Ngày tôi xa quê hương / truyện kể về tháng Tư / Như Nguyệt

Tôi có ý định viết về biến cố ngày 30 tháng Tư -một ngày quá ư là trọng đại đối với riêng cá nhân tôi và toàn dân Việt Nam năm 1975- tự lâu rồi. Nghĩ đến sẽ viết… Chỉ nghĩ thôi à các bạn ơi, vì tôi rất lươi huyền, hì hì…, đối với tôi, làm thơ đỡ mất thì giờ hơn nhiều, còn ngồi gỏ lóc cóc kể chuyện, mấy ngón tay tôi rất mỏi, viết lại không được hay… chả ai thèm đọc thì viết để làm gì cơ chứ?  Cứ nghĩ như thế nên tôi lại thôi.

Nhưng hôm nay cơn… ghiền nổi lên, làm cho tôi chăm chỉ ngồi xuống, nhớ lại ngày hôm đó…

*****

Hôm đó là ngày 29 tháng Tư, năm 1975.  Tôi đang nằm chán chường đọc truyện thì nghe tiếng thằng nhóc ở nhà bên cạnh la to thật là to, to đến độ ở bên nhà tôi còn nghe được: 

“Sắp đi Mỹyyyyy….!  Sắp đi Mỹ rồiiiiiii…!” 

Tôi nghe thế bèn chạy xuống nhà nói với mẹ tôi: 

“Mẹ ơi, con thấy thằng Hòa con chú thím Bẩy vừa la lên là sắp đi Mỹ đó. Cả nhà bên ấy đang xôn xao. Mẹ qua nhà chú Bẩy hỏi thăm thử đi mẹ”.  Mẹ tôi vội vàng chạy qua bên nhà hàng xóm. Chỉ khoảng vài phút sau, mẹ tôi hối hả về nhà, bảo cả nhà phải sửa soạn để lên đường ngay lập tức!

Biến cố tháng Tư xẩy ra quá nhanh. Trước đó hơn cả tháng, mẹ tôi đã tìm đủ mọi cách, dò hỏi tìm đường đi. Nhà tôi là dân Bắc kỳ mà, đã phải chạy trốn Cộng Sản từ năm 1954, bố mẹ tôi đã từng nhìn thấy tận mắt cảnh đấu tố ghê rợn như thế nào rồi nên rất hiểu, rất sợ ở lại Việt Nam nếu Việt Nam mình không còn tự do dân chủ. Ông bà nhất định phải ra đi bằng mọi giá, quyết chí sẽ đi thêm một lần nữa, tị nạn Cộng Sản thêm một lần nữa, cho dù kỳ này, chuyến đi này có nghĩa là phải rời bỏ, bỏ lại tất cả nhà cửa, tài sản, phải lìa xa quê hương, không biết đến chừng nào mới có dịp trở về… Thời điểm đó, may mắn có bà chị thứ Năm của tôi đang học ở bên Úc nên bố mẹ tôi yên trí lắm!  Cùng lắm thì xin tị nạn ở Úc, nước Úc cũng là một đất nước tự do mà, ở bất cứ nơi nào cũng vẫn hơn là ở với tụi Việt Cộng gian manh.

Mẹ lo cho bố tôi và tôi đi trước. Có bà bạn của mẹ sẽ đi Mỹ, mẹ hỏi tôi có chịu làm con nuôi của bạn mẹ, để qua Mỹ trước một mình không? Mặc dù sợ lắm, không biết tương lai sẽ ra sao nhưng tôi cũng chịu (đúng là điếc không sợ súng) vì tôi không muốn bị ở lại với tụi VC!   Có nhiều tin đồn khủng khiếp là tụi VC sẽ bắt nhốt mấy cô nữ sinh lại, cô nào để móng tay dài, chúng sẽ rút móng tay!  Rồi người ta còn đồn đãi là học trò, nữ sinh viên sẽ bị ép lấy mấy anh cán ngố… vân vân và vân vân…  Tôi nghe mọi người xầm xì, mặc dù bán tín bán nghi, nghĩ rằng hầu hết những tin đó chỉ là tin đồn, tin vịt; nhưng nếu nhỡ đó là sự thật?  Tụi Việt Cộng mà, ác độc lắm mà, chuyện gì mà chúng chả dám làm?  Nên có nhiều người rất hoang mang! Lý do tôi chịu đi trước một mình vì tôi nghĩ đằng nào tôi cũng sẽ học đại học ở nước ngoài.  Mẹ tôi đã dự định nếu tôi không xin được học bổng, cho dù bất cứ giá nào; mẹ cũng sẽ lo cho tôi đi du học… khi tôi học xong lớp 12 trong vài năm nữa. Tôi vốn được cưng chìu, chả phải làm việc nhà gì cả, nên tôi biết, cho dù mơ hồ, rằng nếu bị đẩy vào một đời sống hoàn toàn mới lạ, xa nhà, xa quê hương, xa bạn bè, thân quyến… không có sự bảo bọc, thương yêu của bố mẹ thì tôi không biết mình phải xoay sở ra sao?  Cuộc sống mới của tôi nơi xứ người chắc chắn sẽ rất khó khăn và cực khổ!….. May quá!  Chuyện đã không thành. Và mẹ tôi lại tiếp tục tháo vát, đảm đang; bà nhanh nhẹn đi tìm manh mối, tìm đủ mọi phương cách khác. Tôi thấy những người làm sở Mỹ trong xóm tôi, từ từ ra đi bằng máy bay, ngày nào cũng có người đi. Tôi nghe thấy tiếng đạn pháo kích ầm ỉ mỗi ngày! 

Lúc đó, hai ông anh tôi từ chiến trường xa đã may mắn chạy được về nhà. Lúc đó, bạn trai của bà chị kế tôi, anh S. đang học năm chót Y khoa, gia đình anh ở Châu Đốc, cũng đến tạm trú ở nhà tôi. Mọi người chả biết làm gì khác hơn là chờ đợi. Trước đó khoảng vài ngày, cả nhà tôi đã dắt díu nhau đến chỗ hẹn, nhà của một người bạn mẹ, để cùng nhau ra phi trường đi bằng lối máy bay, nhưng lúc đó phi trường Tân Sơn Nhất đã bị pháo kích nặng nề, tòa Đại sứ Mỹ cũng chả hơn gì, chẳng có một chút xíu an ninh gì cả.  Mọi sự, tất cả đều đã hổn loạn, chao đảo, dân Sài Gòn hoảng hốt!  Ngồi chờ ở nhà bạn mẹ tôi lâu thật lâu! Rốt cuộc mọi người phải quay về. 

Cho nên ngay buổi trưa hôm đó, ngày 29 tháng Tư năm 1975, nghe mẹ tôi nói như thế, mọi người đều mừng quá là mừng, vội vàng thay quần áo, vì đã có sẵn túi sách, vali từ mấy ngày hôm trước, nên chỉ trong vòng tích tắc là tất cả đã sẵn sàng để đi ngay. Khi tôi đi ngang qua nhà PK, bạn học Trưng Vương, nó thấy tôi và gia đình, người nào cũng tay xách nách mang, vội hỏi: 

“Mày đi đâu, cả nhà mày đi đâu vậy?” 

Tôi bảo nó: 

“Nghe nói có tầu ở bến tầu, nhà mày cũng đi luôn đi, đi mau, đi liền ngay đi … nếu không tầu sẽ rời bến đó”.

Đến bến tầu, có hàng rào kẽm gai ngăn chận lại; họ không cho vô. Ông anh cả tôi bèn lấy vòng vàng nhét vào tay mấy người lính để họ mở rào, nữ trang thì họ lấy nhưng rồi họ cũng nhất định không cho phép đi qua. May quá bố tôi làm quan thuế, công chức ở kho 11; có người nhận ra bố tôi nên họ mới nói với nhau để cho bố tôi và cả nhà đi qua khỏi cổng rào.  Chị dâu tôi, vợ của người anh thứ ba, bế theo đứa con gái 1 tuổi, con bé cháu đầu tiên của gia đình, ra tận bến tầu để tiễn cả nhà. Chị đứng đó đến giờ phút cuối cùng nhưng không đi vì chị đã quyết định ở lại.  Chị nói với mẹ tôi: 

“Nếu anh Tiến còn sống, con chắn chắn sẽ đi theo bố mẹ, theo gia đình chồng nhưng anh Tiến đã mất rồi, mẹ cho con xin phép được ở lại với ba má, gia đình con”.  

Chị dâu tôi đẹp lắm! Chị hát hay nên rất… hay hát, hihi… Tết đầu tiên sau khi lấy anh tôi, chị đã hát cho tôi và cô em út nghe nhiều bản nhạc Xuân, trong đó có bài Câu Chuyện Đầu Năm: “Trên đường đi lễ Xuân đầu năm, qua một năm ruột rối tơ tằm…”

Câu chuyện đầu năm

Lần đầu tiên có người hát riêng cho hai đứa tôi nghe, tụi tôi rất thích. Tôi thích và thương chị vì chị hay ăn hàng, ăn quà vặt, rất vui vẻ, hòa đồng với chúng tôi.  Tên chị là Kim Thạnh, nhưng ở nhà gọi chị là chị Bé.   Chị Bé chỉ tôi nấu chè, làm bánh, may quần áo. Chị là người Nam, tính tình thật thà, dễ chịu, dễ thương!  Chị hay cười, nụ cười thật tươi có 1 cái răng khểnh rất xinh. Đàn bà mà đẹp phần đông bị lận đận, long đong, khổ về đường tình ái. Chị dâu tôi trái lại, được chồng cưng yêu, mối tình của chị với anh tôi đẹp như mơ. Anh Tiến tôi và chị đang sống với nhau quá chừng hạnh phúc nhưng… cái số của chị đúng là số hồng nhan bạc phận mà!  Khi chị đang mang thai khoảng 6,7 tháng thì anh tôi bị tử trận. Thấy chị vác cái bụng bầu thật lớn, lết về nhà báo tin chồng chết, thấy chị khóc sưng vù cả mắt, xỉu lên xỉu xuống, gào khóc khi đi theo sau quan tài, ai mà không xót xa, mũi lòng thương chị và rơi lệ chứ?!

