La marche pour le climat aux quatre coins de la planète

https://www.journaldequebec.com/2019/09/27/la-marche-pour-le-climat-ailleurs-sur-la-planete
Outre la grande manifestation à Montréal, à laquelle participe l’activiste Greta Thunberg, plusieurs marches pour le climat ont lieu aujourd’hui à travers le monde.  






La marche pour le climat aux quatre coins de la planète

NGỘ – Hoàng Thị Minh Hồng

NGỘ

(Bài viết của chị Hoàng Thị Minh Hồng, người phụ nữ Việt Nam đầu tiên đặt chân đến Nam Cực)

=====

Đã hơn chục năm rồi, vào thời gian này, tôi đang chuẩn bị cập bến Ushuaia (Argentina), sau 2 ngày 3 đêm vật lộn với sóng gió và bão biển trên đường từ Nam Cực trở về.

Hồi ấy trước khi đi, bạn bè bố mẹ gọi điện đến nhà tôi: “Điên à mà cho nó đi! Đi đến cái vùng đấy là chỉ có chết thôi!”.

Kệ, cứ đi xem có chết được không. Thế là, 27/1, cập bến, thoát chết, và cuộc đời tôi cũng thay đổi từ đấy. Những trải nghiệm này, đã tạo nên trong tôi những thay đổi 180 độ trong nhận thức và hành động.

Và tôi đang định nói về những thay đổi ấy!

Chúng ta biết quá ít

Thay đổi thứ nhất: Tôi nhận ra một điều: Thế giới thật rộng lớn, và ta thật bé nhỏ. Đến một lúc nào đó, khi đang đứng ở đâu đó trên bề mặt trái đất, tự nhiên thấy mình quá bé nhỏ.

Con người cứ hay ngồi đấy và nghĩ mình thành công, sành điệu, là… trung tâm của vũ trụ; hay rên rỉ đau đớn thằng kia nó bỏ tao rồi, thế giới sụp đổ, sẽ không bao giờ yêu được ai nữa, thế nọ – thế kia. Chẳng là cái đinh gì hết. 

Hàng tỷ hàng tỷ người đã sinh ra và đã chết đi, đã sinh ra và sắp chết, sẽ sinh ra và sẽ chết. Trái đất vẫn cứ quay hì hụi, chẳng quan tâm gì đến ai. Nhưng ở đây tôi cũng không hẳn nói về cái kích cỡ của thế giới. Tôi muốn nói là we know so little, we see so little (chúng ta biết quá ít). 

Mỗi giây phút, có bao nhiêu sự việc đang diễn ra, hàng tỷ người thuộc hàng nghìn tộc người khác nhau đang làm những việc khác nhau, ăn những thứ khác nhau, tin vào những điều khác nhau, mà mình thì chỉ loanh quanh biết được mấy việc đang diễn ra trên VTV, hoặc oách hơn thì CNN, BCC, kiểu đánh bom ở Iraq, hay đội bóng của ta sang Thái Lan thế nào…

Thế nào là hâm?

Thay đổi thứ hai: Tôi thực sự hiểu được, people are so different (con người thật là khác nhau). Hay nói cách khác, là mỗi người trong chúng ta là độc nhất vô nhị. 

Chắc mọi người sẽ bĩu môi bảo “ai chẳng biết“, nhưng mọi người cứ ngẫm kỹ mà xem, bình thường mình cứ hay làm việc gì đấy, hoặc bắt mọi người phải làm điều gì đó. Bởi cứ nghĩ ai cũng giống mình, ai cũng thích những thứ mình thích. Tôi làm việc cho một văn phòng khoảng 30 người, 7-8 quốc tịch. Và mỗi người một kiểu... hâm

Thực ra, về sau này tôi đã hiểu ra rằng, họ không hâm, họ khác mình. Người ta hay tự cho mình cái quyền cho người khác là hâm. Còn mình thì không hâm! Tất cả các hành vi không giống mình, thì là hâm cả.

Một anh ở văn phòng tôi đi xe đạp đi làm, bị coi là hâm. Một anh Tây không thích dùng túi ni-lông, cũng là hâm. Một số khác ăn chay, không ăn thịt, là hâm. Tôi không thích ăn cơm, cũng là hâm. 

Một người yêu 5 -7 gái một lúc bị coi là hâm, chả ra gì. Một người chẳng yêu gái nào, chỉ thích sống một mình, cà phê một mình cả ngày, cũng hâm nốt. Lấy đâu ra cái chuẩn nào quy định thế nào là hâm thế nào là không? Chắc gì những gì đa số làm thì là đúng hơn thiểu số?

Mỗi người có sở thích khác nhau, có kẻ kiếm tiền vớ vẩn nhưng thích đổi điện thoại di động liên tục, hay vay tiền để mua xe máy, ôtô cho hoành tráng. Có người làm nhiều tiền thì lại chỉ thích gửi tiết kiệm, chẳng mua sắm gì.

Có những bạn Tây đang ở Anh ở Mỹ, ăn bơ ăn sữa suốt ngày, tiện nghi sung sướng, tự nhiên một ngày khoác ba lô đến các nước đang phát triển để làm việc, đánh vật với chuột gián, hố xí xổm và Tào Tháo đuổi vì thức ăn đường phố. 

Họ chắc cũng chẳng hâm hơn những người cả đời không bao giờ ra khỏi thị trấn quê hương nhà mình. Nói tóm lại, mỗi người một kiểu, không ai giống ai. Tôi là độc nhất vô nhị, cũng giống như tất cả mọi người khác!

Không có gì là không thể

Thay đổi thứ ba: Tôi nhận ra một điều, là nothing is impossible (không có gì là không thể). 

Người mình cứ hay bị suy nghĩ mặc định, và khăng khăng những câu kiểu: “Tôi là người không bao giờ lăng nhăng”, hay: “Anh ấy chắc chắn sẽ không bao giờ bỏ tôi”, hay: “Chắc chắn người đấy không bao giờ dám lừa tiền mình”. Coi chừng! Rồi đến ngày té ngửa đấy! Cuộc đời của bạn sẽ có nhiều điều bất ngờ hơn bạn tưởng nhiều. 

Bạn và mọi người đều có những khả năng làm những điều không ai ngờ tới. Chưa kể có bao nhiêu yếu tố khác tác động, và đừng quên, may mắn là một thứ thật sự tồn tại trên đời. Vậy, đừng có 100% vào bất kỳ điều gì. Luôn phải chừa ra vài % cho khả năng kia.

Đừng có tự tin quá vào khả năng của mình, một ngày nào đấy bạn sẽ bị cuộc đời đấm cho một phát tối mắt tối mũi đấy. Và cũng đừng tự ti quá, biết đâu, một ngày, đời bạn lại lên hương. Họ không hâm, họ chỉ khác mình. Người ta hay tự cho mình cái quyền cho người khác là hâm. Còn mình thì không hâm! 

Xấu – tốt

Thay đổi thứ tư: Tôi nhận ra một điều, là không có một cái khái niệm rõ ràng cụ thể nào để xác định người xấu người tốt. 

Ngày xưa mình cứ hay bị dạy cách phân biệt rõ rệt giữa người xấu người tốt: cô Tấm là người tốt, cô Cám là người xấu; Sơn Tinh là người tốt, Thủy Tinh là người xấu.

Lớn hơn một chút thì bị nhồi vào đầu: Người nghèo là người tốt, người giàu là người xấu; người Liên Xô là tốt, người Mỹ là xấu. Lớn hơn nữa, thì cụ thể hơn: “Thằng đấy nghiện đấy!”, nói chung nghiện là xấu, cave là xấu. 

Trong đoàn của tôi đi Nam Cực, có 42 chú (35 thanh niên và 7 trưởng đoàn) từ 25 nước. Tôi tự nhiên rơi tõm vào một đám lổn nhổn mỗi người một màu da, một thứ quần áo.

Đứa tin vào ông Giê-Su, đứa tin vào ông Mô – Ha – Mét, có đứa lại chỉ tin vào cái máy tính. Nháo nhào nhào, một lũ nửa điên nửa dại vì cái cơ hội tự nhiên rơi trúng vào đầu mình. 

Ngày nào cũng học hành tập tành mệt nhoài, nhưng đêm nào cũng chỉ ngủ vài tiếng còn thời gian còn lại thì nhảy nhót hú hét, tận dụng mọi giây phút để được chơi bời với nhau (và được khoảng 2 tuần thì chuyển sang… yêu nhau).

Mike – người North Ireland (Bắc Ailen) hớn hở lôi ảnh người yêu ra khoe với tôi, thấy một cô mắt mũi xanh lè váy đỏ loét xẻ ngược tận đùi. Về sau đến gần hết chuyến đi, Mike bảo: “Hồng, tao nói mày không tin đâu. Mày biết vì sao tao được đi chuyến đi này không. Vì tao đã từng là ăn cắp, cướp nhà băng”. 

Sau đó tôi còn biết thêm về một số thành viên khác của đoàn, những người mà ngày xưa tôi chả bao giờ dám đến gần, chứ đừng nói là chơi. Họ ôm nhau suốt ngày, mặc quần áo chung. Một cậu nghiện heroin 7 năm, một cô 6 năm, hai cậu nữa 4 – 5 năm gì đó. Đứa là criminal (tội phạm), ăn cắp đánh lộn đủ cả. 

Hoá ra cái đám 35 đứa chúng tôi, là đại diện cho cả cái thế giới này, kẻ giàu người nghèo, đứa văn minh đứa lạc hậu, tư bản, cộng sản, đứa PhD (tiến sĩ) ở Harvard, đứa thất học ở Nam Phi, đứa tụt quần ra hơ mông trên lửa ngay trước mặt mọi người, đứa lại cả đời rúm ró hễ cứ “sinh hoạttrước khi cưới là bị ném đá đến chết... Tất cả cái đám ấy được đưa vào sống với nhau, tại một nơi cách xa tất thảy những nơi còn lại trên thế giới.

Một cú sốc văn hoá thật sự! Một trải nghiệm độc đáo cho việc sống với nhau phải như thế nào. Tôi đã ngẩn ngơ mất một buổi, khi biết rằng cái cô Lynn nhí nhảnh ấy, Mike hát hay nhảy đẹp ấy lại là những kẻ, mà theo định nghĩa trong cái hệ giá trị được xây dựng trong mấy chục năm của tôi, là những kẻ dưới đáy xã hội. 

Những con người này, khi được chọn đi Nam Cực, tất nhiên cũng phải qua những lần phỏng vấn, như tôi, nhưng cái tiêu chí chọn lựa của người ta không phải là nói tiếng Anh giỏi hay là đạt được bằng sáng chế hay cống hiến gì cho xã hội, mà chỉ cần họ có suy nghĩ đúng. Chúng tôi được chọn, vì chúng tôi đều là con người.

