứng cơ bắp ở các nơi đó, giúp tác động trực tiếp vào các hệ Bạch Huyết Bào, và gián tiếp tác động vào hệ Tuyến Nội Tiết; làm cho những cơ quan nói trên tạo ra kháng thể (đối với hệ Bạch Huyết Bào), tiết ra các chất nước hóa học (đối với hệ tuyến Nội Tiết) liên hệ đến sự chữa bệnh hay phục hồi sinh lực cho chúng ta một cách tự nhiên.

Vì sao có nhiều vị theo pháp Sổ Tức như trên nhiều năm nhưng thường hay đau ốm? Sổ tức sẽ đưa quý vị vào trạng thái hoạt hóa cơ thể, hoạt hóa máu, hoạt hóa dây thần kinh, rồi sau đó hết bệnh. Vậy thì điều quí vị thắc mắc, nên xem lại người đó có nghiêm chỉnh thực hành hay không hay người đó tu theo phong trào, hoặc tu hình thức?

(Sưu tầm và thảo lược từ bài hướng dẫn của Thiền Sư Thích Thông Triệt)

(Mai mốt HH già chắc giống Lão Bà Bà này quá, hihi)

Image may contain: 1 person, closeup

KHÍ CÔNG VẤN ĐÁP (Phần 3)

Sự khác nhau giữa Định trong Thiền và Hít Thở trong Khí Công (Phần này Quan Trọng)

Trên thật tế giữa 2 trạng thái Định trong Thiền và Hít Thở trong Khí Công đều khác nhau. Thiền thì tĩnh, còn Hít Thở trong Khí Công thì động. Ngược lại 2 tác dụng đều giống nhau, nhưng sự giống nhau này chỉ trên phạm vi chữa hay ngăn ngừa ốm đau, bệnh tật, còn trên mặt trí huệ hay tâm linh thì khác nhau. Định trong Thiền và Thở trong Khí Công đều tạo ra được tác dụng sinh học (bioaction) bên trong cơ thể người thực hành để tạo ra trạng thái hoạt hóa máu, hoạt hóa tế bào thần kinh não, hoạt hóa dây thần kinh, và hoạt hóa cơ bắp. Khi bị hoạt hóa như thế, máu sẽ ly tâm, các hệ thống tuyến nội tiết bị tác động để tiết ra nội tiết tố, và hệ thống bạch huyết bào bị tác động để tiết ra các chất nước hóa học và tạo ra các kháng thể để tiêu diệt mầm bệnh, hay tiêu diệt vi trùng, vi khuẩn và các vi sinh vật khác ở trong máu. Đây là điểm mà cả 2 trạng thái chữa trị một số bệnh đều giống nhau, nhưng mức chữa trị bệnh của Định thâm sâu và kỳ diệu hơn mức thở của Khí Công. Trong lúc Khí Công phải vận dụng sự Hít Thở, sự nén khí, sự thở ra và làm căng cơ bắp để tác động vào các hệ thống bên trong cơ thể, ngõ hầu tác động vào các hệ thống đó tạo ra những tác dụng sinh học với mục tiêu chữa trị bênh tật. Còn đối với Thiền, khi vào được Sơ Định, thiền giả chỉ ngồi yên lặng với trạng thái trong não không khởi nói một lời gì mà vẫn điều hòa khí huyết, điều hòa tim mạch và chữa nhiều chứng bệnh hơn Khí Công. Đây là sự khác nhau về tư thế tập giữa Định trong Thiền và Thở trong Khí Công.

Quí vị không nhớ Lục Tổ dạy mình Vọng tưởng dừng là Định hay sao? Vậy nếu mình dừng được vọng tưởng thì mình vào Sơ Định ngay nào có khó khăn gì? (Bạn yêu Thiện Duyên và em Uh Ri chú ý nhé)
Do quí vị chưa từng dừng được vọng tưởng nên quí vị thấy khó, còn người vào được rồi họ thấy dễ như trở bàn tay! Thật sự giữa dễ và khó chỉ khác nhau ở phương hướng thực hành hay kỹ thuật thực hành. Nếu quí vị nắm được kỹ thuật, quí vị sẽ vào Định như lấy món đồ chơi từ trong túi, còn nắm không được thì dù quí vị có mất vài chục năm dụng công, quí vị cũng chẳng làm sao qua được CỬA KHÔNG của Thiền. Đây là một thực tế.

(Sưu tầm từ bài giảng của Thiền Sư Thích Thông Triệt)

 

Image may contain: one or more people, sky, twilight, outdoor and nature

 

KHÍ CÔNG VẤN ĐÁP (Phần 4)

THỰC CHẤT KHÍ TRONG CƠ THỂ

Thực chất KHÍ trong cơ thể con người là 1 dạng điện bẩm sinh hay điện sinh học (bioelectricity) mà tất cả sinh vật đều có. Nếu không có dạng điện này, sinh vật không thể nào cử động được. Nhờ có dạng điện bẩm sinh đó nên sinh vật mới di chuyển và truyền thông với nhau bằng những tín hiệu riêng biệt của từng loài.