Tội nghiệp chị, lúc đó chị mới có hai chục tuổi đầu. Chị ở lại Việt Nam là một quyết định quá sai lầm vì chị là người Nam nên ngây thơ chưa biết, không hiểu rõ bọn Việt Cộng ác độc như thế nào; mẹ của chị lại là dân nằm vùng nữa… nên chả trách được. Hơn một năm sau đó, chị giẫm mìn chết thảm khi đang đi lao động ở vùng kinh tế mới. Cháu gái của tôi thế là mồ côi cả cha lẫn mẹ, nó phải ở với ông bà ngoại nó. Bà ngoại cháu chắc về sau này ân hận ghê lắm! Ân hận vì đã từng là VC nằm vùng, ân hận vì đã không bỏ chạy, chạy khỏi, chạy trốn cái chính thể độc tài, tàn ác, tham lam, chỉ biết vơ vét của công làm của riêng. Bọn Cộng Sản Việt Nam đúng là một lũ cầm quyền ngu dốt, láo khoét, không hề biết thương dân, yêu nước. Sau khi lấy miền Nam, chúng đã đưa đất nước tôi trở lùi… đi ngược lại với thế giới văn minh, trở thành một quốc gia thấp kém, nghèo nàn, đói khổ.  Các quân nhân, công chức bị bắt giết, tù đầy.  Biết bao nhiêu người đã liều chết ra đi, vùi thây nơi biển cả…

Mẹ tôi thương đứa cháu nội của bà, cứ tiếc nuối mãi.  Mẹ nói hoài:

“Biết thế cứ dằn lấy nó, bế nó theo nhỉ…. chắc mẹ nó cũng cho nó đi mà!”

Cho dù chính bà và chị em chúng tôi có gửi tiền về khá nhiều, rất đều cho cháu nhưng mẹ tôi vẫn khắc khoải hoài, chẳng thể nào yên tâm, cứ thương nhớ đứa cháu nội còn kẹt lại.

Cả nhà tôi may mắn, đúng là trời thương, đi được hết: bố mẹ tôi, vợ chồng ông anh cả, hai ông anh độc thân, chị kế tôi và bạn trai, tôi và nhỏ út. Tất cả mười người.  Chúng tôi đi bằng một chiếc tầu lớn của tư nhân có tên là tầu Anh Tuấn.  Trước đó vài ngày, chú của mẹ tôi (ông làm việc về hàng hải) có đến nhà trả lời cho mẹ tôi biết là họ không nhận thêm người nữa, cho dù mẹ tôi đã chịu trả 15 lạng vàng cho mỗi đầu người -theo ý họ- để được đi.  Thất vọng quá nhưng mẹ tôi cũng cứ sang tên nhà lại cho ông.  Không ngờ ngày 29 tây, ngày cuối cùng của cuộc nội chiến thảm khốc tương tàn; chiếc tầu mà gia đình chúng tôi cùng leo lên lại là tầu Anh Tuấn!

Người ta leo lên tầu nhiều chật nứt, đâu cũng thấy người, người nằm ngồi la liệt. Gia đình chúng tôi ngồi gần ngay bếp, chỗ có cầu thang đi xuống hầm tầu, tương đối rộng rãi, đêm nằm ngủ thoải mái, có thể dạng chân dạng tay chứ không phải nằm chật chội sát cạnh bên nhau như xếp cá hộp. Trên đường đi có tiếng súng bắn nổ đì đùng, nghe rất gần, veo véo bên tay, chát chúa làm cho mọi người khiếp đảm. Mọi người đều nghĩ họ bắn theo tầu của mình nên lo sợ lắm!  Khi đi ngang qua Vũng Tầu, tôi thấy lòng mình bâng khuâng, nơi tôi sinh ra đây mà…  (khi tôi gần 2 tuổi thì gia đình tôi dọn vào SàiGòn) ấy thế mà tôi chưa hề được trở về thăm, dù chỉ một lần (thỉnh thoảng mẹ tôi có đi VT, sao tôi không đòi mẹ cho tôi đi theo nhỉ?)  Tôi chẳng thể nào hình dung nổi Vũng Tầu nhìn ra làm sao, bãi biển có đẹp không, tôi sinh ra ở bãi trước hay bãi sau (tôi không hỏi mẹ tôi) và đã thầm nghĩ trong đầu: Vĩnh biệt Vũng Tầu, vĩnh biệt Việt Nam, không biết bao giờ mới có dịp trở về?  Không biết trong cuộc đời còn lại của mình, mình có sẽ được thấy, được về thăm nơi chôn nhau cắt rốn của mình không?  Chào quê hương yêu dấu!”

Chỉ sau vài tiếng lên tầu thôi, thì tôi bị có tháng.  Rầu ơi là rầu!  Tôi chẳng phòng hờ, chả mang theo gì cả, thấy xấu hổ quá, sợ mọi người nhìn thấy nên tôi cứ ngồi lì, ngồi yên tại chỗ, chả dám đứng dậy, chả dám đi đâu. Thời gian trôi qua thật não nề, chậm chạp. Cũng may tôi không bị ra nhiều, sau đó còn xin xuống được dưới hầm tầu để tắm rửa và thay quần áo. Lúc đó nước ngọt rất quí nên tôi chỉ được tắm bằng nước biển, tắm xong, cả người tôi cứ dính dáp, rin rít thế nào ấy, rất là khó chịu. Làm đàn bà, con gái rất là khổ quí vị ơi, tôi “công nương” quen rồi nên với tôi, ngay ngày đầu tiên rời khỏi quê hương, tôi đã thấy khổ, khổ quá rồi!

Các bạn biết sao không?  Cho dù lương thực, nước uống họ dự trữ rất nhiều nhưng vì có nhiều người leo lên tầu quá nên chủ tầu và ban quản lý rất dè xẻn khi phát nước, phát cơm.  Gia đình tôi may mắn lắm, vì ngồi ngay bếp nên khi được chia phần ăn, nhà tôi được chia trước hết, anh đầu bếp lại có cảm tình với gia đình tôi; anh luôn luôn đưa phần ăn nhiều nhất cho chúng tôi. Chưa bao giờ tôi thấy được ăn ngon như thế, cơm trắng và cá khô thôi nhưng sao mà thơm ngon đến thế. Tôi còn đòi anh cho ăn cơm cháy nữa, cơm cháy giòn rụm, thơm phức ăn với cá khô chiên mằn mặn giòn tan, ngon thì thôi! Còn có lạp xưởng và ruốc thay đổi cho mỗi buổi nữa… Đang đói bụng, nên cho dù ăn cơm khô khan, tôi vẫn thấy quá ngon!

Đêm hôm đó, mọi người nghe radio thấy Trịnh Công Sơn hát bài “Nối vòng tay lớn”.  Mất! Mất rồi! Mất nước thật rồi! Hỡi ơi… Tôi thấy buồn ơi là buồn!  Buồn quá đỗi!

Mặc dù nhớ trường, nhớ bạn; mặc dù là thân phận người tị nạn long đong… đêm thứ hai trên tầu; tôi cũng vẫn… mơ mộng như thường. Đêm tối mịt mùng nên trăng sao sáng tỏ, lung linh và lung linh!  Nước biển nhấp nhô, lấp lánh ánh trăng vàng. Tôi ngồi ngắm trăng ngây ngất!  Ngồi yên lặng một mình, tôi nghĩ đến quê hương, nghĩ đến bạn bè, nghĩ đến họ hàng thân thuộc còn kẹt lại và tôi rơi nước mắt. Nước mắt chẩy ra ràn rụa. Ôi, quê hương ơi, quê hương tôi sao quá lầm than!  Những người còn ở lại rồi sẽ ra sao? Tôi cảm thấy thương tâm quá!

Trưa hôm sau, ngày thứ ba lênh đênh trên biển, tầu đang đi êm ru thì bỗng dưng có bão. Đúng là giông tố bão bùng! Mưa ầm ầm, mưa to gió lớn; gió rú, rít lên bay phần phật mấy tấm phông che.  Mấy người đàn ông phải hùa lại ôm, phải giữ lại phông che vì gió đã bật, tróc lên, làm bay mất đi một số. Tầu Anh Tuấn là một chiếc tầu khá lớn, thế mà nó như một chiếc lá bé nhó, bồng bềnh, chông chênh trên mặt biển. Đại dương mênh mông, bao la quá! Trời bỗng tối xầm, đen kịt lại, âm u. Chiếc tầu bị nhào lên nhào xuống, lắc lư thật mạnh như sắp bị úp ngược lại. Thật hãi hùng! Mưa gió lạnh lùng, lạnh đến buốt xương! Lần đầu tiên tôi mới biết run lập cập là run như thế nào? Hai hàm răng đánh vào nhau nghe lập cà lập cập đó mà! Tất cả mọi người đều muốn chạy xuống hầm tầu cho đỡ ướt.

Tôi ngồi co ro, nhắm nghiền mắt lại vì sợ hãi; nhiều tiếng la hét hốt hoảng ở chung quanh, có nhiều người dẫm lên người tôi mà đi, họ dành nhau chạy xuống hầm tầu. Tôi nghe tiếng năn nỉ, tiếng khẩn khoản cầu Trời, khấn Phật, van xin Chúa… Tôi cũng nghe thấy mình nói thầm, tụng kinh cầu xin đức Phật cứu vớt chúng tôi, xin Phật Bà QuanThế Âm cứu khổ cứu nạn… giúp chúng tôi vượt qua khỏi cơn khổ nạn nầy. Con tầu quá bé nhỏ trong gió bão, sóng gầm lên, sóng nổi trận lôi đình, giận dữ, nhồi thật mạnh như muốn hất tất cả mọi người xuống lòng đại dương! Tiếng gào khóc chung quanh làm cho thần kinh tôi căng thẳng, nhức óc, mệt lã cả người…. 

Bây giờ nhớ đến cái cảnh tượng ngày hôm đó, tôi lại thấy buồn cười, bình thường thì không thấy ai nhớ đến Phật, đến Chúa cả, đến khi xẩy ra chuyện thì mọi người mới kêu xin, mới nhớ đến, mới van nài…  có quá trễ lắm không?!

Rồi thì cũng có người đỡ tôi xuống dưới, không còn bị mưa ướt và gió lạnh nữa; nhưng khi ở hầm tầu, không khí không thoáng như ở phía trên, tầu lại lắc lư, nhồi rất mạnh, trồi lên rớt xuống kinh khiếp quá! Trong suốt cuộc đời tôi, chưa bao giờ tôi bị nôn mữa một cách dễ sợ, kinh hoàng như thế, đó là lần đầu tiên và mong rằng cũng là lần cuối cùng… vì cái cảm giác đó ghê rợn lắm các bạn ơi! Khi đó tôi mới hiểu ra khi người ta nói ói đến mật xanh, mật vàng là như thế nào!!!  Có nghĩa là bao tử mình đã không còn gì để ói, đắng nghét những chất nước mầu vàng vàng, xanh xanh vẫn cứ ọe ra (xin lỗi đã tả chân, hổng được thanh tao cho lắm nhé, hichic..). Tôi thấy đau quặn bụng!  Nước mắt nước mũi tràn ra, nhức đầu, chóng mặt quay cuồng đến độ gần ngất xỉu!