Tôi chỉ muốn nói rằng, tôi đã “ngộ”, và tôi đang cố để thực hành cái ngộ này.

Nói thật để giải quyết tốt

Thay đổi thứ năm: Một thay đổi cũng phải mất thời gian dài để tôi có thể nhận ra và thực hành nó, đó là “nói thật là cách hay nhất để giải quyết mọi vấn đề”.

Trong cuộc đời mỗi chúng ta, ai cũng nói dối cả, và mọi người thường nhất trí với nhau ở một điểm nghe rất thuyết phục, là “nói dối là cần thiết trong một số trường hợp nhất định”.

Tôi công nhận, có những cái mình rất khó có thể thay đổi được, ví dụ như bố mẹ không cho đi chơi xa với bạn trai, nên đành phải nói là con đi công tác, vì sợ bố mẹ “lên huyết áp”. Nhưng nói chung tất cả những trường hợp còn lại, càng về sau tôi càng nghiệm thấy, thì nói thật là hay nhất. 

Nói thật làm cho mình đỡ mất công nhớ là mình nói gì, có khi nói với người này thế này, lại nói với người khác thế khác. Nói dối làm nhiều khi mình bị lòi đuôi, và làm cho tình hình còn xấu hơn. Ngày xưa tôi bị trĩ, chẳng nói với ai, cũng chỉ vì không tự tin, sợ người khác cười. Tất nhiên, tôi không dám nói là bây giờ tôi tuyệt nhiên không còn nói dối gì nữa. 

Tôi chỉ muốn nói rằng, tôi đã “ngộ”, và tôi đang cố để thực hành cái ngộ này. Vẫn còn những cái khó khăn lắm. Bởi vì việc nói dối không chỉ thể hiện ở việc nói dối về một hành động, mà còn nói dối về tình cảm nữa.

Trong cuộc sống mà ta phải bươn chải kiếm sống này, nhiều khi ta không muốn nói thẳng ra một điều mà ta nghĩ, bởi vì ta không muốn chuốc thêm phiền toái.

Có những người tôi rất ghét, nhưng vì tế nhị, vì quan hệ này kia, tôi không thể nói thẳng ra “Ôi tôi chán/ghét anh/chị lắm…”. Dần dần trong mấy năm vừa rồi, tôi học được cái trò nói thẳng ở mấy bạn Tây làm cùng văn phòng tôi.

Ngày xưa tôi ghét ai trong văn phòng, tôi hay cãi nhau với họ, nói xấu họ sau lưng, nhưng không bao giờ biết ngồi nói chuyện cho ra đầu ra cuối, tao ghét mày ở điểm này, tao đề nghị mày thôi cái thói quen đấy đi, mày ghét tao ở điểm kia hả, tao sẽ sửa. Thế nhé, bắt tay nào, ôm nhau cái, giải quyết xong rồi nhá.

Giờ, tôi đã biết thực hiện những cuộc nói chuyện như vậy ở văn phòng. Khó thì khó, nhưng lại hết cả khó chịu, và chắc người khác cũng đỡ khó chịu với mình.

Hoa Trà my

Rome: San Giovanni in Laterano

The Cathedral of the Most Holy Savior and of Saints John the Baptist and the Evangelist in the Lateran (Italian: Santissimo Salvatore e Santi Giovanni Battista ed Evangelista in Laterano) – also known as the Papal Archbasilica of Saint John [in] Lateran, Saint John Lateran, or the Lateran Basilica – is the cathedral church of the Diocese of Rome in the city of Rome and serves as the seat of the Roman Pontiff.

San Giovanni in Laterano
41°53′9″N 12°30′20″E
LocationRome
CountryItaly
DenominationCatholic
TraditionLatin Rite
WebsiteArchbasilica of Saint John Lateran
History
StatusPapal major basilica, Cathedral
DedicationSaint John the Baptist and Saint John the Evangelist
ConsecratedAD 324
Architecture
Architect(s)Alessandro Galilei
Architectural typeCathedral
StyleBaroque, Neoclassical
GroundbreakingAD 4th century
Completed1735


Rome, San Giovanni in Laterano.

La basilique du Latran a conservé les proportions spatiales de la basilique
paléochrétienne, après sa restauration par l’architecte Borromini, au XVI siècle.

Des éléments de la basilique constantinienne du Latran ont été décrits dans la littérature : les sept autels, faisant référence aux sept circonscriptions ecclésiastiques de la Rome chrétienne, et le Fastigium, baldaquin placé au-dessus de l’autel. Restauré au XVII siècle dans le style baroque, l’édifice a néanmoins conservé les proportions spatiales de la basilique paléochrétienne. Les colonnes en marbre vert, bordant la nef centrale de l’édifice en tant qu’éléments ornementaux dans les piliers de l’édifice baroque, et les colonnes des nefs latérales vinrent orner les niches abritant les statues des apôtres, le long de la nef centrale.



Fête Saint-Jean-Baptiste

lundi 24 juin
Fête nationale du Québec 2019

1835 : 185 ans d’histoire.


Le 24 juin 1834, à Montréal, Ludger Duvernay, alors journaliste et éditeur du journal La Minerve, convie une soixantaine de personnes à un grand banquet. Son but avoué:
faire revivre la fête de la Saint-Jean-Baptiste, une tradition que l’on avait un peu mise de côté après la Conquête anglaise (Traité de Paris, 1763). Son ambition est aussi de doter le peuple «canadien» d’une véritable fête «nationale».


Autour de lui, des notables français, écossais, anglais et des personnalités de l’époque le premier maire de Montréal Jacques Viger, les hommes politiques Louis-Hippolyte LaFontaine, Thomas Brown, Édouard Rodier, George-Étienne Cartier, le Dr Edmund O’Callaghan… L’événement a lieu dans les jardins de l’avocat John McDonnell se trouve aujourd’hui la gare Windsor).

Officiellement reconnue par l’Assemblée législative du Québec en 1925, cette fête devient dès lors
un jour férié. En 1947, les sociétés Saint Jean Baptiste du Québec
forment une fédération, qui s’empresse de mener une campagne en faveur de l’adoption du fleurdelisé comme drapeau pour la province. Ainsi, le 21 Janvier 1948, le Québec se dote d’un drapeau officiel qui devient vite un symbole de ralliement lors
des fêtes de la Saint-Jean.

Les années 1960-1970 sont des années de grands changements pour le Québec pour toute sa société. La Fête de la Saint-Jean délaisse son caractère religieux et devient une fête plus artistique, plus « festive » !
La Fête perd définitivement son côté religieux le 24 juin 1977, alors que le gouvernement de René Lévesque décrète la Saint-Jean officiellement «Fête nationale du Québec» et la confirme comme congé chômé — et chômé obligatoirement le 24, jour de la Fête.

Dès lors, c’est le Comité de la Fête
nationale à Montréal qui veillera
à la pérennité de l’événement.

Affichant un engagement résolument politique au cours des décennies 1980 et 1990, la Fête change progressivement de visage et se colore des nouvelles cultures venues enrichir sa société.


Elle appartient désormais aux gens,
se propage dans tous les quartiers, et favorise les échanges et le mieux vivre ensemble.

religion
nom féminin

Reconnaissance par l’être humain d’un principe supérieur de qui dépend sa destinée ; attitude intellectuelle et morale qui en résulte.
Fête Saint-Jean-Baptiste à Rimouski

Polytics A word used to describe the complicated and intricate entanglements of being in polyamorous relationships. Often associated with frustrating nature of jealousy vs compersiontime management, and trying to remember the seemingly endless web of connectivity between people involved in polyamory.

Why do Muslims fast during Ramadan every year?

Eid 2019: When is Eid al Fitr? When did Ramadan end? What is Eid ul Fitr?

Ramadan
رمضان

The ninth month in the Islamic calendar, and the month of fasting for Muslims.

The blessed month of Ramadan is here.

Commemorated by Muslims all over the world, Ramadan is a time of reflection, contemplation and celebration.

Ramadan is observed by Muslims as a month of fasting and takes place from mid-May to mid-June, although the exact dates depend on the sighting of the moon.

Muslim-Ibn-Habaj, Abul-Hussain. “Sahih Muslim – Book 006 (The Book of Fasting), Hadith 2391”hadithcollection.com. Archived from the original on 12 June 2018. Retrieved 25 July 2012.

Here’s everything you need to know about Ramadan 2019:

When did Ramadan start?

As the Islamic calendar is based around the lunar cycle, Ramadan rotates by approximately ten days each year.

This year Ramadan began on the evening of Sunday 5 May and ends on Tuesday 4 June.

What is Ramadan?

Ramadan fasting means only eating before sunrise and after sunset (Getty Images)

Ramadan is held during the ninth month of the Islamic calendar and is a time for spiritual reflection, acts of charity and spending time with loved ones.

It is also a month when Muslims fast. This means they don’t eat or drink between sunrise and sunset, which is important during Ramadan as it allows them to devote themselves further to their faith, ultimately becoming closer to Allah.

The reason why Muslims fast is because it is one of the Five Pillars of Islam, the other pillars being faith, prayer, charity and making the pilgrimage to Mecca – the Holy City.

Before sunrise, they will have a meal (suhoor) and another meal (iftar) after sunset. The only people that do not have to fast during Ramadan are children, the elderly, pregnant women and those who are travelling or who are ill.

When is Eid al Fitr 2019?

Thai Muslims release hundreds of balloons after a morning prayer marking the start of the Islamic feat of Eid al-fitr (Getty)

Eid al-Fitr is a festival and celebration that marks the end of Ramadan. This year, it is set to begin at the first sight of the new moon on 4 June.

What are the prayer times for Ramadan this year?

Here are all the prayer times for Ramadan 2019, with the timetable courtesy of the East London Mosque:

The Ramadan prayer times for 2019 (East London Mosque)

Muhammad’s revelation was an event described in Islam as taking place in 610 AD, during which the Islamic prophet, Muhammad was visited by the archangel Jibrīl, known as Gabriel in English, who revealed to him the beginnings of what would later become the Quran. The event took place in a cave called Hira, located on the mountain Jabal an-Nour, near Mecca. As for the exact date of this event, it has been calculated to be on Friday, the 17th of Ramadan at night, i.e. August 6, 610 C.E. – when the Prophet was 40 lunar years, 6 months and 12 days of age, i.e. 39 Gregorian calendar years, 3 months and 22 days.

 while on retreat in a mountain cave near Mecca (the cave of Hira), Gabriel appears before him and commands him to recite the first lines of chapter 96 of the Quran. Muhammad’s experience is mentioned in Surah 53:4–9:

“It is no less than inspiration sent down to him:
He was taught by one Mighty in Power,
Endued with Wisdom: for he appeared (in stately form);
While he was in the highest part of the horizon:
Then he approached and came closer,
And was at a distance of but two bow-lengths or (even) nearer;”

Stunning Photos Show Eid al-Fitr Celebrations Around The World

Chiếc Nanh Heo Rừng

Tác giả: Phương Hoa

Tác giả sinh năm 1950, đến Mỹ năm 1994 diện tị nạn chính trị theo chồng, hiện sống ở Bắc Cali. Tốt nghiệp đại học ngành Early Childhood Education (giáo dục nhi đồng) tại Chapman University miền Nam California hồi tháng 5, 2012 khi tròn 62 tuổi, đang volunteer tại một trường học ở Marysville trong khi chờ đi dạy. Phương Hoa đã nhận giải Danh Dự Viết Về Nước Mỹ 2013 và tiếp tục viết nhanh, viết khoẻ. Sau đây là bài viết mới nhất của bà.