Vào thế kỷ 18, từ những năm 1770, nhà sinh lý học (physiologist) người Ý, tên Luigi Galvani (1737-1798) là người đầu tiên đã khám phá ra hiện tượng điện (electrical phenomena) trong sinh vật qua sự nghiên cứu và khảo sát những hoạt động từ loài kiến đến loài ốc, rồi sau đó đến loài nhái. Từ các năm 1773 đến năm 1786 ông nghiên cứu kỹ về điện sinh lý học (electrophysiology) trong loài nhái. Ông nhận định rằng tất cả mọi sự vận động, di chuyển, truyền thông của loài thú đều phải thông qua dạng điện bẩm sinh. Nếu không có dạng điện này, sinh vật không thể nào di chuyển. Đến năm 1791, kết thúc công trình nghiên cứu trên 20 năm (1770-1791), ông ấn hành bản luận án lấy tên là Bình luận về Hiệu ứng Điện trên sự Vận động Cơ bắp (Commentary on the Effect of Electricity on Muscular Motion).

Ông kết luận rằng trong thú vật có một sức sống (vital force). Ông đặt tên là “Điện thú vật – Animal Electricity”. Chính điện này đã hoạt hóa dây thần kinh và cơ bắp. Vào thời đó ông đã xem não bộ là một cơ quan quan trọng nhất vì nó tiết ra “Dịch điện-Electric fluid” và dây thần kinh dẫn truyền dịch đó đến dây thần kinh và cơ bắp, làm cho cơ thể cử động.

200 năm sau (1991), những khám của ông đã được các nhà khoa học hiện đại chứng minh là đúng sự thật. Thuật ngữ “Dịch Điện” được đổi lại là “Điện hóa học- Electrochemistry”, “Điện Thú vật”, đổi lại là “Điện Sinh học-Bioelectricity”.

Ngoài ra, cách đây trên 2.000 năm, trong nền y học Trung Hoa cổ thời, các nhà châm cứu cũng đã khám phá ra dạng điện đó, họ đặt tên là KHÍ. Khí này vận hành trong các kinh mạch khắp cơ thể con người và hội tụ tại các huyệt, nằm trên kinh mạch. Vào giữa thế kỷ 20, với những thiết bị khoa học, các nhà châm cứu Nhật đã chế ra máy dò huyệt. Họ chỉ cần đặt một bóng đèn nhỏ trên một điểm nào đó trên cơ thể, nếu bóng đèn ửng đỏ, họ biết nơi đó có huyệt. Điều này chứng minh rằng huyệt là nơi hội tụ của Khí và thực chất Khí là một dạng điện tử bẩm sinh, mang điện tích âm (Electron).

Truyền thống y học cổ thời Trung Hoa đã khám phá nguồn gốc sinh ra bệnh tật con người vốn do sự lưu thông của Khí bị bế tắt trên kinh mạch nào đó. Chủ đích phép châm cứu của họ là khai thông kinh mạch hoặc bế huyệt bằng một loại kim đặc biệt nhắm ngăn chận cơn đau hoặc ngừa hay chữa trị các bệnh liên hệ đến cơ thể hay tạng phủ. Thực chất kinh mạch không gì khác hơn là dây thần kinh mà trong đó Khí vận hành, giống như dây điện mà dòng điện đi trong đó. Và hầu hết tại các huyệt đều có sự hiện diện nhiều dây thần kinh tận cùng (nerve endings) hơn các nơi khác trên da. Tất cả xung lực từ da truyền vào não đều phải xuất phát từ dây thần kinh tận cùng.

Sự đau đớn hay bệnh tật mà não cảm nhận được tiến hành theo nguyên tắc này. Khi não tiếp nhận được 1 dòng xung lực từ nơi huyệt nào đó gởi về, trung khu thần kinh (the central nervous system) liền tiết ra một chất nước hóa học có tác dụng đáp ứng với nhu cầu chữa trị một thứ bệnh liên hệ. Thí dụ như muốn chận đứng cơn đau của bệnh nhân, các nhà châm cứu dùng kim châm một vài huyệt đặc biệt nào đó, có tác dụng chận đứng cơn đau; nơi đây liền truyền xung lực thần kinh về não. Trung khu thần kinh liền đáp ứng ngay, bằng cách tiết ra chất endorphinslà chất làm mất cảm giác đau tự nhiên (natural analgesics).