Cơn bão, dù có lớn cách mấy, rồi cũng qua đi. Người nào người nấy đều như cái mền rách, mặt trắng bệt, xanh xao… ngoại trừ một số rất ít người không bị say sóng và thật là khỏe mạnh, còn lại thì ngất ngư, mệt đờ người, nhừ tử! Cả người tôi ướt sũng,  tôi phải lò dò lấy bộ quần áo khác để thay. Ngày hôm sau, tôi thấy người ta cột quần hoặc áo của họ vào 1 dây thừngbằng ny lông, xong thả xuống biển để…giặt.  Tôi cũng bắt chước làm theo.  Lúc đó tôi đã khá hơn, chai lì hơn nên không còn biết mắc cỡ là gì cả (nói vậy chứ cũng còn chút chút, hihi….).  Tôi đã ráng làm mặt tỉnh, cột cái quần lót dính đầy vết dơ thả xuống dưới biển, may quá cũng chẳng có ai thèm để ý.  Tầu chạy bong bong kéo theo sợi dây thừng, lần đầu tiên tôi cột không chặt nên bị mất toi cái quần xì líp! Sau đó, có kinh nghiệm hơn, tôi cột thật chặt!  Nước biển quả thật là mầu nhiệm, giúp khử trùng và làm sạch sẽ một số quần áo của tôi.

Tôi gặp PK -nhỏ bạn Trưng Vương-  trên tầu, thì ra là nhờ tôi mà gia đình nó cũng đi được. Gia đình của nó mang theo rất nhiều thức ăn. Lúc đi, mẹ tôi cũng quơ theo vài ổ bánh mì, giò chả… mang theo được cả cái nón lá nữa cơ đấy… nhưng thứcăn đã hết ngay trong ngày thứ hai; vả lại nếu còn, bão tố cũng làm bánh mì ướt nhẹp hết, không ăn được. Mẹ tôi muốn mua sữa cho bố tôi uống, mua mì gói cho mấy đứa con nên tôi nói lại với PK.  Các bạn biết sao không? Mẹ của PK đòi bán $10, $15 đô cho mỗi thứ (đúng là cắt cổ!). Biết là đắt, nhưng vì cần thiết nên mẹ tôi cũng phải mua.

Hảo, em gái tôi, tình nguyện làm người đi phát nước. Nó và một anh nữa, người cầm thùng nước, người mang theo một cái ấm to và một cái ly nhỏ. Những người tị nạn có đồ chứa nước, Hảo đổ nước từ ấm to vào trong đó; người nào không có, Hảo rót nước vào cái ly nhỏ cho uống tạm.  Nghe Hảo kể có một số người vì khát nước quá, đã phải uống cả nước tiểu của mình.  Tầu Anh Tuấn lớn lắm quí vị à, Hảo nó đi phát nước hết một vòng cũng mất hơn cả tiếng rưởi đồng hồ. Lúc đó, khát nước, nắng lại chói chan đến hoa cả mắt, người đi phát nước chắc nhìn giống như một… nàng tiên tuyệt diệu, từ trên trời rơi xuống, ha các bạn?   Bởi thế có nhiều người biết và nhớ mặt em tôi lắm. Khi ra đến trại tị nạn, có nhiều người đã nhận ra nó, tay bắt mặt mừng với nó.

Tầu đi lang thang trên biển khoảng 5 ngày thì gặp tầu hải quân của Mỹ. Mọi người từ từ leo thang lên tầu lớn. Lúc đó, vì họ không cần dùng đến nước nữa nên tôi được cho xuống tắm ở tầng dưới, được tắm hoàn toàn bằng nước ngọt, chứ không là nước biển như vài lần trước đó. Chưa bao giờ tôi thấy sung sướng như thế; thoải mái, dễ chịu, quá ư là dễ chịu, thoáng mát, sảng khoái quá chừng đi.

Khi qua bên tầu Mỹ, có một người đàn ông duy nhất trên tầu Anh Tuấn (thì ra ông lại là bố của một người bạn tôi, bạn học trên đại học sau này) đã từ trần và họ phải thủy táng ông.

Buổi tối đầu tiên ở trên tầu Mỹ, tôi ngồi nghe ông anh trai và ông anh rể tương lai nói chuyện với mấy người lính Mỹ, thấy thích lắm! Tuy hiểu hết nhưng tôi rất nhát, chỉ cười cười ngồi nghe ké chứ chả dám nói năng chi. Tối hôm đó, tôi nghe từ radio của một người lính Mỹ bản nhạc “You are everything”.  Tuy mới nghe lần đầu, tôi đã thấy thích ngay.  

You are everything

Nẩy giờ N ngồi gỏ keyboard lóc cóc mà cũng đã hơn hai tiếng đồng hồ rồi đó. Đói bụng rồi, N đi kiếm cái gì ăn nha… Chuyện đời tị nạn của N còn dài lắm nhưng tạm thời N chỉ kể đến đây thôi… từ từ, nếu chăm và có hứng, N sẽ kể tiếp nha…

Mỗi lần tháng Tư về, nhất là gần cuối tháng Tư; chúng ta đều cảm thấy buồn, thấy nhớ quê hương, thấy bâng khuâng, phải không các bạn?  Những người Việt tị nạn Cộng Sản không bao giờ quên một cuộc đổi đời to lớn của dân Việt Nam mình, ảnh hưởng đến biết bao nhiêu là thế hệ.

Quách Như Nguyệt

Bạc sỉu, di sản Sài Gòn xưa

Bạc sỉu là một trong những thức uống độc đáo nhất sinh ra ở Sài Gòn, là sản phẩm pha trộn của ba nền văn hóa Hoa-Việt-Pháp.

Món bạc sỉu ở quán cà phê vợt ông Thanh, quận 11. Ảnh: Internet

Cộng đồng người Hoa ở Sài Gòn có lẽ đi sớm hơn người Việt trong kinh doanh hàng quán, trong đó có cà phê. Cà phê cho giới bình dân được biết đến đầu tiên ở Sài Gòn nhờ “tiệm nước” (tiệm bán đồ ăn sáng như hủ tíu, bánh bao, xíu mại, cà phê và trà) của người Hoa.Thời kỳ đầu của cà phê Sài Gòn, người ta gọi cà phê là “cà phé”. Bây giờ, nếu vào một tiệm nước nào đó, bạn sẽ thấp thoáng nghe thấy từ “phé nại” (tức là cà phê có sữa). Với tôi, để tìm thấy món bạc sỉu ngon và đúng kiểu Sài Gòn xưa, phải tìm đến những quán cà phê vợt “kho” cà phê bằng chiếc ấm đất màu da lươn.

Chiếc ấm đất màu da lươn được sản xuất ở làng gốm Bình Dương. Ảnh: Internet

Sài Gòn hiện chỉ còn vài nơi còn giữ cung cách pha cà phê bằng vợt và siêu đất, trong đó được biết đến nhiều nhất có lẽ là tiệm cà phê ông Thanh trên đường Tân Phước (quận 11, gần chợ Thiếc) và quán cà phê Cheo Leo ở hẻm 109 Nguyễn Thiện Thuật (quận 3).Chiếc siêu đất màu da lươn một thời rất phổ biến dùng để sắc thuốc Bắc. Được sản xuất ở những làng gốm nổi tiếng của Việt Nam, trong đó có làng gốm Lái Thiêu ở Bình Dương nức tiếng một thời.

Pha cà phê vợt ở quán cà phê Cheo Leo. Ảnh: Internet

Không hiểu sao, những người Hoa ở Sài Gòn xưa lại nghĩ ra cách “kho” cà phê bằng chiếc siêu đất này, khi kho xong, lại dùng chiếc ấm đó giữ nóng cà phê trên lò than củi.Nếu như nhiệt độ nước pha cà phê theo kiểu Tây ở khoảng trên dưới 95 độ thì nước pha cà phê vợt có nhiệt độ cao hơn, gần 100 độ. Hương vị cà phê vì thế có mùi khen khét đặc trưng, cộng với mùi khói than và cách giữ nóng trên lò than khiến cà phê như được kho thêm lần nữa, đã tạo ra một mùi cà phê rất riêng, khác hẳn với mùi cà phê phin hay phễu Tây.

Ảnh: Internet

Giới nghiền cà phê thuộc tầng lớp trung lưu trở lên trong xã hội Sài Gòn xưa ngồi đợt giọt cà phê phin thánh thót trong những quán sang trọng, còn người bình dân Sài Gòn thời ấy sẽ ngồi chồm hổm trên ghế theo kiểu “nước lụt”, hay ngồi chân trên chân dưới đợi một ly cà phê pha bằng vợt có mùi khen khét, đậm đà.Vì vậy tại những tiệm nước trong Chợ Lớn thời những năm 1970s, đố ai tìm ra được bóng dáng cái phin cà phê. Dân lao động không có thời gian để ngồi đếm từng “giọt thời gian rơi trên đáy cốc”.

Ảnh: Caphenguyenchat

Chính từ quán cà phê vợt, bạc sỉu và cà phê sữa đặc mới ra đời. Thời xưa, sữa tươi vẫn được coi là mặt hàng cao cấp hơn, khó phổ biến ở chốn bình dân. Trong khi đó, sữa đặc có đường hiệu Ông Thọ hay Con Chim (cách gọi tắt của hãng Nestlé) đã đi sâu vào đời sống của đa số người dân hơn cả, phần do giá cả rẻ hơn, lại dễ bảo quản.Trong hồi ức của người Sài Gòn xưa thì bạc sỉu chính là món dành cho con nít theo cha vào quán. Trẻ con đương nhiên không thể uống được cà phê đen, nhưng hương cà phê thì quá quyến rũ. Sau này, khi phụ nữ bắt đầu ngồi quán cà phê thì bạc sỉu là “cầu nối” của họ tới cà phê sữa, hay đơn giản chỉ là thức uống thơm thơm cho gần gũi hơn với người bạn đi cùng uống cà phê.

Ảnh: Internet

Ngày nay, tôi vẫn thấy bạc sỉu là thức uống tuyệt vời dành cho con nít muốn tập uống cà phê, hay phụ nữ không chịu được vị cà phê mạnh. Nhiều nơi bán bạc sỉu đá thật không đúng cách, vì tỉ lệ cà phê vốn rất ít, sữa nhiều, chỉ có uống nóng mới dậy lên mùi thơm của cà phê. Riêng món cà phê sữa thì đậm đặc cà phê hơn bạc sỉu, mới có thể uống ngon cả hai kiểu nóng và đá.Cư dân Sài Gòn chấp nhận và sàng lọc tất cả những nét hay của nhiều nền văn hóa, tạo ra một sản phẩm phù hợp với vùng đất này. Bạc sỉu, hay cà phê sữa đá “made in Saigon” đủ sức lay động lòng người ở quy mô toàn cầu. Bởi cà phê latte của Ý thực ra cũng là cà phê hòa cùng sữa tươi mà thôi.Nhà văn Bình Nguyên Lộc trong một tác phẩm văn học của mình đã miêu tả món “Pạc xẩy” (bạc sỉu) như sau:“Người cha kêu cà phê đen cho mình, nhưng kêu bằng thổ ngữ Quảng Đông là “xây chừng”, nên thằng bé không hay biết. Chừng phổ ky đem món uống lại, nó mới nói: “Ba ơi, con muốn uống cà-phê như ba!” – “Ê, trẻ con không nên uống cà-phê”. Người cha vừa nói, vừa xé cái bánh tiêu, nhét xíu mại vào để làm nhưn, rồi trao cho con. Thình lình Kỳ ngây người ra: Chàng vừa thấy người cha gọi cho đứa bé cái “pạc xẩy” tức cà phê có sữa.”Pha được một ly bạc sỉu ngon vừa dễ vừa khó. Tôi vẫn thường phải tìm đến các quán cà phê vợt để được uống một ly bạc sỉu đúng nghĩa. Bởi người bán đã pha chế món này hơn nửa thập kỷ, đến độ không cần dụng cụ đong đếm mà vẫn có thể cho ra một ly bạc sỉu cân bằng vị đắng của cà phê, vị ngọt của sữa đặc, thêm mùi khen khét của lò than để nhớ về ký ức quê nhà.