* * *
Nó hình cong lưỡi liềm, dài chừng bảy phân tây, đầu mũi nhọn hoắt, đầu gốc vun vun dẹp được bọc bạc và chạm trỗ dày đặc hoa văn, sáng trắng đồng màu với sợi dây chuyền. Tòan thân nó bóng loáng màu ngà, nhưng khoảng giữa có điểm những đường vân nâu sậm vắt ngan xeo xéo. Nó được đặt trên chiếc khăn trắng nằm cạnh hồ bơi, khăn của trung tâm thể dục, cùng với cái bình nước nhỏ màu xanh loại có gắn ống hút.

Đó là lần đầu tiên tôi nhìn thấy nó, trong lúc ngồi chờ xem có ai đó “get out” khỏi hồ bơi, để tôi…nhào vô. “Racquet & Health Club” là trung tâm thể dục rất lớn, tọa lạc tại một vùng gần ngọai ô thành phố Yuba, xung quanh có nhiều cây maple (cây thích) và những khóm hoa dạ lý. Trung tâm có đầy đủ các lọai dụng cụ thể dục, nhiều sân Tenis, phòng tắm hơi, tắm nắng, bốn hồ bơi và hồ “Spa” đấm bóp nước nóng, nước lạnh, trong nhà và cả ngoài trời. Mỗi hồ bơi được chia ra bốn làn đôi có ngăn dây nổi, mỗi làn cũng được chia hai bằng một vạch sơn đen dưới đáy hồ, đủ chỗ cho hai người bơi chung. “Nếu anh chị thấy trong làn chỉ có một người bơi, thì anh hoặc chị có thể vào bơi “share” với họ,” người quản lý đã nói trong ngày đầu chúng tôi đến ghi danh. Tuy đã gần cuối mùa hè và trời cũng chớm sang thu, nhưng khí hậu vẫn còn oi bức, có ngày nhiệt độ đến trên chín chục nên hồ bơi là chỗ hấp dẫn nhiều người, đôi khi không đủ chỗ.

Bơi lội là sở thích của tôi vì tôi đã sống và lớn lên ở thành phố biển Nha Trang từ thời “tuổi ngọc.” Cho đến bây giờ, mỗi lần nhào xuống biển hay hồ bơi là tôi như “cá gặp nước,” vùng vẫy lung tung, phải được một mình một cõi bơi tự do, bơi ào ào thì mới “đã,” chứ bơi chung với ai đó cứ phải từ từ, len lén sợ nước văng làm phiền thiên hạ tôi thà là… ở nhà sướng hơn. Hơn nữa, sau mấy tháng tập trung vào kiểu bơi sải vận động toàn thân, cái lưng đau của tôi đã được điều chỉnh rất nhiều nên tôi cố gắng “lôi” ông xã đến trung tâm hầu như mỗi ngày. Khi nào hồ bơi đông người, tôi ngồi trên dãy bờ tường thấp ngăn giữa hồ bơi và hồ nước nóng “Spa” chờ có người ra trống chỗ để tôi vào bơi một mình cho thoải mái. Nhờ vậy mà tôi mới có dịp nhìn thấy chiếc nanh heo.

Ngày xưa trong thời kỳ chiến tranh, tôi đã từng nghe nói có nhiều người qua tận bên Miên để tìm mua nanh heo rừng về đeo. Trừ những tay anh chị giang hồ đeo nanh heo rừng để “làm oai,” phần lớn người ta tin tưởng đeo nó sẽ mang lại may mắn và nhất là giúp cho sự an toàn, bảo vệ tính mạng tránh khỏi “tên bay đạn lạc.”

Tôi còn nhớ khi tôi còn nhỏ, ở xã tôi có một người làm nghề pháp sư tên Kỵ, thường được người ta rước đi chữa bệnh tà, cúng đất, cúng cầu an cho gia đạo. Một lần ông ấy đến cúng đất cho người hàng xóm gần nhà tôi, ông có đeo chiếc nanh heo trên cổ. Tôi và đám con nít xúm lại coi và sợ hãi tản đi khi thấy ông làm phù phép, dùng sơn đủ màu vẽ những “ông tướng” mặt mày dữ tợn rồi đem “trấn” ở bốn góc rào nhà ông hàng xóm. Từ đó mỗi lần đi học ngan qua chỗ mấy ông tướng ngồi, nếu không có ai đi cùng thì tôi nhắm mắt chạy thục mạng, cố vượt qua khỏi chỗ “các ngài” càng nhanh càng tốt.

Buổi tối hôm đó sau khi xong lễ, mọi người đến ăn cỗ xúm lại ngồi quanh đàm đạo cùng ông thầy. Bọn con nít chúng tôi cũng lao nhao trong nhà bếp rập rình hóng chuyện. Ông thầy Kỵ đã rất tự hào về chiếc nanh heo rừng mà ông cho là linh thiêng, đem lại “quyền lực” và “đạn bắn không trúng” của ông. Ông ta nói đó là chiếc nanh “Heo Rừng Rủ” rất quí hiếm, độc nhất vô nhị, vì nó là nanh của “heo rừng thành tinh” và rụng tự nhiên mà người thầy Miên của ông đã “yểm bùa” vào trước khi tặng ông, chứ không phải được lấy từ heo rừng săn bắn. Ông còn kháo rằng nó đã cứu ông thoát chết nhiều lần, đạn bắn vào ông không trúng, cà nông nổ gần kề cũng “chả ăn thua.”

Có phải thật sự chiếc nanh heo rừng đã “phò trì” cho ông ta hay chăng thì không ai dám chắc, nhưng người ta thấy ông ấy sống an nhàn tự tại hành nghề “phù thủy” và sau 75 vẫn ung dung làm thầy cúng cho đến hết đời mà không một lần bị bắt bớ, dù cũng có nghe chính quyền mới nhiều lần đến “bố ráp” ông. Người ta đồn rằng “ông heo rừng” thành tinh đã che mắt “mấy ổng” để cứu ông thầy.

Không ngờ bây giờ ở Mỹ mà cũng có người đeo nanh heo rừng. Tôi thích thú nghĩ thầm rồi tẩn mẩn quan sát xem ai là chủ nhân của nó. Dưới hồ ngay chỗ để chiếc nanh heo, một tay bơi có mái tóc ngắn bạc trắng muối tiêu đang sải tay vun vút, lặn hụp nhịp nhàng làm nước văng tung tóe sang cả những làn bơi bên cạnh. Tôi căng mắt ra nhìn, cố đoán xem đó là nam hay nữ, nhưng không thể. Người ấy bơi liên tục không nghỉ tay, bơi giáp đến bên này là hụp ngay xuống để trở đầu, đạp tống vào thành hồ, vút một cái đã thấy cách bờ hồ xa lắc, y hệt một tay bơi Olympic. Quan sát một hồi, tôi cũng chỉ có thể thấy loáng thoáng được cái đầu tóc muối tiêu, hai cánh tay áo ngắn màu nâu nâu đỏ, đôi kiến lội (goggle) đen ngòm ngòm, và đôi chân nhái xanh màu mực vung vẩy giữa đám bọt nước trắng xóa.

Bỗng bên góc trái có một bà trèo lên khỏi hồ. Tôi vội vàng đứng dậy, bước lại chỗ vòi nước lọc, uống vài ngụm rồi phóng ùm xuống hồ và bắt đầu bơi. Thường thì tôi bơi tính đủ mười “lap” tức là bơi qua lại hai chục vòng, sau đó ôm miếng xốp bơi nhẹ bằng chân, thư giãn trong vòng mười lăm phút nữa rồi qua hồ nước nóng “Spa” để cho nó “đấm lưng.” Nhưng hôm ấy dù cố gắng cách nào tôi cũng không thể tập trung đếm “lap” được vì mắt tôi cứ mãi dán vào cái làn bơi “nanh heo” ở cuối hồ. Người ta nói “đàn bà là chúa tò mò” quả không sai. Thật là kỳ cục. Không dưng tôi lại quan tâm, muốn biết mặt chủ nhân của chiếc nanh heo để làm gì nhỉ. Tôi cố gắng đến hụt hơi, bơi theo cùng chiều với “người bên ấy” nhưng không tài nào bắt kịp, chỉ qua được nửa đường thì người ta đã “lộn mèo” trở lại, liên tục không dừng lấy một lần. Tôi thầm phục cho sự dẻo dai của tay bơi.

“Ngược xuôi tơi tả,” hết bơi lại rồi lại bơi qua, cho đến khi tôi đuổi kịp về nơi bắt đầu thì cũng là lúc người đó ngừng bơi, đứng lên chống hai tay thót ngược ngồi vắt vẻo trên bờ hồ. Thì ra đó là một “lão bá bá.” Ông ta gỡ cặp kiến lội ra, chộp lấy chai nước nút lấy nút để như một đứa bé bú bình. Tôi cũng dừng lại, vừa thở vừa làm động tác lội bộ vừa nhìn sang chỗ ông ta.

Người này trông chưa già lắm, nhưng có lẽ cũng đã quá sáu mươi, mặc quần sọt hoa nâu màu lính, và cái mà tôi tưởng là “tay áo” lại là những hình xâm dày đặc trên hai cánh tay, từ vai chạy dài xuống đến khuỷu tay. Dáng người gọn gàng, khuôn mặt xương xương, chóp mũi nho nhỏ đỏ hoe vì lạnh, mắt sâu, hàm râu quai nón được gọt tỉa kỹ càng nhưng đã mọc ra lún phún làm khuôn mặt ông trông xanh kìn kịn và “ngầu” như tài tử cạo gội Al Pacino.

Uống nước xong, ông ta chống hai tay lên bờ hồ thở dốc, làm như đã nhịn thở trong thời gian bơi liên tục vừa qua. Quần tắm hoa rừng, râu quai nón, tay chân mình mẩy đầy lông, những hình xâm rậm rạp, tất cả những thứ ấy gộp lại làm cho ông ta nhìn giống hệt một “bác” King Kong đang ngồi thư giãn trên cành cây sau một hồi “quần nhau” với đồng lọai.