Mặt khác, từ trung khu thần kinh, não cũng phát ra xung lực truyền đến dây thần kinh tận cùng để truyền những tín hiệu đến cơ quan liên hệ. Do đó bằng những kỹ thuật luyện tập đặc biệt, các nhà Fakir Ấn độ có khả năng điều khiển tim mạch, điều khiển phổi mà họ gọi là chế ngự “prana”. Trong các phương pháp thở của Raja Yoga và Karma Yoga đều có đề cập đến môn Thở để làm chủ “prana”.

Còn các võ sư các môn phái võ Trung Hoa, cũng có khả năng sử dụng ý chí để điều khiển Khí khai thông kinh mạch hay bế huyệt vừa để chữa thương vừa để phục hồi sinh lực. Như vậy, bằng năng lực ý chí thông qua kỹ thuật luyện tập, con người có khả năng tập trung Khí (Electron) và điều khiển Khí châu lưu khắp cơ thể hay phát Khí ra ngoài khi họ muốn chữa thương cho người khác hoặc làm di động các vật thể khác mà tay họ không chạm đến. Trong Khí Công, có môn phóng khí, tụ khí, vận khí, đề khí là những cách tập luyện với chủ đích điều khiển nguồn năng lực tiềm tàng trong cơ thể con người mà họ gọi là Khí.

Trong con người, Khí tích tụ tại huyệt Khí Hải, nằm phía dưới rốn khoảng 7 phân. Ông Lão Tử là người đầu tiên thiết lập Khí thành một hệ thống để dụng công gọi là “ công phu”. Ông quan niệm rằng trong cơ thể con người tiềm tàng 3 năng lực: Tinh, Khí, Thần. Nếu biết kết hợp 3 năng lực đó thành một thể thống nhất, con người chẳng những ngăn ngừa hay chữa trị mọi thứ bệnh tật trong cơ thể mình mà còn kéo dài thêm tuổi thọ.

Ông đề ra phương pháp Luyện Đơn, tức là luyện tập đơn điền bằng những kỹ thuật thở đặc biệt thông qua các tiến trình: Luyện tinh hóa Khí, Luyện Khí hóa Thần, Luyện Thần huờn Hư để đánh thức nguồn sinh lực bên trong cơ thể mà Ông gọi là chân khí, nhắm giúp cơ thể khỏe mạnh, ngăn ngừa ốm đau, bệnh tật và kéo dài tuổi thọ. Ông phân chia trong cơ thể có 3 trung tâm năng lực tiềm tàng, là đơn điền tinh, đơn điền khí và đơn điền thần. Ở đây chúng ta chỉ tập thở để tăng cường nội lực, có sức khỏe dẻo dai, ngăn ngừa và chữa trị một vài thứ bệnh tật do thời tiết gây nên, nên không đi chuyên sâu vào những bộ môn đặc biệt khác của Khí Công.

(Sưu tầm và lược thảo từ bài hướng dẫn của Thiền Sư Thích Thông Triệt)

 

KHÍ CÔNG VẤN ĐÁP (Phần 5)

Vì sao trong Khí Công chỉ dùng thở mà chữa trị được cảm cúm hay những thứ viêm và dị ứng?

Nguyên do là trong quá trình nén khí và thở ra, ta đã tác động đến hệ thống tuần hoàn máu và hệ thống bạch huyết (the lymphatic system), khiến 2 hệ thống này tạo ra những kháng thể để tiêu diệt vi trùng, vi khuẩn và những vi sinh vật khác trong cơ thể. Ngoài ra chúng tôi cũng cần nói thêm cho quí vị rõ là chính trong máu chúng ta có số lượng tế bào máu trắng đáng kể: khoảng 7, 500 tế bào máu trắng trong mỗi ly khối máu (cubic millimeter of blood); chức năng của tế bào máu trắng này là ăn vi trùng, vi khuẩn và chống lại sự nhiễm độc (infection) trong cơ thể chúng ta. Trong quá trình thở ra theo phương pháp của Khí Công, vô tình ta đã tác động được lớp tế bào máu trắng trong dòng máu, thông qua trạng thái máu ly tâm, làm cho những thành phần trong tế bào máu trắng bị tác động vừa để sản xuất kháng thể, vừa được chuyển vận đến khắp nơi trong cơ thể để tìm và diệt vi trùng, vi khuẩn tại những nơi nào ta bị viêm, hay tại những nơi có sư hiện diện của vi trùng, vi khuẩn và vi sinh vật. Cho nên sự nén khí và sự thở ra của Khí Công rất quan trọng đối với sự chữa bệnh do vi trùng, vi khuẩn gây nên.