Nếu bạn thử chấm miếng giò cháo quẩy hay miếng bánh tiêu vào ly bạc sỉu như kiểu cách người Sài Gòn bình dân xưa sẽ thấy kiểu ăn này rất ngon miệng và hấp dẫn. Ảnh : Saigonamthuc
Ảnh: Saigonamthuc

Có người còn gọi là “bạc sỉu” là “bạc tẩy xỉu phé” (sữa nóng thêm chút cà phê). Những người Hoa tới quán ông Thanh gần chợ Thiếc thường gọi là “pạc xỉu” hay “phé nại”. Thôi, gọi gì đi nữa thì bản chất của nước uống này vẫn cứ là sữa nhiều, cà phê ít.Đọc thêm  Ảnh cực hiếm về miền đất Long Xuyên thập niên 1920

Món bạc sỉu ở quán cà phê Cheo Leo, quận 3. Ảnh: Saigonamthuc

Nguồn: Giang Vũ

Heat load calculations – heat gain for air conditioner sizing

No photo description available.
No photo description available.
No photo description available.

www.wikihow.com
Calculate the heat generated by occupants, allow 600BTU per person. Add the above together to find the total heat load. Divide the heat load by the cooling capacity of the air conditioning unit in BTU, to determine how many air conditioners are needed.

Heat load calculations – heat gain for air conditioner sizing

Danh sách đường phố Sài Gòn trước 1975 được xếp theo thứ tự ABC

Sàigòn tánh kỳ… giận mà lại thương.. mệt mà lại thích..!

Alexandre de Rhodes (Colombert – Alexandre de Rhodes)
An Điềm ( – An Điềm)
Bà Huyện Thanh Quan (Pierre Flandin – Bà Huyện Thanh Quan)
Bạch Đằng, Gia Định ( – Bạch Đằng)
Bến Bạch Đằng (Quai de l’Argonne – Tôn Đức Thắng) Đoạn giữa Hai Bà Trưng và Cường Để.
Bến Bạch Đằng (Quai Le Myre de Villers – Tôn Đức Thắng) Đoạn giữa Hàm Nghi và Hai Bà Trưng.

Bến Chương Dương (Quai de Belgique – Bến Chương Dương)
Bến Vân Đồn (Quai de la Marne – Bến Vân Đồn)
Bùi Chu (Frères Guillerault- Tôn Thất Tùng)
Bùi Hữu Nghĩa ( – Bùi Hữu Nghĩa)
Bùi Thị Xuân (Duranton – Bùi Thị Xuân)
Bùi Viện (Marchand – Bùi Viện)
Calmette ( – Calmette)
Cao Thắng ( Édouard Aubouie – Cao Thắng)
Chi Lăng ( – Phan Đăng Lưu)
Công Lý (Mac Mahon/Général de Gaulle – Nam Kỳ Khởi Nghĩa)
Cường Để (Luro – Tôn Đức Thắng)
Duy Tân (Garcerie – Phạm Ngọc Thạch)“Trả Lại Em Yêu” – Elvis Phương
Đinh Công Tráng ( – Đinh Công Tráng)
Đinh Tiên Hoàng (Albert 1er – Đinh Tiên Hoàng)Đoàn Như Hài ( – Đoàn Như Hài)
Đồn Đất (Pasteur – Đồn Đất)
Đồng Khánh (Galliéni – Trần Hưng Đạo)
Gia Long (La Grandière – Lý Tự Trọng)Hai Bà Trưng (Paul Blanchy – Hai Bà Trưng)
Hàm Nghi (La Somme – Hàm Nghi)
Hàn Thuyên (Amiral Page – Hàn Thuyên)
Hiền Vương (Mayer – Võ Thị Sáu)
Hoàng Diệu (Charles de Cappe – Hoàng Diệu)
Hoàng Hoa Thám, Gia Định ( – Hoàng Hoa Thám)
Hồ Xuân Hương (Colombier – Hồ Xuân Hương)
Hồng Thập Tự (Chasseloup Laubat – Nguyễn Thị Minh Khai)
Huyền Trân Công Chúa (Miss Carell – Huyền Trân Công Chúa)
Huỳnh Mẫn Đạt ( – Huỳnh Mẫn Đạt)
Huỳnh Thúc Kháng (Đỗ Hữu Vị – Huỳnh Thúc Kháng)
Huỳnh Tịnh Của ( – Huỳnh Tịnh Của)
Hùng Vương ( – Hùng Vương)
Kỳ Đồng ( – Kỳ Đồng)
Lãnh Bình Thăng ( – Lãnh Bình Thăng)
Lê Đại Hành ( – Lê Đại Hành) Con đường có Trường Đua Phú Thọ.
Lê Lai (Colonel Boudonnet – Lê Lai)
Lê Lợi (Bonnard – Lê Lợi)Lê Quí Đôn (Barbet – Lê Quí Đôn)
Lê Thánh Tôn (Espagne/Lê Lợi – Lê Thánh Tôn)
Lê Văn Duyệt (Verdun – Cách Mạng Tháng Tám) Đoạn từ Phan Thanh Giản trở lên tận ngoại ô.
Lê Văn Duyệt (Président Nguyễn Văn Thinh – Cách Mạng Tháng Tám) Đoạn từ Phan Thanh Giản xuống ngả sáu Sài Gòn.
Lý Thái Tổ ( – Lý Thái Tổ)
Mạc Đỉnh Chi (Massiges – Mạc Đỉnh Chi)
Minh Mạng ( – Ngô Gia Tự)
Ngô Thời Nhiệm (Jaureguiberry – Ngô Thời Nhiệm)
Ngô Tùng Châu ( – Lê Thị Riêng)
Nguyễn Bỉnh Khiêm (Docteur Angier – Nguyễn Bỉnh Khiêm)
Nguyễn Công Trứ (Lefèbvre – Nguyễn Công Trứ)
Nguyễn Du (Taberd – Nguyễn Du) Đoạn giữa Lê Văn Duyệt và Hai Bà Trưng.
Nguyễn Du (Lucien Mossard – Nguyễn Du) Đoạn giữa Hai Bà Trưng và Cường Để.
Nguyễn Hoàng ( – Trần Phú)
Nguyễn Huệ (Charner – Nguyễn Huệ)Nguyễn Phi Khanh (Paudault – Nguyễn Phi Khanh)
Nguyễn Thái Học (Lord Kitchener – Nguyễn Thái Học)
Nguyễn Thông (Éparges – Nguyễn Thông)
Nguyễn Trung Trực (Filippini – Nguyễn Trung Trực)
Nguyễn Văn Chiêm ( – Nguyễn Văn Chiêm)
Nguyễn Văn Học, Gia Định ( – Nơ Trang Long)
Nguyễn Văn Thoại ( – Lý Thường Kiệt)
Pasteur (Pellerin – Pasteur)
Pétrus Ký (Nancy – Nguyến Văn Cừ)
Phạm Ngũ Lão (Colonel Grimaud – Phạm Ngũ Lão)
Phan Đình Phùng (Richaud – Nguyễn Đình Chiểu)
Phan Thanh Giản (Legrand de la Liraye – Điện Biên Phủ)
Phùng Khắc Khoan (Miche – Phùng Khắc Khoan)
Sương Nguyệt Anh (Léon Combes – Sương Nguyệt Anh)
Tạ Thu Thâu (Sabourain – Lưu Văn Lang)
Thoại Ngọc Hầu ( – Phạm Văn Hai)Thống Nhất (Norodom – Lê Duẩn)
Thủ Khoa Huân (Roland Garros – Thủ Khoa Huân)
Tôn Thất Thiệp (Ohier – Tôn Thất Thiệp)
Tổng Đốc Phương ( – Châu Văn Liêm)
Trần Cao Vân (Larclauze – Trần Cao Vân)
Trần Hưng Đạo (Galliéni – Trần Hưng Đạo)
Trần Quang Khải (Paul Bert – Trần Quang Khải)
Trần Quốc Toản (Général Lize – 3 Tháng 2)
Trần Quý Cáp (Testar – Võ Văn Tần)
Trịnh Minh Thế (Jean Eudel – Nguyễn Tất Thành)
Trương Công Định (La Lareyniêre – Trương Định)
Trương Minh Giảng (Eyriaud des Vergnes – Trần Quốc Thảo)
Trương Minh Ký ( – Lê Văn Sỹ)
Tú Xương ( – Tú Xương)
Tự Do (Catinat – Đồng Khởi)Tòa nhà 211-213 đường Đồng Khởi ,đối diện công viên Chi Lăng.
Tự Đức (Sohier – Nguyễn Văn Thủ) Đoạn giữa Hai Bà Trưng và Mạc Đỉnh Chi.
Tự Đức (Marcel Richard – Nguyễn Văn Thủ) Đoạn giữa Mạc Đỉnh Chi và kinh Nhiêu Lộc.
Võ Di Nguy Phú Nhuận ( – Phan Đình Phùng)
Võ Di Nguy Sài Gòn ( – Hồ Tùng Mậu)
Võ Tánh (Frère Louis – Nguyễn Trải)Yên Đỗ (Champagne – Lý Chính Thắng)
Foyer du soldat et du marin.Cư xá binh sĩ Pháp, trên ĐL Thống Nhất, gần Sở Thú (trước 1975 là Trường Cao Đẳng Quốc Phòng, sau 1975 là Phòng Trưng bày Quân Khu 7,bây giờ là bảo tàng chiến dịch HCM)
Khu Eden.

Nhà hàng Brodard đường Đồng Khởi.

Trường Collete đường Hồ Xuân Hương.Bệnh viện Saint Paul.
Chợ Bình tây Q6 Bến xe trên đường Petrus Ký – Street of Buses, Saigon – 1970 Trước 75 ai đi miền Đông chỉ có bến xe này thôi, lúc đó chưa xây Bến Xe Miền Đông như bây giờ.