Được một lát, người đó rút đôi chân nhái bỏ sang bên cạnh, nhặt sợi dây chuyền nanh heo lên, tay kia lấy khăn lau tóc lau mặt xong thì đeo nó vào cổ. Bất chợt ông ta cầm lấy chiếc nanh heo đưa lên môi hôn một cái rất là trang trọng, giống như người ta hôn cây thánh giá, rồi đứng lên vơ vội chiếc khăn và mọi thứ, bước nhanh qua phía hồ nước nóng “Spa.” Tôi sững sờ nhìn theo. Chiếc nanh heo rừng chắc chắn có một ý nghĩa nào đó rất quan trọng đối với người này. Tôi bèn đặt tên cho ông ta là “người nanh heo,” và bắt đầu theo dõi ông từ hôm ấy.

Tôi thấy ông ta hầu như mỗi ngày ở hồ bơi, lúc nào ông cũng đến vào khoảng 12 giờ trưa, lập lại những động tác quen thuộc, cởi bỏ sợi dây chuyền trên chiếc khăn, xuống bơi một hơi, lên bờ, đeo nó vào và đi qua hồ nước nóng. Điều làm tôi ngạc nhiên là ông ta liên tục chạy qua chạy lại giữa hai hồ nước nóng và nước lạnh. Nước nóng thì quá nóng, còn hồ nước lạnh thì lạnh như đá, thế mà ông ta có vẻ như không thấy lạnh chút nào, nhúng xuống hồ “Spa” một lát thì trèo lên chạy sang hồ nước lạnh và ngược lại.

Tôi có nghe người ta nói, ngâm mình vào hồ nước nóng sau đó nhúng sang hồ nước lạnh sẽ làm cho sức khỏe dẻo dai, da thịt săn chắc, nhưng chưa một lần dám thử. Nhìn ông ta, tôi chợt liên tưởng đến miếng sắt người thợ rèn ở làng tôi ngày xưa trui vào lửa cho đến đỏ lòe rồi đem nhúng vào nước kêu cái xèo và lập đi lập lại cho đến khi miếng sắt thật sự cứng đủ làm ra cái rựa. Hình như nhờ vậy mà ông ta trông khỏe mạnh rắn chắc và nhanh nhẹn so với những người cùng độ tuổi ông mà tôi thường gặp, mập mạp phốp pháp, ngực lép bụng phình, đi đứng rủng rỉnh rung rinh, lờ đờ chậm chạp.

Ông ta nào biết đã bị tôi quan sát kỹ như một thám tử đang theo dõi người bị tình nghi. Rất may nhà tôi không thích ra hồ bơi mà chỉ chăm lo rèn luyện mấy cái bắp thịt của ông ấy bằng cách kéo máy và chạy bộ trên Treadmill chứ nếu không có lẽ ổng cũng “question” về cái vụ tôi cứ “mắt la mày lét” nhìn theo ông Mỹ đó. Nhiều lần tôi muốn lại bắt chuyện làm quen để hỏi về cái nanh heo, nhưng mỗi lần tôi gật đầu chào thì ông ta chỉ gật đầu chào lại, mặt mày lạnh tanh, khó đăm đăm như người “bị bón,” nên tôi cũng ngán. 

Dịp may đến với tôi một tuần sau đó, khi trung tâm tổ chức cuộc thi Tennis thường niên có ăn tối và hòa nhạc. Chúng tôi mua hai vé để sau khi tập thể dục xong sẽ ở lại chung vui, vì cụ chàng nhà tôi cũng có “máu Tennis” đầy người. Đến quá trưa thì một dàn nhạc “dã chiến” được sắp xếp, chuẩn bị ở bãi đậu xe cạnh dãy sân Tennis. Tất cả các sân Tennis và lối đi đều được xịt sơn xanh, màu xanh của mạ giống như sân cỏ thật, nhìn rất mát mắt. Các cây dù lớn màu sắc sặc sỡ được dựng lên rải rác khắp nơi cùng với bàn ghế bày ra bên dưới, và mấy lò nướng “Barbecue” bự chảng nằm ngạo nghễ chênh vênh ở một góc sân đang bắt đầu ngùn ngụt nhả khói, những làn khói thơm lừng mùi thịt nướng hấp dẫn người ta, làm cho ai hít vào cũng phải… chảy nước miếng.

Khi chúng tôi ở hồ bơi ra thì khán giả đã ngồi kín hết các nơi có bóng mát bên ngoài sân Tennis, kể cả trên hai dãy ban công của trung tâm. Vì không còn chỗ trống, chúng tôi phải ra ngoài bãi đậu xe và chọn cái bàn dưới gốc một cây maple cho dễ nhìn vào sân Tennis và cũng khỏi mất công dời đi khi họ phục vụ bữa ăn chiều sau trận đấu.

Chúng tôi thích thú ngồi xem nhiều trận đấu “ác liệt” giữa các đội nhà với nhau, những tay vợt “cây nhà lá vườn” nhưng chơi cũng hùng dũng chẳng kém gì anh em song sinh nhà Mike Bryan và Bob của Mỹ. Các đội nữ chơi cũng đẹp mắt vô cùng. “Xem mấy trận đấu thật là đáng đồng tiền bát gạo!” Ông nhà tôi thích quá nói đùa.

Đến gần chiều, khi các trận đấu vừa kết thúc thì nhạc bắt đầu trổi lên, vui nhộn, rộn ràng, làm cho ai có máu “dancing” cũng phải bước đi nhún nhẩy. Khán giả bây giờ đã trở thành thực khách, ra chọn bàn ngồi và bắt đầu đi lấy thức ăn. Mọi người sắp hàng, thi nhau “gắp kẹp” vào đĩa của mình. Ngoài các món đặc sản của “chú Sam” như thịt nướng “Barbecue,” bơ, phó mát, các lọai rau trộn và trái cây, bữa tối còn hấp dẫn thực khách bằng nhiều món đậu và bánh bắp của người Mễ. Tôi cũng đi chọn mấy món và đem trở lại bàn mình, vừa ngồi xuống thì có một người tay bưng đĩa thức ăn đầy vun, tay bưng ly nước “Brunch” cao nghều bước lại:

– Xin lỗi, tôi có thể ngồi đây không?

Tôi nhìn lên bỗng thấy lòng mừng khôn tả. Người đó là “ông nanh heo.” Tôi từng theo dõi, “săn lùng” ông ta cả tuần nay chờ cơ hội để làm quen, không ngờ bây giờ tự dưng đến đây…nộp mạng! Và điều làm cho tôi “vui hết biết” là ông ta mặc chiếc áo nhà binh loại áo vét sát cánh, quần sọt kaki, và đội chiếc mũ lưỡi trai có hàng chữ “Vietnam Veteran.” Chiếc nanh heo vẫn tòng teng trước ngực. Thì ra ông là một cựu chiến binh Việt Nam! Thảo nào. Bây giờ thì tôi đã có giải đáp cho xuất xứ của chiếc nanh heo ông đang mang trên cổ. Thích thật.

– Ồ, xin ông cứ tự nhiên. Tôi “hồ hởi” nói với ông khi nhà tôi cũng vừa đem thức ăn lại.

Ông ta nói cám ơn rồi ngồi xuống. Cái đĩa của ông đầy thật là đầy, nhưng ngoài mấy miếng thịt nướng ra, còn lại toàn là các loại rau đầy màu sắc, xà lách xanh, cà nút đỏ, ớt bell vàng, nấm trắng, hột ô liu đen, những mảnh bánh mì sấy… và bên trên là một lớp “Dressing” màu sữa đục được tưới ngoằn ngoèo khéo léo nhìn thật bắt mắt. Tay này quả là biết cách ăn uống “healthy,” tôi thầm nghĩ.

Trong tiếng nhạc vui rộn rã, tôi vừa ăn vừa ngầm quan sát người khách cùng bàn. Ông ta dùng nỉa trộn tất cả lại và bắt đầu nhai ngồm ngoàm, cắm cúi ăn không cần nhìn ai, ăn mạnh mẽ như “tằm ăn lên,” chỉ thỉnh thoảng dừng lại uống vài ngụm nước và dùng khăn giấy thấm vào bộ ria mép. Đúng là ăn như…lính ăn! Sau một tiếng đồng hồ bơi liên tục như vậy chắc ông ta đã đói lắm. Ông ăn một hơi cho đến khi sạch đĩa. Nhìn cái đĩa trống trơn của ông ta, tôi chợt nhớ có lần cô bạn Jilly đã nói, người Mỹ họ không thích phung phí thức ăn, dù là đi ăn “Bufett” họ cũng chỉ ăn bao nhiêu thì lấy bấy nhiêu và ăn cho hết chứ không bao giờ lấy thật nhiều để rồi nửa ăn nửa bỏ. Tôi bỗng cảm thấy xấu hổ khi nhớ lại những lần đi ăn “bao bụng” vì “đói con mắt” nên thấy thứ gì cũng muốn thử, lấy cho nhiều rồi “nuốt không vô” đã phải đem vất bỏ. Lần này thì tôi nhất định phải ăn cho hết những gì có trong đĩa của mình.

Ăn xong, ông ta dừng lại lau miệng, đem vất đĩa muổng vào thùng rác, đi lấy một đĩa bánh kem tráng miệng, và trở lại bàn cùng với ly nước trái cây. Nhiều người vẫn còn tiếp tục lấy thêm thức ăn nhưng chúng tôi đã xong và dọn dẹp, trên bàn bây giờ chỉ còn lại mấy ly nước. Ban nhạc chuyển sang chơi một khúc êm dịu. Sau bữa ăn trong buổi chiều hè, ngồi dưới bóng những tàn cây maple, nhâm nhi món nước trái cây hỗn hợp giữa âm thanh của bản hòa tấu êm dịu, thật làm mát lòng người. Bấy giờ thì ông nanh heo” mới nhìn sang chúng tôi:

– Anh chị là “Chinese” hả?

Trời đất. Không biết ông ta “trông gà hóa cuốc” thế nào mà nghĩ chúng tôi là người Hoa nhỉ.

– Không, chúng tôi là người Việt Nam. Nhà tôi trả lời.

Ông ta kêu lên:

– “Really!” -Vậy sao, thế mà bữa giờ thấy chị này hoài nhưng tôi cứ tưởng chị là người Hoa.

Vậy ra ông tưởng tôi người Tàu nên đã “làm mặt lạnh” với tôi sao. Tại sao vậy nhỉ. Tôi cười, chỉ vào chiếc mũ của ông:

– Ông là cựu chiến binh Việt Nam? Chiếc mũ của ông đã nói lên điều đó.

Ông ta gật đầu xác nhận và nói: “Mỗi lần tôi đội chiếc mũ này ra phố, nhiều thanh thiếu niên đã đến chào tôi và nói “cám ơn ông đã phục vụ cho nước Mỹ,” nên tôi thích đội nó.” Trao đổi thêm vài chuyện bâng quơ, ông hỏi chúng tôi có biết chỗ nào bán những loại cây thuốc “herb plant,” dược thảo thì chỉ dùm. Ông cho biết là không thích dùng các loại thuốc Tây “supplement” vì nó có nhiều phản ứng phụ. “Thuốc dược thảo bất quá cũng chỉ là cây lá thiên nhiên, uống vào như mình ăn rau trái, nếu không lợi thì cũng chẳng hại gì,” ông nói.