(Lược thảo từ bài giảng của Thiền Sư Thích Thông Triệt)

Image may contain: flower and plant

 

KHÍ CÔNG VẤN ĐÁP (Phần 6)

PHƯƠNG PHÁP THỞ ĐIỀU TỨC

Trong Khí Công có nhiều phương pháp Thở. Ở đây chúng tôi xin đề cập đến phương pháp Thở 3 thì và theo nguyên tắc 1-4-2. Thế nào là thở 3 thì? Thở 3 thì là một lần dụng công, người thực hành phải làm 3 việc. Trước hết là hít vào, kế đó là nín thở, gọi là nén khí và sau cùng là thở ra. 3 lần động tác như thế đều phải gắn liền với nhau, tức là không bị cắt đứt ở 1 quảng nào, gọi là 3 thì (lần). Nếu chỉ hít vào, thở ra như sổ tức, gọi là Thở 2 thì (lần). Chữ “thì” ở đây được dịch từ chữ Anh là “time”. Có nghĩa “lần”.

Hít vào tính 1, nín thở phải gấp 4 lần hít vào và khi thở ra gấp 2 lần hít vào. Đây gọi là nguyên tắc 1-4-2. Thí dụ: Khi hít vào, ta đếm nhẩm trong trí 3 tiếng đếm (1, 2, 3), thì khi nín (gọi là nén khí), ta phải nín gấp 4 lần hít vào: 3 x 4= 12. Lúc đó ta phải đếm nhẩm từ 1 đến 12. Và khi thở ra, ta thở gấp 2 lần hít vào: 3 x 2 = 6 tiếng đếm. Như vậy, nếu
Hít vào: 5 tiếng đếm (từ 1 đến 5)
Khi nén khí bằng: 5 x 4= 20 tiếng đếm
Khi thở ra bằng: 5 x 2= 10 tiếng đếm

Nếu hít vào: 10 tiếng đếm (từ 1 đến 10)
Khi nén bằng: 10 x 4 = 40 tiếng đếm
Khi thở ra bằng: 10 x 2 = 20 tiếng đếm.
Nguyên tắc 1-4-2 là như thế. Có nghĩa: Hít 1. Nín 4. Thở ra 2.

Nguyên tắc này nhắm mục đích tạo ra sự ly tâm máu đồng bộ trong cơ thể chúng ta. Khi ta hít vào 1, ta phải nín hơi gấp 4 lần hít vào (1 x 4 = 4). Đây là quá trình tập trung máu vào một điểm nào đó trong cơ thể. Khi đủ số 4 lần, ta từ từ thở ra gấp 2 lần hít vào (1 x 2 = 2). Trong quá trình thở ra này, máu ta rơi vào trạng thái ly tâm đồng bộ. Có nghĩa toàn bộ các phân tử máu đều đồng loạt chảy tủa ra thật nhanh trong hệ thống động mạch khắp châu thân chúng ta, phù hợp theo quá trình thời gian thở ra gấp 2 lần hít vào. Nếu áp dụng không đúng, ta sẽ chẳng tạo ra được trạng thái ly tâm máu. Đó là lý do tại sao ta phải thở theo nguyên tắc 1- 4 – 2.

Trong quá trình nén khí, máu tập trung vào một điểm nào đó theo sự tập trung ý nghĩ của ta. Lúc bấy giờ hầu hết máu đều tập trung vào hệ thống tĩnh mạch ngay nơi ta tập trung ý nghĩ. Với lòng ống rộng, tĩnh mạch có thể chứa một số lượng thể tích máu lớn hơn số bình thường. Hơn 65% máu cung cấp cho toàn cơ thể được tìm thấy ở tĩnh mạch bất cứ lúc nào, vì vậy tĩnh mạch được gọi là bồn chứa máu (blood reservoirs). Rải rác trong cấu trúc hệ thống tĩnh mạch còn có nhiều thích nghi khác là đầy rẫy nắp valves chận máu ở khắp tứ chi, không cho máu chảy ngược lại và đối nghịch với sức hút của quả đất, nghĩa là thay vì rơi xuống, máu cứ chảy lên để về tim. Khi ta nén khí, máu liền tự động tập trung vào các bồn chứa của hệ thống tĩnh mạch. Đây gọi là quá trình máu hướng tâm. Khi thở ra chính là lúc máu được dịp tập hợp trở về tim qua hệ thống tĩnh mạch để xịt ra từ tim đến động mạch chủ. Giống như ta mở vòi bơm nước, dưới áp lực cao làm nước phun vọt mạnh ra ống nước, bắn thành tia mạnh. Sự xịt ra của máu dưới áp suất cao cũng tương tự như thế, máu bị sức đẩy mạnh từ hệ thống tĩnh mạch theo nhịp thở ra gấp 2 lần hít vào, bắt buộc máu phải chảy nhanh theo tỷ lệ gấp 2 lần hít vào. Đây gọi là ly tâm máu, tức là máu thoát ra từ tim với vận tốc nhanh hơn bình thường và kéo dài thời gian chảy mạnh (theo nhịp thở gắp 2 lần hít vào). Trạng thái chảy này của máu không giống như trạng thái tuần hoàn bình thường: máu di động trong hệ thống động mạch với tốc độ nhanh. Như vậy, ly tâm máu có nghĩa máu được bơm ra mạnh từ tim qua động mạch chủ đến hệ thống động mạch, cuối cùng đến các mao mạch, sau thời gian ta nín thở và chuyển vận cơ bắp, cộng với sự tập trung ý nghĩ vào một chủ điểm trên cơ thể để thực hành nguyên tắc nén khí. Trong quá trình này, đường kính động mạch chủ và những nhánh chánh động mạch đều nở ra để đủ sức chứa lưu lượng máu được bơm từ tim theo tốc độ thở ra gắp 2 lần hít vào. Đặc tính động mạch ở gần tim đều có vách dày và đường kính rộng lớn, làm cho lòng mạch đủ sức chứa lượng máu từ tim bơm ra, và những động mạch đó đều có sức đàn hồi, gọi là động mạch đàn hồi (elastic arteries). Có nghĩa động mạch nở ra rộng rồi thu nhỏ lại một cách thụ động để thích nghi với sự thay đổi thể tích máu. Nó có 3 lớp vỏ, trong đó lớp vỏ giữa là có sức đàn hồi nhiều nhất. Nhờ sức đàn hồi này mà máu được giữ nguyên áp suất liên tục trong quá trình thở ra, tương ứng với nhịp thở gấp 2 lần hít vào mà không bị gián đoạn theo nhịp đập của tim. Đây là ý nghĩa sự ly tâm máu.