Trước 1975 > Sau 1975
Bùi Chu > Tôn Thất Tùng
Chi Lăng > Phan Đăng Lưu
Công Lý > Nam Kỳ Khởi Nghĩa
Cộng Hòa > Nguyễn Văn Cừ
Cường Để > Tôn Đức Thắng
Duy Tân > Phạm Ngọc Thạch
Đoàn Thị Điểm > Trương Định ( cả Đoàn thị Điểm và Trương Công Định đều bị đổi thành Trương Định )
Đỗ Thành Nhân > Đoàn Văn Bơ
Đồn Đất > Thái Văn Lung
Đồng Khánh > Trần Hưng Đạo B
Gia Long > Lý Tự Trọng
Hiền Vương > Võ Thị Sáu
Hồng Thập Tự > Nguyễn Thị Minh Khai {trước NTMK là Xô Viết Nghệ Tĩnh}
Huỳnh Quang Tiên > Hồ Hảo Hớn
Lê Văn Duyệt ( Gia Định ) > Đinh Tiên Hoàng
Lê Văn Duyệt ( Sài Gòn ) > Cách Mạng Tháng 8
Minh Mạng > Ngô Gia Tự
Ngô Tùng Châu > Nguyễn Văn Đậu
Ngô Tùng Châu ( Sài Gòn )> Lê thị Riêng
Nguyễn Đình Chiểu > Trần Quốc Toản
Nguyễn Hoàng > Trần Phú
Nguyễn Huệ ( Phú Nhuận ) > Thích Quảng Đức
Nguyễn Huỳnh Đức > Huỳnh Văn Bánh
Nguyễn Minh Chiếu > Nguyễn Trọng Tuyển
Nguyễn Phi > Lê Anh Xuân
Nguyễn Văn Học > Nơ Trang Long
Nguyễn Văn Thinh > Mạc Thị Bưởi
Nguyễn Văn Thoại > Lý Thường Kiệt
Petrus Ký > Lê Hồng Phong
Phạm Đăng Hưng > Mai Thị Lựu
Phan Đình Phùng > Nguyễn Đình Chiểu
Phan Thanh Giản > Điện Biên Phủ
Phan Văn Hùm > Nguyễn thị Nghĩa
Phát Diệm > Trần Đình Xu
Tạ Thu Thâu > Lưu Văn Lang
Thái Lập Thành ( Phú Nhuận )> Phan Xích Long
Thái Lập Thành ( Q1 ) > Đông Du
Thành Thái > An Dương Vương
Thoại Ngọc Hầu > Phạm Văn Hai
Thống Nhất > Lê Duẩn
Tổng Đốc Phương > Châu Văn Liêm
Trần Hoàng Quân > Nguyễn Chí Thanh
Trần Quốc Toản > 3 Tháng 2
Trần Quý Cáp > Võ Văn Tần
Triệu Đà > Ngô Quyền
Trịnh Minh Thế > Nguyễn Tất Thành
Trương Công Định > Trương Định ( cả Đoàn thị Điểm và Trương Công Định đều bị đổi thành Trương Định )
Trương Tấn Bửu > Trần Huy Liệu
Trương Minh Ký > Lê Văn Sĩ
Trương Minh Giảng > Trần Quốc Thảo
Tự Đức > Nguyễn Văn Thủ
Tự Do > Đồng Khởi
Võ Di Nguy ( Phú Nhuận) > Phân thành 2 đường Phan Đình Phùng và Nguyễn Kiệm
Võ Di Nguy ( Sài Gòn ) > Hồ Tùng Mậu
Võ Tánh ( Phú Nhuận ) > Hoàng Văn Thụ
Võ Tánh ( Sài Gòn ) > 1 phần của Nguyễn Trãi, khúc giao với Cống Quỳnh
Yên Đổ > Lý Chính Thắng

Map of Nguyễn Tất Thành, Quận 4, Hồ Chí Minh, Vietnam

Nguyễn Tất Thành Quận 4, Hồ Chí Minh, Vietnam

Hồ Chí Minh (/hoʊ tʃiː mɪn/;[2] Vietnamese: [hò cǐ mīŋ̟] (listen), Saigon: [hò cǐ mɨ̄n] (listen); Chữ nôm: 胡志明; 19 May 1890 – 2 September 1969), born Nguyễn Sinh Cung,[3][4][5] also known as Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Ái QuốcBác Hồ (“Uncle Ho”) or simply Bác (“Uncle”), was a Vietnamese Communist revolutionary leader who was Chairman and First Secretary of the Workers’ Party of Vietnam. He was also Prime Minister (1945–1955) and President (1945–1969) of the Democratic Republic of Vietnam (North Vietnam). He was a key figure in the foundation of the Democratic Republic of Vietnam in 1945 at the Ba Dinh Square in Hanoi as well as the People’s Army of Vietnam and the Viet Cong during the Vietnam War.

Hồ Chí Minh led the Việt Minh independence movement from 1941 onward, establishing the Communist-ruled Democratic Republic of Vietnam in 1945 and defeating the French Union in 1954 at the battle of Điện Biên Phủ. He officially stepped down from power in 1965 due to health problems. After the war, Saigon, the former capital of the Republic of Vietnam, was renamed Ho Chi Minh City.

Any description of Hồ Chí Minh’s life before he came to power in Vietnam is necessarily fraught with ambiguity. He is known to have used at least 50[6]:582 and perhaps as many as 200 pseudonyms.[7] Both his place and date of birth are subjects of academic debate since neither is known with certainty. At least four existing official biographies vary on names, dates, places and other hard facts while unofficial biographies vary even more widely.[8]


Thong dong ngày cũ ! …

Traduttore, traditore est une expression italienne signifiant littéralement : « Traducteur, traître », soit : « Traduire, c’est trahir ». Il s’agit d’une paronomase, expression qui joue sur la ressemblance entre les deux mots.

La traduction touche ainsi à des questions philosophiques majeures : elle met en branle … c’est parler du mensonge et de la vérité, de la trahison et de la fidélité.

Sau biến cố năm 1975, nhà thờ Fatima đã bị nhà nước trưng dụng và từ đó để vậy làm trường Đại học luật. Những năm gần đây, nhà trường này xây dựng lại và đập phá hết nhà thờ và nhà xứ cũ để xây mới.

Tuy nhiên, cây tháp chuông không thể đập được, không phải là người ta không đập mà là hễ cho máy vào múc và đập phá là bị tắt máy, lần nào cũng vậy, máy cứ cho cần lên đập phá tháp chuông là máy tắt. Do vậy, người ta đã để cái tháp chuông đứng giữa sân nhà trường.

Đây là bài thơ nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam, được coi là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của Việt Nam, khẳng định chủ quyền của nhà cầm quyền Đại Việt trên các vùng đất của mình. 

Nam quốc sơn hà (chữ Hán: 南國山河) là một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt viết bằng văn ngôn không rõ tác giả. Đây là bài thơ nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam, được coi là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của Việt Nam, khẳng định chủ quyền của nhà cầm quyền Đại Việt trên các vùng đất của mình. Bài thơ được cho là bài thơ thần , do thần đọc giúp Lê Hoànchống quân Tống năm 981 và Lý Thường Kiệt chống quân Tống năm 1077.

Hồ Chí Minh (19 tháng 5 năm 1890 – 2 tháng 9 năm 1969), tên khai sinh: Nguyễn Sinh Cung,[2] là nhà cách mạng, người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, một trong những người đặt nền móng và lãnh đạo công cuộc đấu tranh giành độc lập, toàn vẹn lãnh thổ cho Việt Nam trong thế kỷ XX, một chiến sĩ cộng sản quốc tế. Ông là người soạn thảo và đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2 tháng 9 năm 1945 tại Quảng trường Ba ĐìnhHà Nội, là Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong thời gian 1945 – 1969, Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam trong thời gian 1951 – 1969.

Là lãnh tụ được nhiều người ngưỡng mộ và tôn sùng,


lăng của ông được xây ở Hà Nội, nhiều tượng đài của ông được đặt ở khắp mọi miền Việt Nam, hình ảnh của ông được nhiều người dân treo trong nhà, đặt trên bàn thờ,[3][4][5][6] và được in ở hầu hết mệnh giá đồng tiền Việt Nam. Hồ Chí Minh được thờ cúng ở một số đền thờ và chùa Việt Nam.[7][8][9] Ông đồng thời cũng là nhà văn, nhà thơ và nhà báo với nhiều tác phẩm viết bằng tiếng Việttiếng Hán và tiếng Pháp. Ông được tạp chí Time bình chọn là 1 trong 100 người có ảnh hưởng nhất của thế kỷ XX.[10][11][12]

Hoạt động của Hồ Chí Minh trong giai đoạn 1911-1941

From 1919 to 1923, Thành began to show an interest in politics while living in France, being influenced by his friend and Socialist Party of France comrade Marcel Cachin. Thành claimed to have arrived in Paris from London in 1917, but the French police only had documents recording his arrival in June 1919.

Logopcf13.png


Nguyễn Ái Quốc đến Liên Xô lần đầu tiên vào năm 1922 tham gia Đại hội lần thứ tư của Quốc tế Cộng sản, ở đó ông gặp Lenin và trở thành thành viên của Ban Đông Nam Á của Quốc tế Cộng sản.

Marx, Engels và Lenin

NGỪA UNG THƯ CUỐNG PHỔI

Tung Thanh Thai Xin phép được share . Thanks !

Trị ung thư cuống phổi: Chị vợ TT, bị UTCP thời kỳ chót được bác sĩ bịnh viện ở Singapore trị bây giờ đỡ nhiều lắm rồi.

Bài bổ ích…Chuyển để quý vị và các bạn tham khảo.
Jos-Ant.MG

UNG THƯ CUỐNG PHỔI.
Tôi có một người bạn, anh ta mắc chứng bệnh “Ung Thư Cuống Phổi”, cục Bướu ác tính to bằng cái chén nằm ở Cuống Phổi. Bác Sĩ nói về nhà ăn uống rồi chờ chết, không thể cắt bỏ được, vì cục bướu đó nằm sát với động mạch chủ.

Tôi đến chơi hỏi thăm, anh ta cho tôi xem hình chụp X-Ray của cục bướu.
Anh ta đã chữa trị bệnh Ung Thư bằng phương pháp dưới đây:
●Không ăn đường,
●Không ăn thịt, cá, cơm,
●Chỉ uống nước xay bằng rau, các loại củ như:
●Carrot, củ cải, củ dền, cam, táo …
●Sau ba tháng uống liên tục, cục bướu to bằng cái chén từ từ thu nhỏ lại chỉ còn bằng cái khu chén.
●Sau chín tháng “Bướu Ung Thư biến mất”. Bây giờ anh ta khỏe mạnh, trở lại làm việc và ăn uống bình thường.