Tôi thật ngạc nhiên. Không ngờ một người Mỹ lại cũng thích dùng dược thảo như người Á Châu. Tôi ghi cho ông địa chỉ và tên hiệu thuốc Bắc của một người Việt gốc Hoa mà tôi quen ở Sacramento, nói với ông ở đó họ có thầy xem mạch và hốt thuốc chữa bệnh nếu ông cần. Ông tỏ vẻ rất mừng, cám ơn rối rít và tự giới thiệu ông tên Devin.

Trong khi chuyện trò, tôi để ý mấy hình xâm bên cánh tay trái của ông Devin. Giữa những hình lập thể kỳ dị là một hình trái tim màu xanh đậm, và chính giữa là chữ “Tho” màu đỏ được viết rất kiểu cách, phải để ý kỹ mới đọc được. Sau khi tôi nói tên tôi và tên của ông xã, Devin hỏi:

– Anh chị ở vùng nào bên Việt Nam?

– Miền Trung. Nhà tôi nói.

Ông cười thật rạng rỡ:

– Ồ, vậy ra là anh chị ở “Hue” ư? Ngày xưa tôi đã từng làm việc ở Huế từ năm 67 đến 68 đó.

Nhà tôi chưa kịp trả lời thì tôi đã gật đầu để cho qua chuyện, không đính chính, lòng thầm “tính kế” để lái câu chuyện sang chiếc nanh heo rừng mà tôi đã một lần thấy ông trang trọng hôn lên nó, và cái tên “Tho” rất Việt Nam xâm trên cánh tay ông cũng gợi sự tò mò của tôi. 

Thấy tôi gật đầu, mắt ông ta sáng lên, ông nhìn chúng tôi với một vẻ thân thiện lạ kỳ:

– Vậy thì khi sự kiện “TET 68,” trận chiến Tết Mậu Thân xảy ra anh chị có ở Huế không? Ông ta hỏi chưa hết câu thì giọng chùng xuống nghe buồn não ruột.

Tết Mậu thân ư. Có người dân miền Nam Việt Nam nào mà quên được cái “Tết Con Khỉ” đẫm máu, thây phơi chật đất, máu chảy đầy…chùa chiền, đền miếu, nhà thờ, cái Tết mà tiếng pháo mừng Xuân hòa lẫn vào tiếng súng đánh nhau vang rền khắp nơi ấy nhỉ. Tôi lắc đầu:

– Không. Khi ấy chúng tôi đang ở Nha Trang.

Rồi để rời khỏi sự hồi tưởng quá khứ đớn đau trong một buổi chiều vui đẹp và an bình như thế này, tôi bèn lảng sang chuyện khác. Tôi chỉ vào sợi dây chuyền trên cổ ông và hỏi:

– Đây là chiếc nanh heo rừng phải không? Đẹp quá! Ngày xưa bên Việt Nam nhiều người bạn của tôi cũng có mang những chiếc nanh heo như thế này. Ông làm sao có được nó vậy?

– Đúng rồi. Nó là chiếc nanh heo rừng do người vợ Việt Nam của tôi tặng. Nàng ở Huế, tên “Tho,” ông chỉ vào chữ Tho trong hình xâm trên cánh tay: – Nghĩa là “Poem” đó. Nói xong, ông sờ vào chiếc nanh heo, tay mân mê, mắt nhìn xa xăm, vẻ mặt thẩn thờ như đang hồi tưởng về quá khứ.

– Ồ! Tôi kêu lên đầy thú vị. – Vậy ra bà nhà là người Việt Nam sao? Wow! Ông còn hiểu cả nghĩa tên của bà nữa. Đúng rồi! “Tho” nghĩa là “Poem” đó! Tôi lập lại và hỏi: – Ông có thể nào kể chúng tôi nghe về chuyện tình của hai người không? Bà tặng ông chiếc nanh heo này trong trường hợp nào? Bà đến Mỹ cùng lúc với ông hả? Tôi hỏi một hơi không kịp thở. Nhà tôi trợn mắt:

– Cái bà này! Hỏi gì mà tía lia vậy, làm sao ông ấy trả lời kịp chứ!

Dường như ông Devin bắt đầu có cảm tình với chúng tôi và cảm thấy gần gũi khi biết chúng tôi là “đồng hương” của người vợ Việt Nam của ông. Vẻ lạnh lùng trên gương mặt ông bây giờ đã biến mất, cái vẻ lạnh lùng khép kín mà tôi thường bắt gặp mỗi khi nói chuyện với những cựu chiến binh Việt Nam khác. Nếu không quen thân thì mỗi khi có ai hỏi về việc ngày xưa chiến đấu bên Việt Nam họ thường trả lời, “Tôi không muốn nhắc lại.” Có lẽ đã lâu rồi Devin chưa hề có dịp để tâm sự với một ai về Việt Nam.

Nghe tôi hỏi, ông lắc đầu buồn bã:

– “I wish!” Tôi ước gì được như thế! Tho, “Ton Nu Thuy Tho” (chẳng biết là Thụy hay Thùy…?) không phải vợ tôi bây giờ, mà là người vợ trong quá khứ của tôi. Chiếc nanh heo rừng này nàng đã tặng tôi khi chúng tôi vừa mới yêu nhau.

Lòng bồi hồi, tôi ngồi gần như nín thở, đợi ông Devin kể tiếp, làm như thở mạnh sẽ khiến cho tan loãng đi những gì ông ấy sắp nói ra. Trầm ngâm một lúc, rồi có lẽ vì sự xúc động bất ngờ khi gặp lại những đồng hương của người vợ cũ, hoặc vì tác động bỡi bầu không khí êm đềm của buổi chiều hè, ông Devin bằng một giọng trầm trầm bắt đầu kể chúng tôi nghe về chuyện tình của ông và Thơ cô gái Huế, cùng xuất xứ của chiếc nanh heo rừng đã theo ông bốn mươi mấy năm qua…

Năm 1967, chàng trai trẻ Devin được điều sang Việt Nam, chức vụ thiếu úy, là cố vấn quân sự cho quân

đội Việt Nam Cộng Hòa, làm việc ở Huế. Qua giao dịch giấy tờ, Devin được anh bạn Trung úy người Việt Nam giới thiệu làm quen với cô gái xinh đẹp tên Thơ, là người bà con của Tam, khi anh đến Việt Nam được hơn bốn tháng. Thơ là thông dịch viên văn phòng, chuyên dịch văn kiện giấy tờ cho một căn cứ quân sự Mỹ thuộc tỉnh Thừa Thiên.

Chuyện tình của hai người gặp phải rất nhiều sóng gió. Thơ là con gái của một gia đình quyền quí, có họ hàng với vua chúa ngày xưa. Khi biết chuyện hai người yêu nhau, gia đình nàng kịch liệt phản đối, nhất quyết ngăn cấm. Đã từ lâu, từ thời Pháp thuộc, người dân Huế luôn bảo thủ, gìn giữ nề nếp cổ truyền, không muốn con cái lấy vợ lấy chồng ngọai quốc. “Người Huế không thích người ngoại quốc hiện diện trên quê hương họ, Nhật, Pháp, Mỹ gì cũng thế. Cho đến khi sự kiện Tết 68 xảy ra, họ mới hiểu họ cần sự bảo vệ của chúng tôi, và rất đông người đã chạy ùa vào căn cứ Mạc-Vi (MACV Advisory) để nhờ giúp đỡ,” ông Devin nói.

Thơ đã bị cha đánh đập, mẹ rầy la, dòng họ mắng nhiếc, làng xóm xầm xì, vì có người yêu là một anh chàng “mũi lõ.” Nhưng tình yêu của Thơ đối với Devin đã vượt qua cả sự ngăn cấm của gia đình. Điều này thì tôi biết, vì cô bạn thân người Huế của tôi ngày xưa từng nói “Con gái Huế nổi tiếng là lãng mạn và đa tình, khi đã yêu ai thì yêu hết mình, chết cũng không sợ.” Thơ và Devin không dám đi cùng với nhau ra ngoài, họ thường hẹn hò ở những quán bar hay căng tin trong căn cứ quân sự. Hầu hết là do Tam giúp sắp xếp.

Những khi Devin đi công tác, Thơ ở nhà thấp thỏm không yên, nàng vô cùng lo lắng cho sự an nguy của anh. Một lần Thơ tặng cho người yêu sợi dây chuyền có chiếc nanh heo rừng. Đây là món quà từ người bạn học ở Tây Nguyên tặng Thơ, vì tin rằng nó sẽ giúp nàng may mắn, tránh khỏi hiểm nguy trong thời chiến. Chiếc nanh heo thật lớn mà Thơ là con gái không thể đeo nên đã đem cất kỹ. Và khi có người yêu thì nàng tặng cho Devin, mong nó sẽ đem lại an tòan cho anh.

Cuối cùng, hai người phải nhờ đến Trung úy Tam cầu cứu với cấp trên của anh, nhờ họ cùng nhau đến nhà thuyết phục cha mẹ Thơ. Và gia đình nàng đã đồng ý trong miễn cưỡng cho hai người lấy nhau. Vì vậy “đám cưới nhà binh” của họ diễn ra thật đơn giản, một ngày trước lễ Giáng Sinh năm 1967.

Khác với gia đình Thơ, cha mẹ Devin khi biết tin anh có người yêu và thấy được hình của cô gái Việt nam xinh đẹp, họ rất vui mừng. Họ gửi quà mừng cho cặp vợ chồng mới và thúc giục anh lo sẵn giấy tờ để khi anh hết nhiệm vụ trở về Mỹ thì phải đem Thơ đi cùng. Hai người đã sống với nhau rất hạnh phúc. Thơ thường nấu cho chồng những món đặc sản xứ Huế, tập Devin ăn thức ăn Việt Nam. Ông Devin nói “món ruột” của Tho mà ông rất thích là “Bun Bo Hue.” Cho đến bây giờ, mỗi khi có dịp đến những vùng có nhà hàng Việt Nam, thế nào ông cũng đi ăn bún bò Huế cho bằng được.