(Sưu tầm và lược thảo từ bài của Thiền Sư Thích Thông Triệt)

Image may contain: text

KHÍ CÔNG VẤN ĐÁP (Phần 7)

TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC LY TÂM MÁU QUA NÉN KHÍ

Tác dụng chủ yếu này, cụ thể như sau: Trong quá trình ly tâm, máu tạo ra 2 trạng thái ma sát (friction). Thứ nhứt là sự ma sát giữa các phân tử máu (hay hạt máu) với nhau. Thứ hai là sự ma sát giữa lưu lượng máu (blood flow) với thành mạch máu.
Về trường hợp thứ nhứt, các phân tử máu bị thúc ép bởi số lượng hơi thở ra gấp 2 lần hít vào nên phải chảy thật nhanh hơn sự tuần hoàn bình thường trong lòng ống mạch máu, chúng ma sát lẫn nhau, làm vỡ những chất còn kết lại trong máu mà không được gan tiêu hủy, như chất béo (fats), chất đạm (proteins) từ trong thức ăn gồm trứng, thịt, cheese và những sản phẩm bơ sữa (dairy products), như dầu ăn (vegetable oil), bơ thực vật (magarine) và bơ (butter). Những chất này tuy là yếu tố cơ bản cho sự sống con người, ngược lại cũng đưa đến sự nguy hiểm sinh mạng con người, nếu chúng không được tiêu hủy hết và sẽ kết lại thành những mãng nhỏ. Những mãng nhỏ này gọi là tiểu cầu mỡ (fatty plaque) đóng bên trong màng động mạch. Màng động mạch là một trong 3 thành phần cấu tạo vách động mạch hay thành động mạch (arterial wall). Sự xơ cứng động mạch [cũng gọi là vữa xơ động mạch (Atherosclerosis)] và động mạch vành (coronary artery) bị hẹp lại, gây ra bệnh động mạch vành tim (CORONARY ARTERY DISEASE), bắt nguồn từ khối tiểu cầu này. Nếu chúng càng có nhiều trong máu, chúng sẽ kết lại thành khối để cuối cùng tạo thành cholesterol, đôi khi thành chất vôi (calcium). Chúng tăng dần lên theo số tuổi, cuối cùng tạo thành cục nghẽn máu (blood clots/thrombi) đưa đến nguy hiễm tánh mạng. Vì vậy tác dụng của quá trình ly tâm máu, trước hết là chúng ta sẽ làm tan các chất béo và chất đạm vốn còn lại trong máu chúng ta để chận đứng sự hình thành cholesterol trong máu; ngừa được bệnh xơ cứng động mạch và bệnh làm tăng máu cao.
Về trường hợp thứ hai, trong quá trình ly tâm máu vừa kể, thể tích lưu lượng máu được bơm từ tim chảy ra nhanh hơn và lớn hơn mức độ bình thường, tạo ra sự ma sát vào thành mạch máu sát hơn. Độ ma sát càng lớn khi lưu lượng máu chảy vào hệ thống mạch máu nhỏ của tiểu động mạch và tiểu tĩnh mạch. Vì thể tích máu lúc bấy giờ lớn hơn lúc thở bình thường và đường kính các tiểu động mạch và tiểu tĩnh mạch lại nhỏ nên sự va chạm vào thành mạch máu phải sát nhiều hơn. Nhờ sức ma sát đó, ta có thể làm cho thành mạch máu ở khắp nơi trong cơ thể, đặc biệt nhất ở não và tim không bị tắc nghẽn, do những chất béo và chất đạm kết lại thành khối đóng lại trong đó. Những khối nghẽn hay cục nghẽn này sẽ bị vỡ ra thành những phiến nhỏ, hay mãng nhỏ (hay bị làm tiêu mòn) máu cuốn những phiến nghẽn nhỏ đó, đưa về gan để gan làm nhiệm vụ tiêu hủy chúng, sau đó thận sẽ bài tiết ra qua đường tiểu. Thế là vô tình ta làm cho máu được lưu thông dễ dàng, chữa trị được bệnh máu cao, bệnh đau đầu và tránh được bệnh tai biến mạch máu não (stroke) hay bệnh nhồi máu cơ tim (myocardial infarction), quen gọi là bệnh đứng tim (heart-attack).