Bốn người cùng chứng bệnh Ung Thư như anh ta chữa bằng phương pháp “Chemical Therapy” đã chết hết rồi.
Những chi tiết của bài viết dưới đây rất đúng, tế bào Ung Thư khi đã không được nuôi dưỡng bằng Thịt Bò, Đường… thì nó sẽ phải chết.
Các Bạn nên phổ biến tài liệu này cho mọi người cùng biết
—oooOooo—

Một tài liệu nói về bệnh Ung Thư của Bệnh viện Johns Hopkins, trường đại học Baltimore, Maryland ở Hoa Kỳ.
●Bài viết rất ngắn,
●Có nhiều điểm rất thú vị,
●Quí Vị đọc thử coi thấy sao?
Một trong những bệnh viện nổi tiếng nhất trên thế giới đã thay đổi quan điểm của mình về bệnh Ung Thư
●Xuân Phong dịch từ bản tiếng Pháp
●Tài liệu thảo luận của CFQ (Cercle Francophone à Quinhon) ngày: 21/3/2013
●Tài liệu này có giá trị nên đọc đi đọc lại.
●Bệnh viện Johns Hopkins là một bệnh viện trường đại học nằm ở Baltimore, Maryland ở Hoa Kỳ.
Được thành lập nhờ tài trợ từ John Hopkins, ngày hôm nay Trường Đại Học Johns Hopkins là một trong những bệnh viện nổi tiếng nhất trên thế giới là năm thứ 17 liên tiếp được phân loại đánh giá ở vị trí hàng đầu (Số 1) trong bảng xếp hạng của các bệnh viện tốt nhất tại Hoa Kỳ.
●Sau nhiều năm nói với mọi người “Phương Pháp Hóa TrịLiệu” là cách duy nhất để điều trị và loại bỏ Ung Thư.
●Ngày nay: Bệnh viện Johns Hopkins đã bắt đầu nói với mọi người rằng: Đã có những lựa chọn thay thế khác với “PhươngPháp Hóa Trị Liệu” một cách hiệu quả hơn để chống lại Ung Thư là: Không nuôi các tế bào Ung Thư với các chất dinh dưỡng cần thiết cho nó để nó không thể phát triển được.

Thức Ăn Của Tế Bào Ung Thư:

A. Đường: Là một loại thực phẩm của bệnh Ung Thư:
●Không ăn “Đường” là cắt bỏ một trong những nguồn quan trọng nhất của các tế bào Ung Thư.
●Có sản phẩm thay thế “Đường như: Saccharin, nhưng chúng được làm từ Aspartame và rất có hại.
●Tốt hơn nên thay thế “Đường bằng: “Mật Ong Manuka”hay “Mật Đường” nhưng với số lượng nhỏ.
●Muối có chứa một hóa chất phụ gia để xuất hiện màu trắng. Một lựa chọn tốt hơn cho “Muối Trắng” là: “MuốiBiển” hoặc các loại “Muối Thực Vật”.

B. Sữa: Làm cho cơ thể sản xuất chất “Nhầy”, đặc biệt là trong đường ruột. Tế bào Ung Thư ăn chất “Nhầy” để sống.
●Nên loại bỏ “Sữa Bò” và thay thế bằng: “Sữa Đậu Nành”, các tế bào Ung Thư không có gì để ăn, vì vậy nó sẽ chết.

C. Các tế bào Ung Thư trưởng thành trong môi trườngAcid:
●Một chế độ ăn uống là “Thịt Đỏ” có tính Acid. Tốt nhất lànên ăn Cá, và một chút “Thịt Gà” thay vì “Thịt Bò” hay “ThịtHeo”.
●Hơn nữa, thịt chứa kháng sinh, Hormon và ký sinh trùng, rất có hại, đặc biệt đối với những người mắc bệnh Ung Thư.
●Protein thịt khó tiêu hóa và đòi hỏi nhiều Enzym. Nếu bệnh nhân ăn thịt thì khó tiêu hóa được, chất thịt sẽ ở lạitrong cơ thể, nên dễ bị dẫn tới và tạo ra các độc tố nhiều hơn.

Góp Phần Giải Quyết Vấn Đề:

1.Một chế độ ăn uống gồm:
●80% rau trái tươi và nước ép, ngũ cốc, hạt, các loại hạt như: Hạnh Nhân (Almond) và một ít loại trái cây đặt cơ thể trong môi trường kiềm.

2.Bệnh nhân chỉ nên ăn:
●20% thực phẩm nấu chín, bao gồm cả đậu.
●Nước ép rau tươi cung cấp cho cơ thể co-enzyme có thể dễ dàng hấp thụ và ngấm vào các tế bào 15 phút, sau khi đã ăn uống nước ép rau tươi để nuôi dưỡng và giúp định hình các tế bào khỏe mạnh.
●Để có được các Enzyme sống, giúp xây dựng các tế bào khỏe mạnh, chúng ta phải cố gắng uống nước ép rau tươi(tất cả, bao gồm cỏ linh thảo) và ăn nhiều rau trái tươi từ 2đến 3 lần mỗi ngày.
● Không nên dùng Cà Phê, Trà và Chocolat có chứa nhiều chất caffeine.

3.Trà Xanh: Là một lựa chọn tốt hơn vì có chất chống UngThư.
●Tốt nhất là uống nước tinh khiết hoặc nước lọc để tránh các chất độc và kim loại nặng trong nước thường.
●Không uống nước cất vì nước này có chứa Acid.
4.Các thành của các tế bào Ung Thư được bao phủ bởi một loại Protein rất cứng:
●Khi bệnh nhân không ăn thịt, những thành của tế bào Ung Thư sẽ sản xuất nhiều Enzym hơn, tấn công các Protein của các tế bào Ung Thư và cho phép hệ thống miễn dịch(Immune System) tiêu diệt các tế bào Ung Thư.

D.Một số chất bổ sung giúp xây dựng lại hệ thống miễn dịch (Immune System):
●Floressence, Essiac, chất chống Oxy hóa, Vitamin, khoáng chất, EPA, dầu cá … giúp các tế bào để chiến đấu và tiêu diệt các tế bào Ung Thư.
●Các chất bổ sung khác như: Vitamin E được biết đến bởi vì nó gây ra Apoptosis, cách bình thường của cơ thể để loại bỏ các tế bào vô dụng hoặc bị lỗi.

E.Ung thư là một căn bệnh của cơ thể, tâm trí và tinh thần:
●Một thái độ hoạt động và tích cực hơn sẽ giúp các bệnh nhân Ung Thư chiến đấu và sống còn.
●”Giận dữ và không hiểu biết, không tha thứ sẽ đặt cơ thể vào tình trạng căng thẳng và một môi trường Acid”.
●Học để có tâm hồn khả ái và yêu thương với một thái độ sống tích cực là rất có lợi cho sức khỏe.
●Học thư giãn và tận hưởng cuộc sống.

F. Các tế bào Ung Thư không thể sống trong một môi trường dưỡng khí (oxygénée):
●Luyện tập thể dục hàng ngày, hít thở thật sâu giúp lấy thêm nhiều Oxy vào các tế bào.
●Liệu pháp Oxy là một yếu tố giúp tiêu diệt các tế bào UngThư.
●Không để hộp nhựa trong Microwave.
●Không để chai nước trong tủ lạnh.
●Không để tấm nhựa trong Microwave.

G.Các hoá chất như Dioxin gây Ung Thư, đặc biệt là UngThư Vú:
●Dioxin rất có hại, đặc biệt là đối với các tế bào cơ thể.
Đừng để trong tủ lạnh chai nước nhựa bởi vì nhựa sẽ “đổ mồ hôi” Dioxin và làm nhiễm độc nước uống.
●Gần đây, Tiến sĩ Edward Fujimoto, Giám Đốc chương trình Wellness ở bệnh viện Castle, xuất hiện trong một chương trình truyền hình giải thích sự nguy hiểm của chất “Dioxin”.
●Ông nói rằng: Chúng ta không nên đặt hộp nhựa trong Microwave, đặc biệt là các loại thực phẩm có chứa chất béo.
●Ông nói rằng: Do sự kết hợp của chất béo và nhiệt lượng cao, nhựa sẽ truyền Dioxin vào thực phẩm và do đó vào cơ thể chúng ta.
●Thay vào đó, các Bạn có thể dùng thủy tinh như: Pyrex hoặc gốm sứ để đun nấu.

References:

Stage 4 Lung Cancer Treatment

Envita Medical Center

 CONTACT US

Would you like to learn more about treatment options for you or a loved one?
Send us a message and one of our Patient Care Coordinators will contact you shortly or
call 1-866-830-4576.


SUCCESS STORIES

Mỹ nhân trong phim “Thằng gù Nhà thờ Đức Bà Paris”

Mỹ nhân trong phim “Thằng gù Nhà thờ Đức Bà Paris” bản kinh điển với vẻ đẹp đắm say lòng người

Mỹ nhân trong phim “Thằng gù Nhà thờ Đức Bà Paris” bản kinh điển đến nay đã 90 tuổi, Bà vẫn giữ được vẻ đẹp bất chấp thời gian. Đây là tác phẩm điện ảnh chuyển thể từ tiểu thuyết Nhà thờ Đức Bà Paris để lại dấu ấn khó quên.

Tác phẩm “Nhà thờ Đức Bà Paris” (1956, tên tiếng Anh là “The Hunchback of Notre Dame” – “Thằng gù nhà thờ Đức Bà”) được xem là bản điện ảnh xuất sắc chuyển thể từ tiểu thuyết Nhà thờ Đức Bà Paris của Victor Hugo. Nữ diễn viên chính thủ vai Esmeralda là Gina Lollobrigida mang vẻ đẹp say đắm mọi ánh nhìn.

Gina Lollobrigida sinh năm 1927, là diễn viên kiêm nhà nhiếp ảnh và điêu khắc người Italy. Bà mang vẻ đẹp kiêu sa, quý phái và tự nhiên. Bà được mệnh danh là biểu tượng tình dục của Italy vào thập niên 1950, 1960.

Khi được chọn đóng vai chính trong “Thằng gù nhà thờ Đức Bà”, Lollobrigida đã mang vẻ đẹp rực lửa vào nhân vật nữ vũ công Esmeralda.

Hình ảnh một nàng Esmeralda trong bộ váy đỏ trở thành biểu tượng mỗi khi nhắc đến bản điện ảnh của “Nhà thờ Đức Bà Paris”. Khán giả bị quyến rũ bởi chiếc váy bó sát, khoe vẻ đẹp hình thể và những điệu múa quyến rũ của Esmeralda.
Dù là bản của thập niên 60 nhưng hình ảnh vẫn được trau chuốt kỹ càng. Nàng Esmeralda làm nghề múa rong ngoài phố trên quảng trường trước nhà thờ Đức Bà Paris. Điệu múa của nàng làm say đắm mọi ánh nhìn nhưng cũng chính vì thế khiến cuộc đời nàng rơi vào bi kịch. Nàng bị phó Giám mục nhà thờ âm mưu bắt cóc nhưng không thành, sau đó nàng bị kết tội oan xử tử.