“Đến Tết Monkey, chưa đầy ba tháng sau khi chúng tôi đám cưới.” Ông Devin nhớ lại. “Hai ngày trước Tết, Thơ nói với tôi cô ấy về quê để cùng ăn Tết với gia đình, bốn ngày sau sẽ trở lại thành phố. Tối ba mươi Tết, tôi ở trong căn cứ Mạc-Vi một mình cũng buồn nên rủ hai thằng bạn, Mike và Jack, bày ra nhậu cho vui. Ba đứa tôi thức rất khuya, vừa ăn uống vừa tán chuyện vừa nghe tiếng pháo mừng giao thừa của dân địa phương nổ râm rang ngoài thành phố. Khoảng hơn ba giờ sáng, thình lình căn cứ của chúng tôi bị tấn công, bắt đầu là một lọat pháo kích nổ ầm ầm ngoài cổng căn cứ, rung rinh cả tòa nhà. Tôi và hai thằng bạn vội vã trang bị súng ống, đội mũ sắt vào rồi ra ngoài để xem xét tình hình.”

Nói đến đây ông Devin bỗng dừng lại, bàn tay ông run run, nét mặt căng thẳng.

Trời đã về chiều, vài cơn gió thổi qua lay động hàng cây maple. Những chiếc lá khô vội vã lìa cành bay là đà xuống đất, nằm rải rác trên sân Tennis và các lối đi, điểm những vệt nâu hình năm cánh trên nền sơn xanh, giống như những bàn tay vấy đất của đứa bé nghịch ngợm in dấu vào một bức tranh đồng cỏ. Tự nhiên tôi cảm thấy ngột ngạt, cồn cào dù bầu không khí lúc này đã phần nào dịu mát. Tôi bần thần, người toát mồ hôi, những lời kể của ông Kavin gợi nhớ đêm giao thừa năm xưa. Hình ảnh cái đêm giao thừa Mậu Thân khủng khiếp ấy bỗng ào ạt hiện về.

Những ngày trước Tết 68, người ta nghe nói đã có lệnh “ngừng bắn để cho dân ăn Tết” giữa hai bên, vậy mà sau đó người dân miền Nam lại phải ăn Tết trong cảnh máu lửa kinh hoàng. Ba giờ sáng mồng một Tết tôi và một người bạn từ Nha Trang ngồi xích lô ra bến xe miền Trung để về quê ăn Tết. Trên đường đi chúng tôi thấy xác pháo ngập đường Độc Lập, tiếng pháo vẫn còn “Tạch! Tạch! Đùng! Đùng!” và tiếng súng lớn mà chúng tôi cứ tưởng là pháo đại cũng “Ầm! Ầm!” khắp mọi nơi. Chúng tôi nào biết thành phố đã bị tấn công, nên cứ mãi trầm trồ là chưa có năm nào tiếng pháo giao thừa lại nổ rầm rộ và kéo dài đến gần sáng như năm này. Từ đường Độc Lập chạy xuống hướng chợ Đầm, dưới ánh đèn đường thỉnh thoảng có những vật hay đống gì đó đen đen nằm lù lù dọc theo hè phố. Khi ra đến đường Phan Bội Châu thì trời đã sáng dần, và chúng tôi hoảng hốt nhận ra những đống đen đó là những xác người bị bắn chết bỏ nằm rải rác trên lề đường. Ra đến bến xe thì gặp phải đánh nhau, súng nổ bốn phương tám hướng, cuối cùng chúng tôi phải hối xe chạy bán sống bán chết để quay về.

Tuy sự chết chóc ở thành phố Nha Trang trong sự kiện Mậu Thân chưa đến nỗi khủng khiếp kinh hoàng như những gì nhà văn Nhã Ca đã đối diện ở Huế khoản thời gian đó và tường thuật trong quyển hồi ký “Giải Khăn Sô Cho Huế” của bà, nhưng nó cũng đã làm cho tôi gặp ác mộng hằng đêm sau ngày ấy. Thật là kinh khủng.

“Anh chị biết không?” Ông Devin lên tiếng sau phút im lặng. “Vì còn thức nên chúng tôi là những người ra ngoài sớm nhất trong khi các phòng khác còn đang mặc trang phục và la hét nhốn nháo trong phòng. Chúng tôi cùng nhau bước về hướng bên trái, là nơi có những lô cốt chống đạn xây bằng bao cát, để chuẩn bị phòng thủ. Trời lúc này vẫn còn tối và lạnh. Đi được mấy bước, thình lình tôi thấy một người con gái mặc áo dài tím xuất hiện ngay trước mắt tôi. Cô ta đưa tay ra chận lại và hét lên: “Stop!” Đừng đi! Rồi cô biến mất. Nhìn quanh nhìn quất cũng không thấy cô ta đâu, tôi giật mình chụp lấy tay thằng bạn Mike. “Cô ta là ai thế?” Tôi hỏi nó. Thằng bạn tôi ngơ ngác, rồi phì cười: “Mày nói cái gì vậy Devin? Cô nào? Mới có mấy tiếng rốc kết mà mày đã hoảng loạn như thế rồi sao?”

Ông Devin nói người bạn tên Jack cũng cười nhạo ông, dù ông quả quyết đã chính mắt nhìn thấy rõ ràng cô gái đó dưới ánh đèn lờ mờ của căn cứ. Tuy chưa bao giờ tin là có ma, nhưng cô ta biến mất một cách nhanh chóng như thế cũng làm Devin cảm thấy rờn rợn, dựng tóc gáy. Và ông bỗng rùng mình trong đêm tối khi bước theo hai người bạn. Hiện tượng kỳ lạ đã làm cho ông phân tâm, quên đi sự lo lắng về mấy quả pháo kích.

“Chúng tôi tiếp tục bước,” Ông Devin kể tiếp, “khi đến gần một chiếc xe Jeep đang đậu thì cô gái áo dài tím lại hiện ra. Tôi dụi mắt thật mạnh để biết là mình không mơ ngủ. Lần này thì tôi thấy cô gái đang bay lơ lửng, vạt áo dài tím phất phơ bên trên đôi chân cụt lủn máu chảy ròng ròng, hai tay cô vung vẩy trước mặt tôi, và cô gào lên thảm thiết: “Đứng lại! Đừng đi!”

Devin bỗng lắc đầu thật mạnh, như xua đi những hình ảnh thảm thương mà ông vừa nhớ lại. Ông bưng ly nước lên hớp một ngụm rồi đặt chiếc ly xuống bàn, cố gắng nuốt một cách khó nhọc như người đang mắc nghẹn:

“Tôi hoảng quá, biết là mình đã gặp ma thật rồi. Không kịp suy nghĩ, tôi vội vàng chụp tay hai thằng bạn lôi ngược lại, vừa lúc tiếng đạn rốc kết bay xé gió rít lên trên không “Hú…ú…ú…ú…” và chúng tôi chỉ kịp nhào xuống phía sau chiếc Jeep thì “Boooom!” một tiếng nổ long trời lở đất vang lên ở gần bên, tôi bị hất tung lên rồi bắn ra xa, và không còn biết gì nữa.”

– Trời! Tôi và nhà tôi cùng kêu lên thảng thốt. -Rồi bạn ông và ông có bị thương không? Tôi vội vàng hỏi.

“Jack bị thương rất nặng, sém chút nữa thì nó đã đi chầu trời, thằng Mike thì gãy chân và một cánh tay. Tụi nó được trạm y tế dã chiến trong căn cứ tận tình cứu chữa và cầm cự đến hơn hai mươi ngày mới được đưa đi bệnh viện. Riêng tôi bị ngất xỉu một ngày đêm, nhưng như một phép lạ, tôi chỉ bị thương ở những phần mềm, vì tôi văng trúng cái thùng container bằng giấy cát tông và mấy cái bao cát.”

“Oh my God!” -Trời ơi! Như vậy là cô “Ma” đó đã cứu các ông rồi! Tôi kêu lên trong sự ngưỡng mộ, ma người Việt mà cũng có lòng nhân, đã giúp cứu mạng mấy người lính Mỹ. Thật là kỳ diệu.

Ông Devin đột nhiên ngồi sững, hai tay ôm lấy đầu nhìn vào khoảng không trước mặt, mắt lộ vẻ đau đớn cùng cực. Được một lúc, ông bỏ tay ra và nói nho nhỏ, gần như là thì thầm với chính ông:

“Cô ấy là Thơ, vợ tôi. Nàng đã bị giết trong đêm giao thừa, buổi tối trước lúc chúng tôi bị tấn công.”

Tôi tròn mắt, không thể tin được những gì mình vừa nghe:

– Trời đất! Nhưng làm sao mà ông biết được chính xác như thế chứ?

Ông Devin thở dài:

“Mãi đến gần một tháng sau, đúng hơn là hai mươi tám ngày sau, sau khi quân đội Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa lấy lại được toàn bộ thành phố Huế, tôi mới liên lạc được với gia đình Thơ. Họ cho tôi biết, hôm tối ba mươi, chiếc xe lam chở vợ tôi và hai người bạn của cô ấy cùng nhiều người khác nữa, trên đường đi chùa về thì bị trúng một quả đạn súng cối, mọi người trên xe đều chết hết.” Và ông bỗng nấc lên: “Tối hôm đó Thơ cũng mặc chiếc áo dài màu tím và mảnh đạn đã cắt mất đôi chân của nàng…”

– Tôi thật xin lỗi. Tôi nói, nước mắt tôi ứa ra. – Linh hồn cô ấy quả linh thiêng, đã hiện về để cứu ông và mấy người bạn. Chắc bây giờ cô ấy đang ở trên thiên đàng, xin ông cũng đừng buồn.

Ông Devin ngồi thẫn thờ, hình như không nghe những lời tôi nói. Ông lại lần nữa mân mê chiếc nanh heo rừng trên cổ. Có lẽ ông đang hồi tưởng lại thời kỳ yêu đương nồng thắm với Thơ, thời kỳ yêu đương cách nay đã hơn bốn thập niên, nhưng nó vẫn còn sôi sục trong lòng người cựu chiến binh cho đến tận bây giờ. Không biết chiếc nanh heo này có thật sự linh nghiệm hay chăng, nhưng tôi tin chắc một điều, là nó đã được hòa quyện tình yêu bất diệt của cô gái Huế, và tình yêu ấy đã cứu mạng ông Devin.

Ba người chúng tôi cùng ngồi bất động thật lâu cho đến khi trời xẩm tối. Đèn đường đã bật sáng, ban nhạc đã ngừng chơi tự lúc nào, thực khách lục tục đứng dậy ra về, và người ta bắt đầu xếp dù, thu dọn bàn ghế.

Khi vợ chồng tôi và ông Devin đứng lên thì mọi người cũng đã về gần hết. Chúng tôi băng qua khu vực bãi đậu, ra ngoài đường để lấy xe. Hàng cây maple vô tư phe phẩy xạc xào trước ngọn gió đêm mát rượi, bầu trời hè buổi tối trong xanh, rải rác những vì sao lấp lánh, và thoang thoảng đâu đây trong không khí mùi hương hoa dạ lý ngọt ngào. Một buổi tối thật yên bình, nhưng tôi biết trong lòng người cựu chiến binh Devin đang dậy sóng. Tôi thở dài, nhìn ông cúi đầu lầm lũi bước đi.