Sưu tầm và thảo lược từ bài của Thiền Sư Thích Thông Triệt)

 

KHÍ CÔNG VẤN ĐÁP (Phần 8)

CÁCH THỰC TẬP 1-4-2

Nếu lấy đơn vị giây của đồng hồ làm chuẩn, khoảng cách của mỗi tiếng đếm, mỗi giây đều bằng nhau. Tức là mỗi tiếng đếm đều cách nhau 1 giây. Không tiếng đếm nào được nhanh quá mà cũng không tiếng đếm nào được chậm quá. Thí dụ bằng hình vẽ như dưới đây:
Nếu tôi hít vào 4 tiếng đếm thì biểu đồ như sau:
1…..2…..3…..4…..
Tôi nén như sau:
1…..2…..3…..4…..5…..6…..7…..8…..9…..10…..11…..12…..13…..14…..15…..16…..
Tôi thở ra như sau:
1…..2…..3…..4…..5…..6…..7…..8…..

Hít vào bằng mũi, thở ra bằng miệng. Chú ý: Khi thở ra, miệng hơi mở rộng thay vì mở hé. Cố gắng thở ra từ từ, sao cho đủ số theo nguyên tắc 1-4-2. Không được thở ào ra một lúc làm sai nguyên tắc 2. Đây là quá trình quan trọng có tác dụng đến trạng thái ma sát hữu hiệu của máu vơí thành mạch máu và giữa máu với các phân tử máu.

Khi khởi đầu dụng công, nên hít vào mấy tiếng đếm ?

Tùy theo sức khỏe hay bệnh trạng của mỗi người, số tiếng đếm đều khác nhau. Nếu một người đương bị bệnh huyết áp cao, số tiếng đếm khởi đầu là 2 hoặc 3. Nếu người không bị huyết áp cao mà khỏe mạnh, số khởi đầu là 5 hoặc 7. Rồi tuần tự tăng dần lên cho đến mức tối đa là từ 1 đến 10 tiếng đếm. Nên chọn khoảng cách mỗi tiếng đếm theo tiêu chuẩn tiếng tíc tắc của đồng hồ. Chúng tôi có thể lập mẫu tiêu chuẩn thở trong tuần lễ đầu (7 ngày) cho riêng từng vị theo trạng thái cơ thể mình như sau:
1. Huyết áp cao:
– Hít vào: 2 hoặc 3 tiếng đếm.
– Nén khí: 2 x 4 = 8, hoặc 3 x 4 = 12 tiếng đếm.
– Thở ra: 2 x 2 = 4, hoặc 3 x 2 = 6 tiếng đếm.
2. Sức khỏe trung bình cho phụ nữ và thanh niên:
– Hít vào: 5 hoặc 7 tiếng đếm.
– Nén khí: 5 x 4 = 20, hoặc 7 x 4 = 28 tiếng đếm.
– Thở ra: 5 x 2 = 10, hoặc 7 x 2 = 14 tiếng đếm.
3. Cho người già tuổi từ 65 đến 70:
– Hít vào: 4 hoặc 6 tiếng đếm.
– Nén khí: 4 x 4 = 16, hoặc 6 x 4 = 24 tiếng đếm.
– Thở ra: 4 x 2 = 8, hoặc 6 x 2 = 12 tiếng đếm.