Câu chuyện giữa nàng Esmeralda và thằng gù ở nhà thờ Đức Bà Paris luôn đọng lại trong trái tim những người yêu điện ảnh vẻ đẹp bất biến qua thời gian. Cảnh phim nàng Esmeralda đưa bình nước hứng vào miệng cho thằng gù Quasimodo (Anthony Quinn thủ vai) được coi là một trong những cảnh phim kinh điển.

Vẻ đẹp ngoài đời của Lollobrigida luôn được xếp vào hàng Top những mỹ nhân ở Italy.
Bà đảm nhiệm vai chính trong bộ phim “Người phụ nữ đẹp nhất thế giới” năm 1955 và được nhận giải thưởng Nữ diễn viên xuất sắc nhất. Ngoài ra bà còn giành được nhiều giải thưởng khác như 6 lần đoạt giải Bambi và giải Quả Cầu Vàng năm 1961 dành cho nữ diễn viên được yêu chuộng nhất của điện ảnh thế giới.

Bộ phim cuối cùng bà tham gia vào năm 1968, sau đó Gina hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực hội hoạ và điêu khắc.

Hiện nay bà đã ngoài 90 tuổi nhưng vẫn giữ được vẻ đẹp sang trọng.

File:Gina Lollobrigida 1963 (cropped).JPG

Gina Lollobrigida in 1963



Actress, photojournalist Luigina Lollobrigida
4 July 1927 (age 91)
https://youtu.be/pQuIBS3FL_E?t=13
Subiaco, Italy
Image may contain: 1 person, smiling, standing and outdoor

Gina Lollobrigida, The Hunchback of Notre Dame 1956
Image may contain: 1 person, standing

Vụ án Trịnh Vĩnh Bình

Vụ án Trịnh Vĩnh Bình là vụ án một triệu phú ở Hà Lan, ông Trịnh Vĩnh Bình, đem hơn 3 triệu đô la Mỹ về Việt Nam làm ăn và đầu tư trong nước vào cuối năm 1987, bị tịch thu tài sản và lãnh án 11 năm tù trong năm 1999. Ông đã bị tạm giữ 18 tháng và trong khi được tại ngoại, đã trốn thoát khỏi Việt Nam.

Năm 2003[1] Trịnh Vĩnh Bình đã chính thức nhờ tổ hợp luật sư Covington Burling của Mỹ ở Washington đại diện để kiện chính phủ Việt Nam ra toà án quốc tế, đòi bồi thường thiệt hại.[1][2]. Chính phủ Việt Nam cũng đã thuê một hãng luật của Pháp để đại diện cho họ trong vụ kiện này. Vụ kiện lần đầu này dự kiến sẽ được đưa ra Trung Tâm Trọng Tài Quốc tế Stockholm xét xử vào tháng 12 năm 2006 nhưng phía nhà nước Việt Nam đã thương lượng với ông Trịnh Vĩnh Bình ngoài tòa để ký một thỏa thuận tại Singapore năm 2006.[3]Hai bên thỏa thuận, phía chính phủ Việt Nam đồng ý xóa án cho ông Bình, bồi thường 15 triệu đô la Mỹ và trả lại toàn bộ tài sản đã tịch thu của ông Bình. Để đổi lại, ông Bình phải rút đơn kiện khỏi Tòa án Trọng tài Quốc tế và không tiết lộ nội dung thỏa thuận trên. Một số công chức Việt Nam có liên quan đến vụ án của ông Bình cũng đã bị truy tố.[2]

Tháng 1 năm 2015, ông Bình tiếp tục đâm đơn kiện chính phủ Việt Nam lần thứ hai với lý do chính phủ Việt Nam không thực hiện đúng cam kết trả tiền và tài sản cho ông trong lần thỏa thuận ngoài tòa lần trước. Phiên tòa lần 2 diễn ra tại Tòa án Trọng tài Quốc tế tại ParisPháp từ ngày 21 đến 31 tháng 8 năm 2017.[4]

Ngày 11.04.2019, Tòa án Quốc tế thông báo, ông Trịnh Vĩnh Bình thắng kiện đối với chính phủ Việt Nam. Theo đó, chính phủ Việt Nam buộc phải bồi thường cho triệu phú người Hà Lan gốc Việt tổng cộng 37.581.596 đôla thiệt hại và gần 7,9 triệu đôla án phí. 

Việt Nam nói phán quyết Trịnh Vĩnh Bình ‘lẽ ra là bí mật’ – BBC News 

Bài mới xin gởi đến quý vị rất mong được phổ biến rộng rãi.

Nguyễn Quang Duy

“Những sự thật bên trong” Vụ Án Trịnh Vĩnh Bình.

Nguyễn Quang Duy

Đài VOA vừa đưa tin ông Trịnh Vĩnh Bình thắng kiện, Hà Nội phải bồi thường 37,5 triệu Mỹ Kim thiệt hại và 7,9 triệu án phí.

Ông Bình rời phiên tòa với khuôn mặt tươi cười hai tay giơ cao ra dấu chiến thắng (V=Victoria) nên không cần phải bàn tới.

Lạ là Bộ Tư pháp Việt Nam ngay lập tức xác nhận thông tin, nhưng cho biết theo quy định Tòa “các bên có trách nhiệm phải giữ bí mật”.

Việc chi trả bồi thường “phải giữ bí mật” là Hà Nội chính thức xác nhận không theo tiêu chuẩn hạch toán ngân sách quốc tế và không muốn cho dân biết vụ việc.

Tại sao Hà Nội phải che dấu kỹ vụ án này?

… “những sự thật bên trong”…

Trên Facebook, ông Nguyễn Công Khế, nguyên Tổng Biên tập Báo Thanh Niên, cho biết từng cung cấp “những sự thật bên trong” cho bà Phó Chủ Tịch nước Nguyễn thị Bình để phát biểu tại Quốc hội:

“…bắt nguồn từ việc một cán bộ an ninh kinh tế có tên Ngô chí Đan ở Vũng Tàu. Ngô chí Đan là em rể của Phương Vicarent. Họ cùng nhau áp lực với Trịnh Vĩnh Bình để đòi chia chát. Những người này có thế lực rất mạnh ở địa phương và cả một số cán bộ then chốt ở Trung ương.”

Ông Khế cho biết: “Thủ tướng Phan văn Khải biết hết vụ việc và cũng rất xót xa nhưng khi tôi hỏi việc này, ông cũng lắc đầu bất lực.”

Ông cho biết thêm: “…bạn tôi, anh Nguyễn Trọng Minh lúc đó bức xúc quá viết một tâm thư gởi Bộ Chính trị. Sau đó, anh cũng bị kỷ luật, tôi cũng không nắm rõ, việc kỷ luật anh có dính dáng gì đến nội dung bức thư này hay không?”

Ông Khế kết luận: “Trường hợp Trịnh Vĩnh Bình là vì, có những người ở cấp trên đã nghe báo cáo không trung thực từ những người cấp dưới không minh bạch và tham nhũng…”

Ông Khế không cho biết cấp trên là ai? Cấp dưới là ai? Và tại sao chỉ vì một cán bộ an ninh cấp địa phương mà ông Phan văn Khải và bà Nguyễn Thị Bình đành phải lắc đầu bất lực?

Ngô Chí Đan và Phương Vicarent là ai?

Trong một vụ án khác xử đầu tháng 12/2003, Trung tá công an Ngô Chí Đan bị kỷ luật và bị cách chức Trưởng phòng an ninh điều tra công an Bà Rịa – Vũng Tàu (BR-VT), còn Phạm Văn Phương thì chịu bản án 27 năm tù giam.

VnExpress ngày 4/12/2003 đưa tin, Nguyễn Minh Hoàng khai trước tòa Phương Vicarrent đã nhận 200 triệu đồng để đưa vào “tổ chức” ở Vũng Tàu:

“Bây giờ chủ trương của lãnh đạo ta thoáng lắm, sắp tới sẽ thí điểm cơ cấu phó chủ tịch tỉnh không cần đảng viên. Nếu chú thích anh sẽ tác động để cơ cấu chú làm phó chủ tịch”.

Cũng VnExpress ngày 3/12/2003 đưa tin, Nguyễn Minh Hoàng khai trong một lần đi nhậu có mặt Trung tá công an Ngô Chí Đan, Phương Vicarrent nói:

“Nguyễn Trọng Minh không nghe lời tao nên bị trị, còn Tuấn Minh nếu không nghe cũng giống như Trọng Minh vậy”.

Nguyễn Trọng Minh nguyên Chủ tịch UBND tỉnh BR-VT người được Nguyễn Công Khế nhắc tới bên trên, còn Tuấn Minh đương kim Chủ tịch UBND tỉnh BR-VT thời ấy, mà Phương Vicarrent còn coi không ra gì. Nhưng có thật thế lực đằng sau Phương Vicarrent mạnh như vậy?

Trịnh Vĩnh Bình bị bắt.

Năm 1987, Vua chả giò Hòa Lan Trịnh Vĩnh Bình sang công ty chả giò, đem 2,3 triệu Mỹ kim tiền mặt và 96 ký vàng về Việt Nam đầu tư, chỉ sau 8 năm tài sản ông tăng lên 30 triệu Mỹ kim gấp gần 8 lần tiền vốn.

Làm giàu mau chóng nhưng ông Bình không đút lót Phương Vicarent nên ngày 5/12/1996 ông Bình bị Ngô Chí Đan, khi ấy là Thiếu tá công an, ra lệnh bắt, điều tra và đưa ra tòa xét xử.

Trước sự can thiệp mạnh mẽ của Chính phủ Hòa Lan, ngày 13/5/1998, Thủ tướng Phan Văn Khải gửi thư cho Bộ trưởng Công an Lê Minh Hương đề nghị xem xét trường hợp vì ông Bình “không có lỗi đến mức phải xử”.

Nhưng chỉ thị Thủ Tướng Khải không được thi hành, tháng 8/1998 ông Bình bị Toà án Nhân Dân tỉnh BR-VT kết án 13 năm tù, đóng phạt 400 triệu đồng và tịch thu toàn bộ tài sản về tội sang nhượng bất hợp pháp để trốn thuế và tội hối lộ.

3 văn bản vụ án…

Đài VOA có phổ biến 3 văn bản liên quan đến vụ án:

Văn bản thứ 1 về cuộc họp ngày 3/5/1998 với sự hiện diện của Thứ trưởng Bộ công an Nguyễn Khánh Toàn và nhiều viên chức cao cấp.

Theo văn bản này “hoạt động của ông Trịnh Vĩnh Bình từ năm 1990 đến khi bị bắt là vi phạm pháp luật Việt Nam rất nghiêm trọng” và việc “xử lý Trịnh Vĩnh Bình đúng pháp luật vừa đảm bảo được sự nghiêm minh của pháp luật, vừa bảo vệ chủ quyền Việt Nam và giải quyết được vấn đề đối ngoại”.