Phương Hoa

CÁI NANH HEO RỪNG (Xuân Vũ)

Kính tặng Anh Chị Tư và Sơn Nam
Lời mở đầu tóm tắt của tác giả: 
(Trích bản thảo truyện lịch sử
 “Giọt Máu Bốn Đời” của Xuân Vũ

Cách đây một năm rưỡi, anh Hứa Hoành có đưa tới nhà tôi hai ông già, ông thứ nhứt là Tướng NHAN MINH TRANG, cựu Tỉnh Trưởng Rạch Giá, người thứ hai là cựu Đại Tá LÂM QUANG PHÒNG, nguyên Tổng Giám Đốc Thanh Niên thời Đệ Nhứt Cộng Hòa. Ông Lâm Quang Phòng vừa bước vào nhà sau anh Trang với nét mặt ngạc nhiên nhưng trên môi lại hé một nụ cười. Tôi ngờ ngợ nhìn anh, như có quen mà không biết quen hồi nào. Thì anh Hứa Hoành hỏi: “Bộ anh (tức Xuân Vũ) không nhận ra ông này sao?” Tôi không lắc mà cũng không gật, vì thâm tâm tôi có nhận là “biết” nhưng không nhớ hẳn.

… Thì ra là anh Lâm Quang Phòng, Chỉ Huy Trưởng của tôi thời tôi làm phóng viên cho tờ báo Quân Khu IX “Tiếng Súng Kháng Địch” còn anh thì làm Trung Đoàn Trưởng, lừng lẫy với danh hiệu “Con Hùm Xám Miền Tây”(tức vùng 11 tỉnh Hậu Giang) trong thời kỳ đánh Pháp. Tôi vốn yêu bộ đội. Còn anh thấy tôi trắng trẻo có vẻ học trò, nên xin với anh Rum – Bảo Việt (tức là Rừng U Minh – viết tắt là RUM) cho tôi đi với anh theo đơn vị tác chiến. Anh Rum cho đi ngay để có những bài phóng sự nóng hổi cho tờ báo. Tôi là bạn học của con trai lớn của ông NGUYỄN VĂN TRẤN, Chánh ủy Quân Khu lúc bấy giờ. Thằng này cũng bỏ trường đi kháng chiến, và cũng ham đi oánh Tây như tôi. Cho nên thấy tôi được đi với Con Hùm Xám thì nó phân bì với bố. Ông Trấn mới hay cái việc anh Rum cho tôi theo “Hùm”, ông bảo anh Rum: “Mầy cho nó đi, rủi “có bề gì” làm sao?” Anh Rum nói: “Nó không chịu ở tòa soạn anh Bảy à!” (ông Trấn thứ Bảy), ổng bảo: “Còn hai thằng Anh Tài và Huy Hà đó, dẫu có đòi, mầy cũng không được cho đi!” Tôi đã sống theo “Hùm” rồi, không bắt nhốt lại được.

Cái thời tôi đi theo anh Lâm Quang Phòng đó, cách đây không lâu lắm, mới có 49 năm thôi. Trí nhớ của tôi đã mòn đi ít nhiều.

…. Trong buổi gặp lại bất ngờ đó, anh (Lâm Quang Phòng) nay đã 84 tuổi, nhắc sơ qua những trận đánh xe tăng ở Giang Thành, những trận ở Phú Quốc, trận đánh Tây ở Kinh Xáng chân núi Trầu với sự hưởng ứng của “ông Cha” (linh mục) Huân, đã làm cho anh nổi danh là Con Hùm Xám miền Tây.

Ngồi với tôi anh nhắc lại những chuyện xưa làm tôi mơ màng như sống trong mộng, những chuyện của chính mình mà tưởng chuyện của ai.

Hôm nay, ông Nguyễn Văn Trấn và anh Rum – Bảo Việt đã qua đời, anh Lâm Quang Phòng còn tại thế với tiếng nói sang sảng như chuông đồng, như tiếng thét xung phong của anh vang lại từ ký vãng xa xôi.

Tôi ghi lại đây một câu chuyện nhỏ của anh – ghi ra cho tôi trong 10 tape recorders mà anh tặng cho tôi với lời dặn “Không được nói cho ai”. Anh dặn như thế vì đời anh là một quyển tiểu thuyết ly kỳ tôi chưa hề thấy ở một cá nhân nào: Khởi đầu là học sinh trường Taberd, kế đó là lấy súng Nhựt đánh Tây, thành lập bộ đội Vệ Quốc Đoàn như Phan Văn Phải, Đồng Văn Cống, Nhàn Râu và những “Hùm Xám” khác, như con Hùm Xám vùng Yên Thế, khắp đất nước trong cuộc kháng chiến chống xăm lăng kéo dài một thế kỷ, nhưng tính anh kín đáo và khiêm tốn anh không muốn nói ra những đóng góp của anh vào cuộc kháng chiến của dân tộc.

Anh Lâm Quang Phòng, con thứ tư của một vị Cai Tổng, từng đi học ở Hà Nội, tứng đánh lộn và học võ Tây, võ Tàu, võ Nhựt, võ Miên, từng được Delatour, Tổng Chỉ Huy Đông Dương phong chức (nhưng anh không nhận), từng chỉ huy Trung Đoàn Vệ Quốc Đoàn, từng được mời giữ trọng trách 2 trung đoàn (Liên Trung Đoàn 124 – 126) của miền Hậu Giang (cũng không nhận) được giao cho nhiều trọng trách khác trong kháng chiến nhưng anh cũng không nhận. Từng được Phan Trọng Tuệ mời mọc v.v… và… cũng không nhận và rồi… từng bị Cộng Sản lên án tử hình và cũng đã từng được Hồ Chí Minh hạ lệnh giảm án và sống đến ngày nay và… v.v…

Một con người mang một trời tâm sự, một pho tiểu thuyết trong lòng nhưng không chịu nói gì hết nhưng nói cho ai nghe ở cái xứ xa lạ này, may mà tôi được nghe. Tôi không thể để ngòi bút tôi nằm im được nữa, tôi phải cố gắng viết ra giấy quyển tiểu thuyết ly kỳ này – gồm có hàng trăm nhân vật nhưChiến Tranh Và Hòa Bình của Tolstoi vậy. Một gia đình Tolstoi toàn công hầu bá tước (Baron – Famille de Noblesse đã được Tolstoi “mượn” để làm nhân vật cho tiểu thuyết của ông).

Ai dám bảo rằng địa chủ, trí thức, tư sản không yêu nước? Ai dám bảo Công Giáo, Phật Giáo, Hòa Hảo, Cao Đài và những tôn giáo khác không yêu nước? Chỉ có Cộng Sản, chỉ có Cộng Sản mới biết yêu nước thôi hay sao? Chỉ có Cộng Sản mới biết chống Pháp giành độc lập thôi sao? Nếu chỉ vậy thì Pháp chưa thua sau Điện Biên Phủ đâu cụ Hồ ạ! Cụ đừng có nhầm.

Cái nhầm cố ý của cụ là cái nhầm quốc tế hóa nước Việt Nam. Cụ chết rồi nhưng cái nhầm đó còn di xú muôn đời. Phải chi cụ chết hồi năm 51 hoặc 54 thì có thể cụ được tôn vinh là anh hùng dân tộc – để bây giờ cụ không phải nằm phơi rốn ở Ba Đình mà nghe dân nguyền rủa hằng ngày là tên phản đồ của dân tộc và để đọc nhũng trang ca ngợi cụ Sào Nam Phan Bội Châu, cụ Phan Châu Trinh, cụ Hoàng Hoa Thám, cụ Thủ Khoa Huân, cụ Nguyễn Trung Trực, cụ Nguyễn Hải Thần.

Tinh thần dân tộc sẽ xóa bỏ được chủ nghĩa Mác ngu xuẩn chớ cái chủ nghĩa này không bao giờ dập tắt nổi Ngọn Lửa Dân Tộc. Bằng chứng là Liên Xô sụp đổ nhưng dân tộc Nga vĩ đại vẫn trường tồn. Bức tường Bá Linh bị san bằng nhưng dân tộc Đức đã hợp nhứt. Xít-ta-lin thắng Hít-le là vì Hồng Quân được võ trang bằng tinh thần dân tộc “L’ Esprit de la Grande Russie” chớ có phải bằng tinh thần Mác-xít đâu! Bà Lady Barbara đã dẫn giải sự việc này trong tác phẩm vĩ đại vô tiền khoáng hậu của làng văn của bà là“Socialisme et Nationalisme” xuất bản năm 1950 ở Canada nghĩa là 50 năm trước khi Liên Xô đổ sụp! Lạ lùng thay một bộ óc đàn bà.

Lâm Quang Phòng là nhân vật chính của thời đại 1945-1954 và là nhân vật của một thời đại mà tinh thần dân tộc là kẻ chiến thắng vinh quang nhứt và là kẻ chiến thắng sau cùng! Le dernier et le gloríeux vainqueur!

Viết đến đây tôi run tay quá chị Bích à, không phải vì giá rét mùa đông ngoại quốc mà vì xúc động nặng nề và Nguyễn Du ngồi dậy trong lòng tôi mãnh liệt.

“Lửa tâm càng dập càng nồng”.

Câu thơ còn lại khi thế gian bị hủy diệt. Tôi cũng mượn trang báo của chị để xin lỗi anh Tư Lâm Quang Phòng (và chị Tư, người đàn bà xứng đáng là con Bà Trưng, cháu Bà Triệu) vì đã không làm tròn lời dặn của anh chị nên đã viết lên báo những dòng này.

Chỉ một mẩu chuyện con con trong đời cậu bé “Taberdien” thôi anh Tư ạ. Còn các phần khác thì sẽ tiếp tục trong “Giọt Máu Bốn Đời’. Cuộc đời thứ nhứt là cuộc đời của nhà chí sĩ tuẫn tiết LÂM QUANG KỴ- chịu chết thay cho anh hùng Nguyễn Trung Trực ở Rạch Giá (hiện có bài vị thờ chung với Nguyễn Trung Trực ở Tà Niên), cuộc đời thứ tư là LÂM QUANG PHÒNG cháu gọi cụ Lâm Quang Kỵ bằng ông cố nội.

o O o

Sáng nay Tư Nghĩnh đi rừng bằng một chiếc xuồng Cui. Binh khí mang theo gồm có giáo, mác, lao, chĩa… Ngoài ra còn có một bầy chó. Theo thứ tự cuộc “hành quân”, trước nhứt phải kể: con chó Đuổi và con Theo. Như tên cúa chúng nói lên, Đuổi và Theo có nghĩa là truy tầm ráo riết, bám sát địch và báo về cấp chỉ huy như trong một cuộc hành quân “lùng và diệt” vậy. Đã xuất quân là nuôi ý chí quyết thắng, nhưng chiến trường không phải là vườn mơ, còn săn bắt không phải là đi dạo.