Trường hợp huyết áp cao

Vì đề phòng tiểu động mạch của vị đó có thể đã bị dòn và cứng (hard and unyielding) trong nhiều năm – như trong bệnh xơ cứng động mạch (arterioclerosis) – làm giảm hay mất sức đàn hồi, hoặc tiểu động mạch quá hẹp do cục nghẽn ĐÓNG TRONG LÒNG MẠCH đã kết lại to lớn, cản sức chảy đi của lưu lượng máu. Nếu thời gian nén khí quá dài (từ 4 giây trở lên), làm thể tích lưu lượng máu tập trung nhiều vào tiểu động mạch, có thể gây nguy hiểm đến việc làm vỡ tiểu động mạch của vị đó một cách bất thường, khi ta thở ra. Đó là lý do tại sao số hít vào của người đương bị huyết áp cao phải thấp hơn người bình thường. Tuy nhiên, trên 20 năm hướng dẫn, chúng tôi chưa gặp trường hợp đáng tiếc nào xảy ra. Trong tháng 4 vừa qua, có một vị học lóm – học qua sự chỉ dẫn của người khác, ở Florida, gọi điện thoại hỏi chúng tôi vì sao vị ấy bị lạnh và quá mệt mỏi, sau khi thở Khí Công để chữa huyết áp cao. Chúng tôi hỏi vị ấy thở được mấy ngày rồi? Tình trạng huyết cao như thế nào? Năm nay bao nhiêu tuổi? Mỗi lần thở mấy tiếng đếm? Số khoảng cách thời gian mỗi tiếng đếm dựa vào tiêu chuẩn nào? Mỗi ngày thở mấy lần? Mỗi lần mấy hơi? Vị đó nói: Thở được 4 ngày rồi. Huyết áp cao 150/90 hoặc 160/95. Năm nay 60 tuổi. Mỗi lần thở 10 tiếng đếm. Khoảng cách mỗi tiếng đếm là 1 giây. Mỗi ngày thở 4 lần, mỗi lần thở 10 hơi. Nghe xong, chúng tôi nói: “Anh không chết là may!” Vì anh đã áp dụng sai. Chúng tôi giải thích lại cho anh ấy nghe. Và hướng dẫn lại cách thở an toàn hơn. Trong tuần lễ đầu, mỗi ngày vị đó chỉ thở 2 lần. Mỗi lần hít thở 3 tiếng đếm, nén 12, thở ra 6. Khoảng cách mỗi tiếng đếm 1 giây. Mỗi lần tập là 5 hơi (tức là thở 5 lần). Tập trong 2 tuần sẽ báo cáo lại. Sau đó vị đó có gọi, báo cáo lại là huyết áp hiện gìờ ở mức 140/90.
Từ trên nguyên tắc này, quí vị có thể áp dụng cho người bị huyết áp cao. Họ chỉ cần hít vào 3 tiếng đếm, nén 12 tiếng và thở ra 6 tiếng; khoảng cách mỗi tiếng đếm 1 giây là được. Rồi đến tuần lễ sau, họ có thể tăng lên 4 tiếng đếm. Nhưng nhớ khuyên họ giảm lượng muối ăn mặn hàng ngày.

(Sưu tầm và sơ lược từ bài của Thiền Sư Thích Thông Triệt)

No automatic alt text available.

KHÍ CÔNG VẤN ĐÁP (Phần 9)

TÁC ĐỘNG THỞ NỘI LỰC THÔNG QUA NÉN KHÍ

Nén khí có nghĩa dồn nén hay ép khí vào một điểm nào đó trên cơ thể. Trên thực tế, ta không thể dồn dưỡng khí vào một điểm nào khác trên cơ thể ngoài phổi, vì khi ta hít vào, toàn bộ dưỡng khí đều vào phổi và chứa trong các túi phổi ở 2 lá phổi. Chớ không bao gìờ có việc đưa dưỡng khí vào một nơi nào đó như nhiều người tưởng như vậy. Trong ngành khí công cổ thời, người ta nghĩ rằng con người có khả năng điều khiển hơi thở đi khắp nơi trong cơ thể theo ý muốn của họ. Thí dụ như, điều khiển hơi thở tập trung vào huyệt Khí Hải, hoặc điều khiển hơi thở đi từ rốn vòng qua xương cụt và đi ngược lên theo cột sống đến đỉnh đầu v.v…. Thật sự không phải họ điều khiển dưỡng khí mà đó là họ đã điều khiển luồng chân khí của họ. Dưỡng khí chỉ ở trong các túi phổi. Vậy thực chất của nén khí là ta tập trung ý nghĩ mình vào điểm nào đó trên cơ thể rồi chuyển cứng cơ bắp tại điểm đó, chớ không phải tập trung Hơi Thở vào nơi ta muốn tập trung.
Trong phương thức thở nội lực, các nhà Khí Công cổ thời đã áp dụng 2 giai đoạn. Giai đoạn thứ nhứt là nén khí, nhằm mục tiêu tăng cường nội lực và chữa trị vài bệnh tật. Giai đoạn thứ hai là quán tưởng, nhằm mục tiêu luyện tập nội công và phát huy nội lực đến mức thâm hậu. Ở đây chúng ta không đi chuyên sâu vào nội công, nên không sử dụng môn quán tưởng theo Khí Công. Bởi vì chúng ta chỉ chú trọng đến sức khỏe, ngăn ngừa ốm đau, bệnh tật với chủ đích trợ duyên việc tu Thiền chớ không có tham vọng trở thành một Khí Công Sư. Vì vậy chúng ta chỉ áp dụng thở nén khí. Tuy chúng ta không có nội lực thâm hậu, nhưng có sức khỏe DẺO DAI, dồi dào năng lực và sinh lực để chịu đựng với những thay đổi bất thường của thời tiết và đối phó với công việc hằng ngày, đòi hỏi sức khỏe tự nhiên. Đó là trọng tâm của việc thở nội lực thông qua nén khí.