Văn bản thứ 2 ký ngày 12/6/1998, Ban Thường vụ Đảng tỉnh BR-VT gửi Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu, Chủ tịch nước Trần Đức Lương và Thủ tướng Phan Văn Khải để xin ý kiến chỉ đạo.

Theo văn bản này Ban Thường vụ tỉnh đề nghị tòa án xét xử ngay vì “… đã có kết luận tội của Bình. Sau khi có bản án thi hành, sẽ thực hiện chính sách khoan hồng của ta. Như vậy Bình sẽ không nói xấu ta được vì đã tuyên án. (Phương án này ta nắm đằng chuôi).”

Văn bản thứ 3 được đóng dấu “Mật” do Trưởng ban Thường vụ tỉnh BR-VT, Trần Đình Hoan, gửi Trung ương Đảng và các cơ quan thuộc Đảng ủy BR-VT ký ngày 23/6/1998.

Văn bản này chỉ đạo “việc tổ chức xét xử cần được chuẩn bị chu đáo, chặt chẽ,… giải quyết vụ án theo ý kiến chỉ đạo trên và báo cáo kết quả với Thường vụ Bộ Chính trị… có thể cho [ông Bình được] tại ngoại theo yêu cầu của Đại sứ quán Hà Lan và sau khi Bình được xét xử thì trục xuất khỏi nước ta.”

Đài VOA cho biết đã liên lạc với giới chức có thẩm quyền để xác minh 3 văn bản nói trên nhưng đều bị từ chối cộng tác.

Ông Trịnh Vĩnh Bình kháng án, được giảm còn 11 năm tù, xong “trốn” về Hòa Lan. Ông Bình chưa cho biết cách thức ông rời khỏi Việt Nam.

Có tin đồn Thủ Tướng Phan văn Khải đã âm thầm thu xếp để ông đi, nhưng theo hai văn bản Đài VOA có được thì ông có thể đã bị trục xuất.

Vụ án kinh tế?

Đại tá, Luật sư Lê Mai Anh, nguyên Chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra Đảng Hội Luật gia Việt Nam, cho Đài VOA biết qua 1 cuộc phỏng vấn là “hồ sơ không có chứng cứ cụ thể, chính xác”, bản án chỉ dựa vào lời cung của các nhân chứng:

“[Họ] trọng cung hơn là trọng chứng. Mà cung cũng là ép cung, mớm cung hoặc dọa cung là có. [Họ] sử dụng cung nhiều quá mà chứng lại không có”.

Theo ông Anh: “Ông ấy đứng tên người khác là theo đúng hướng dẫn của chính phủ Việt Nam. Vì lúc ấy, họ không cho người có quốc tịch nước ngoài mua (đất đai, nhà xưởng…) nên ông ấy phải nhờ người khác đứng tên. Ông đã thực hiện đúng như ý của họ. Sau đấy họ lại cho là ông ấy mua đất đai, nhà xưởng… là không hợp pháp. Thì chẳng hiểu thế nào là hợp pháp nữa. Bảo ông ấy thế nào thì ông ấy làm đúng như thế. Chứ ông ấy có làm sai đâu”.

Chủ tịch Bà rịa – Vũng tàu ăn hối lộ?

Theo thông tin đưa lên trên mạng vào tháng 5 và 6/2005 của một người tự xưng là người trong cuộc ký tên Trần Quốc Hoàn, Tổng cục II có chứng cứ Trịnh Vĩnh Bình đã hối lộ Nguyễn Trọng Minh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh BR – VT để được giới thiệu với Thủ Tướng Phan Văn Khải.

Nguyễn Trọng Minh đã phải làm bản tường trình với thường vụ Bộ chính trị về việc nhận tiền Trịnh Vĩnh Bình “biếu”. Ông Minh bị mất chức Chủ tịch vì vụ việc này.

Ông Minh chính là bạn và là người được Nguyễn Công Khế nhắc tới bên trên.

Còn ông Trịnh Vĩnh Bình luôn phủ nhận ông đã dùng tiền mua chuộc giới chức cộng sản.

Vụ án chính trị?

Cũng theo Trần Quốc Hoàn thì mọi công dân nước ngoài khi vào hoạt động kinh doanh tại Việt Nam đều bị các cơ quan an ninh âm thầm giám sát.

Trường hợp của ông Trịnh Vĩnh Bình, một thành viên của Ðảng dân chủ tự do Hòa Lan, nên bị cả Bộ công an và Tổng cục II, Bộ quốc phòng theo dõi.

Khi Trịnh Vĩnh Bình bị Thiếu tá công an Ngô Chí Đan bắt, Tổng cục II ra mặt, vụ án vượt khỏi tầm kiểm soát Bộ Công An, Bộ Công An buộc phải cộng tác với Tổng cục II.

Bị truy tố trước tòa có ông Lê (Tạ?) Quang Luyện bị tội nhận hối lộ của Trịnh Vĩnh Bình 510 triệu đồng.

Ông Luyện từng là thư ký riêng của Chủ tịch tỉnh BR-VT Nguyễn Trọng Minh.

Ông Luyện giới thiệu ông Bình với ông Nguyễn Trọng Minh, để ông Bình mua chuộc ông Minh giới thiệu với Thủ Tướng Phan Văn Khải, lũng đoạn tầng lớp lãnh đạo cộng sản Việt Nam.

Gia đình vợ ông Luyện, có quan hệ với Phó chủ tịch nước bà Nguyễn Thị Bình và ông Nguyễn Mạnh Cầm Bộ trưởng Bộ ngoại giao lúc đó.

Bộ Chính Trị trực tiếp chỉ đạo

Cũng theo Trần Quốc Hoàn Thường vụ Bộ chính trị đã phải họp mở rộng về vụ án Trịnh Vĩnh Bình.

Thủ tướng Phan Văn Khải và Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình đề nghị đình chỉ vụ án và giải oan cho Trịnh Vĩnh Bình.

Tổng cục II công bố tội trạng của ông Luyện và mối quan hệ giữa gia đình ông Luyện với bà Bình và ông Cầm. Ông Khải và bà Bình đành bất lực.

Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu, Bộ Trưởng Công An Lê Minh Hương, Bí thư Trung ương Đảng Phạm Thế Duyệt, Giám đốc công an tỉnh BR-VT Châu Văn Mẫn và bí thư tỉnh ủy BR-VT Lê Văn Dỹ cho ý kiến là phải kiên quyết xử lý vụ án.

Nhưng từng ý kiến của các vị Ủy viên Bộ chính trị đều không có tính quyết định bằng các chứng cứ của Tổng cục II đưa ra, khẳng định rằng Trịnh Vĩnh Bình vào Việt Nam là để hoạt động gián điệp, núp dưới cái “vỏ” doanh nhân.

Từ một âm mưu tống tiền do Thiếu tá công an Ngô Chí Đan và Phương Vicarent dàn dựng, chuyển thành một vụ án kinh tế, rồi biến ra thành một vụ án chính trị và Bộ chính trị phải trực tiếp chỉ đạo vụ án.

Cả phía an ninh quân đội và công an đều cho rằng họ đã “bắt non” Trịnh Vĩnh Bình, nên phải xử theo một vụ án kinh tế.

Phá vỡ vụ án “gián điệp”, Thiếu tá Ngô Chí Đan, nguyên Trưởng phòng PA 24 Công an BR-VT được thăng thưởng cấp Trung tá.

Trung tá Ngô Chí Đan bị kỷ luật và cách chức Trưởng phòng trong vụ án khác nói đến bên trên và hiện ông đang là luật sư, thành viên Đoàn Luật sư tỉnh BR-VT, cho thấy hệ thống pháp quyền của đảng Cộng sản Việt Nam.

Các thông tin bên trên có thể chưa hoàn hảo nhưng phần nào giúp chúng ta thấy rõ hơn vụ án Trịnh Vĩnh Bình không đơn giản như “những sự thật bên trong” ông Nguyễn Công Khế, nguyên Tổng Biên tập Báo Thanh Niên, đã báo cho bà Phó Chủ Tịch nước Nguyễn thị Bình để phát biểu tại Quốc hội.

Trịnh Vĩnh Bình Kiện Hà Nội…

Bộ Chính Trị không ngờ ông Trịnh Vĩnh Bình khi về được Hòa Lan đã đâm đơn kiện Hà Nội trước Tòa Án Quốc Tế.

Vụ kiện trước tại Trung tâm Trọng tài Thương mại Stockholm, Hà Nội đã phải âm thầm bồi thường cho ông Bình 15 triệu Mỹ Kim, lần này lại thua kiện phải bồi thường lên đến 45,4 triệu Mỹ Kim.

Đáng nói là ông Bình kỳ vọng tiền bồi thường lên tới 1,2 tỷ Mỹ Kim vì thế biết đâu ông Bình sẽ tiếp tục kiện Hà Nội đòi thêm.

Phán quyết lịch sử…

Tháng Tư Đen 1975, Hà Nội xé Hiệp Định Đình Chiến Paris ký với sự chứng kiến của Liên Hiệp Quốc để “giải phóng” miền Nam.

Binh sỹ và công chức miền Nam bị bắt tù, không hề được đối xử theo luật “tù nhân chiến tranh”, nhiều người chết trong tù.

Dân miền Nam bị cướp nhà, cướp đất, cướp tài sản, bị đuổi đi kinh tế mới, phải bỏ nước ra đi, nhiều người chết trên đường tìm tự do.

Hà Nội coi thường Luật Pháp Quốc Tế đến độ vừa rồi cho gián điệp sang tận Đức bắt Trịnh Xuân Thanh và có thể đã bắt Trương Duy Nhất tại Thái Lan.

Tháng Tư Đen 2019, Hà Nội phải chính thức nhìn nhận thua kiện ông Trịnh Vĩnh Bình, một công dân Hòa Lan gốc Việt, thì quả thật phán quyết Tòa Trọng tài Quốc tế là một phán quyết lịch sử đối với người Việt Nam.

Hà Nội tìm mọi cách “giữ bí mật” nhưng càng muốn “giữ bí mật” thì người Việt càng mong tìm ra sự thật, để từ từ lộ ra những thâm cung bí sử của đảng Cộng sản Việt Nam.

Nguyễn Quang Duy

Melbourne, Úc Đại Lợi

17/04/2019

Bài liên quan

Trần Quốc Hoàn, Tổng Cục II – Vai Quyết Định Trong Vụ Án Trịnh Vĩnh Bình

https://vietbao.com/a12991/tong-cuc-ii-vai-quyet-dinh-trong-vu-an-trinh-vinh-binh

Trần Quốc Hoàn, Sự Thật Về “vụ Án Phương Vicarrent”

https://vietbao.com/a14177/su-that-ve-vu-an-phuong-vicarrent