Khi nén khí, chúng ta tập trung ý nghĩ vào huyệt Quang Nguyên. Đây là huyệt Quang Nguyên, cách rốn 8 phân. Cùng một lúc với sự tập trung ý nghĩ, chúng ta phình bụng dưới ra, thót bụng trên lại. Riêng nữ phái thì không phình bụng dưới ra, sẽ mất vẻ thẩm mỹ mà chỉ nên cùng một lúc chuyển cứng cơ bụng trên và dưới. (2) Chúng ta cũng cần biết tại sao mình phải nén khí ngay tại những điểm, như bụng trên, bụng dưới, ngực, 2 vai, nách và nắm chặt 2 bàn tay vân vân, vì bên trong những vùng đó là nơi kết tập (collect) nốt bạch huyết mà chúng tôi đã chiếu hình quí vị xem khi nảy. Nguyên tắc tuần hoàn của bạch huyết bào là nhờ vào sự chuyển vận cơ bắp, bây giờ chúng ta chuyển cứng cơ bắp tại những nơi đó chính là chúng ta giúp cơ hội cho bạch huyết bào dẫn lưu vào máu được dễ dàng. (3) Chính vì thế, nếu một người thiếu luyện tập cơ thể, dù cho cơ thể vốn có sẵn kho tàng thuốc kháng sinh, vị đó vẫn đau ốm thường trực. Nguyên do vị đó không tác động được hệ bạch huyết, làm cho bạch huyết bào không được thoát ra với tính cách qui mô, nên cơ thể không đủ sức chống trả lại sự xâm nhập của vi trùng, vi khuẩn và tế bào lạ (trong đó có cả tế bào ung thư).

(Sơ lược từ bài của Thiền Sư Thích Thông Triệt)

Đan điền

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Đan điền là thuật ngữ trong y học, võ thuật, dưỡng sinh dùng để chỉ một vài trung tâm khí lực hay là các huyệt đạo trên cơ thể người.[1][2]

Nghiên cứu về Đan Điền được dùng ban đầu trong Đạo giáo. Tuy nhiên vì có nhiều môn phái, sách vở khác nhau nên thuật ngữ “đan điền” có thể được dùng không nhất quán bởi các môn phái khác nhau. Trong cơ thể người có ba bộ vị được gọi là đan điền:

  • Thượng đan điền: Trùng với huyệt Ấn đường (giữa 2 chân mày) còn gọi là “Đan Điền thần”.[3][4]
  • Trung đan điền: Trùng với huyệt Đản trung (chính giữa đường nối 2 đầu ti, cắt ngang đường dọc theo xương ức) còn gọi là “Đan Điền khí”.[5] (Ren Mai.16 ~.21)
  • Hạ đan điền: Còn gọi là “Đan Điền tinh”, vị trí bắt đầu ngang với huyệt Khí hải (nằm trong khoảng trên đường chính trung, dưới rốn 1,5 thốn – khoảng 3 cm) và huyệt Mệnh môn (tại cột sống, ngang với thắt lưng). Khi Đan Điền được chủ động kích hoạt, bộ vị của nó hoàn toàn nằm ở giữa và phía trên bụng dưới. Có môn phái thì nói nó nằm trên huyệt Thần khuyết (rốn).[6] (Ren Mai.3 ~.12)

Tham khảo

  1. Yang, Jwing-Ming. (1989). The root of Chinese Chi kung: the secrets of Chi kung training. Yang’s Martial Arts Association. ISBN0-940871-07-6.
  2. Cohen, K. S. (1999). The Way of Qigong: The Art and Science of Chinese Energy Healing. Random House of Canada. ISBN0-345-42109-4.
  3. T’ai Chi Ch’uan and Meditation by Da Liu, page 92 – Routledge and Keegan Paul 1987 ISBN 0-14-019217-4
  4. The doctrine of the elixir by R. B. Jefferson Coombe Springs Press 1982 chapter 4. The Archaic Anatomy of Individual Organs
  5. http://www.goldenelixir.com/jindan/dantian.html
  6. Taoist Yoga by Lu K’uan Yu page 10. (Rider, 1970) This area is associated with the Sea of Qi.
Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s