Chuyến đi này Tư Nghĩnh nhằm diệt gọn hốt nhanh và về lẹ nên chỉ đem theo một lực lượng vừa đủ. Anh để cho thằng Hai, con trai anh bơi lái và chỉ huy con Đuổi con Theo, còn anh bơi mũi và chỉ huy con Giật, con Kềm.

Vô tới ngọn rạch Nhà Ngang anh bảo thằng Hai cho con Theo con Đuổi đổ bộ. Anh cầm giáo bước lên trong lúc thằng Hai ngồi lại dưới xuồng giữ con Giật và con Kềm chờ lệnh anh. Như hai mũi tên vừa bay ra khỏi dây cung cặp trinh sát Đuổi – Theo bay vào trận địa đầy bí mật ở phía trước. Anh dựng cây giáo cán dài hai thước rưỡi vào gốc tràm và móc thuốc rê quấn hút để khỏi sốt ruột. Anh chờ cặp “trinh sát” báo cáo về, có khi cũng phải chờ như chờ đợi người yêu – mười phút bằng thế kỷ – nhưng kỳ này, vừa bập mấy hơi thuốc thì đã nghe “tín hiệu gâu gâu” vọng lại. Chúng đã chạm địch rồi. Anh Tư ném điếu thuốc, chụp lấy cán giáo và quay lại ra lệnh cho thằng con:

– Thả Giật và Kềm ra! – Rồi len lỏi qua lùm bụi lội về phía đang dội lên tiếng của Đuổi và Theo. (Kể từ dòng này, xin gọi Đuổi, Theo, Giật, Kềm như nhũng nhân vật).

Giật và Kềm vọt qua mặt anh và biến mất. Cũng như tên của Đuổi và Theo, Giật và Kềm cũng có nhiệm vụ như tên của chúng. Giật có nghĩa là giật ngược lại, không cho đối tượng chạy tới, còn Kềm là khống chế, cầm chân không để cho nó dễ dàng xoay trở hoặc phản công. Nếu xem Đuổi và Theo là bộ phận tiền sát thì Giật và Kềm là Tả Quân, Hữu Quân của một chiến trận vậy. Tất cả các cánh bủa vây địch, làm cho nó mất sức, rối ren để chờ vị “Tư Lệnh” đến giải quyết tình thế, nhanh hay chậm, đổ máu ít hay nhiều là do tài ba của ông ta.

Nghe tiếng “gâu gâu” lơi lơi ít đượm mùi máu, Tư Nghĩnh đoán đây chỉ là một đối tượng xoàng, không cần phải nhọc sức cho lắm. Nhưng khi đến bãi chiến thì khác hẳn với dự kiến của anh ta. Tất cả Đuổi, Theo, Giật, Kềm đang phủ kín một con heo ước chừng trên một tạ và đang cố lôi nó ra khỏi bụi rậm. Theo lệ thường khi Giật và Kềm đến tiếp nhận đối tượng thì Đuổi và Theo đã hoàn thành nhiệm vụ, chúng có thể đứng bên ngoài xem đồng đội chiến đấu mà “vỗ tay” như xem hát và đánh tín hiệu về cho Tư Lệnh. Nhưng lần này đụng phải một đối tượng ngổ ngáo nên Đuổi lẫn Theo phải lăn xả vào trợ lực cho Giật và Kềm, nên không rỗi mồm để đánh tín hiệu khẩn cấp.

Theo ngoạm ngập một bên nọng, Đuổi đeo dính bên hông trong lúc Giật và Kềm chia nhau trọn phía sườn bên kia, cắn xé, gầm rú hồng hộc làm cho con heo quật qua né lại túi bụi nhừ nát lùm cây mà nó đang đứng như một chiếc khiên khổng lồ để che thân.

Tư Nghĩnh đã hờm sẵn ngọn giáo trong tay. Con mồi trong tầm giáo đâm, nhưng mục tiêu cứ quay vun vút nên anh cứ đi loanh quanh, lui tới, mà không dám đâm, sợ trúng bồ nhà.

Còn con heo bị bốn bộ răng thép càng ngày càng siết chặt. Có lẽ nó biết không thể chạy thoát ra được, nên chỉ tìm cách tứ thủ.

Trong rừng này chỗ nào cũng nhẩm dấu heo ăn bầy hay ăn lẻ, nhưng dù ăn bầy hay ăn lẻ chúng cũng không bao giờ tiếp cứu nhau trong lức nguy nan. Đã vậy lại còn thầm mong cho đồng loại sụp hầm để có cơ hội mở rộng cái vương quốc rừng của mình, cho nên cách tốt nhứt của nó là tự vệ bằng cách vùi địch xuống đất, để thu hẹp mục tiêu tấn công của kẻ thù.

Đất U Minh được cấu tạo bằng những lớp lá mục chồng chất lên nhau và làm phù sa mới bồi, nên chân đất không chắc như nhiều nơi khác ở đồng bằng sông Cửu Long (ngoài ra nó còn có những vùng phập phều gọi là trấp) vì thế con heo đã vùi được một phần thân mình vào trong đất rồi chồm trên hai chân trước và dùng cái mõm dài xọc như vũ khí độc nhứt để đánh trả, nhưng bị địch thủ bám riết nên không phản công được mà chỉ tự vệ và tìm cách trốn thoát.

Thằng Hai cầm cây “lao phụng”[1] trong tay chờ lệnh của ba nó. Bỗng nó la lên:

– Con heo này chỉ có một cái nanh ba à!

– Biết rồi! Heo độc chiếc!… Mầy lùi ra! – Tư Nghĩnh quát.

Heo độc chiếc là heo đi một mình, một thứ hung ác nhứt loài heo. Hơn nữa chỉ còn có một cái nanh. Thi sự hung ác của nó phải gấp bội!

Trong rừng heo chỉ đánh nhau với cọp và cọp chỉ sợ heo. Chúa sơn lâm mặc dầu có bộ vuốt sắc cũng phải kiêng cặp nanh heo. – Con quỉ này đã từng chiến đấu với cọp! Tư Nghĩnh nghĩ.

Trông kia cái mõm nó càng dài ra và để lộ cả răng lẫn nanh.

Nước dãi nó đặc lại đóng hai bên mép như bọt oáp [2] còn trong mắt nó thì rực lên hai ngọn lửa như muốn thiêu sống Tư Nghĩnh.

– Làm sao ba? – Thằng bé con hỏi với giọng không giấu được nỗi lo âu.

Tư Nghĩnh không đáp. Thằng Hai ra một kế hoạch chi tiết:

– Phóng cho nó mũi lao phụng rồi để nó chạy ra khỏi cái hố, rồi cho chó rượt, nghen ba!

Thấy bố vẫn không đáp, nó không dám hỏi nữa nhưng cũng không lùi ra xa hơn, mà chỉ chờ. Nó tin tưởng tuyệt đối ở ba nó. Quả thật vậy, Tư Nghĩnh chưa bao giờ đi rừng mà về xuồng không, cũng chưa bao giờ hứa “bắt thịt” cho ai mà sai hẹn. Ở vùng này nhà nào có đám tiệc thì gia chủ thường đến “đặt thịt” nơi anh – mà phải loại “thịt lớn” như heo, nai cơ, còn thịt nhỏ như trăn, chồn, trút thì tay ngang cũng bắt được, đâu cần phải nhọc công Tư Nghĩnh.

Thấy con heo vùi đít càng ngày càng sâu xuống, Tư Nghĩnh quát:

– Kềm, qua bên này!

Kềm đang đeo bên kia, nghe lệnh chủ, phóng vòng cầu qua bụi rậm ngoạm má trái con heo. Như vậy cái má phải đã bỏ trống. Được giải tỏa nhẹ nhàng, không bỏ lỡ cơ hội, nhanh như chớp heo ta hất tới. Tư Nghĩnh đưa mũi giáo hứng. Cái nọng heo dính vào. Con heo không la mà cứ sấn tới. Tư Nghĩnh đạp cán giáo xuống đất. Nếu gặp một chỗ đất thường thi anh chỉ cần giữ cán giáo ở đó, chờ mũi giáo chạm tim con mồi sẽ ngã quỵ. Nhưng đất lại lún không kềm cán giáo được. Còn con heo bị đau điên tiết nên liều chết rấn tới từng tí một, càng lúc càng gần địch thủ. Trong lúc cán giáo lút xuống đất thì lưỡi giáo đã ngập sâu hơn, nhưng nó vẫn chưa gục. Có lẽ vì cái thân to tướng của nó và vì đất lún hay vì lẽ gì khác mà mũi giáo chưa thọc vào tim nên nó vẫn còn chồm trên hai chân trước. Tuy mồm nó kêu yếu đi nhưng ngọn lửa trong mắt nó vẫn rực lên và chiếc nanh của nó đã kề bên bắp chân Tư Nghĩnh. Anh phải bước lùi lại và ngoặt tay ra sau. Thằng Hai ấn cán lao phụng vào (lúc nãy anh hơi chủ quan, nghĩ không cần đến món bửu bối này). Anh nắm lấy cán dao, chưa kịp đâm thì con Kềm đã bỏ mục tiêu, phóng tới vừa lấy thân nó chắn ngang rồi vừa ngoạm luôn mép con heo, vừa rướn thân lên, hai chân sau chòi đạp tung cả mặt đất, đẩy lùi cái đầu heo ra xa bắp chân của chủ nó. Đó cũng là lúc mũi lao của Tư Nghĩnh đâm lút vào nách con heo rồi anh nhổ tung cán giáo lên, một tay cầm cán giáo một tay nắm cán lao, hét lên như hổ gầm:

– Đuổi, Theo, Giật lôi nó qua!

Ba chàng ngự lâm bốn chân vốn biết nghe lệnh chủ, đồng loạt lôi con heo về một phía.

Ngọn giáo và mũi lao trong tay Tư Nghĩnh như cặp sừng bò mộng húc đổ núi. Cái tảng thịt nặng nề không còn chống chế nữa, từ từ lật qua bên kia xa hẳn Tư Nghĩnh. Kềm cũng bật theo, bụng nó ngửa ra, chân nó chòi lia trong không khí nhưng răng nó vẫn ngoạm cứng.

Một tiếng “è… è…” hắt ra như một tiếng nhạc quái dị cáo chung đời con ác thú… Hai cha con Tư Nghĩnh mổ thịt móc bộ đồ lòng heo đãi “tướng sĩ” ngay tại trận khi xác giặc còn tươi rói. Tư Nghĩnh xắt lá gan ra làm bốn miếng và để trái tim còn thoi thóp trên lòng bàn tay, bảo thằng Hai:

– Con coi nè, mũi giáo đâm toạc tim cho nên nó chết không kịp la.

Thằng Hai đã qua phút kinh hoàng, lấy lại hồn nói:

– Lần trước ba cũng bị một con nái già đánh trầy chân, nhưng ba phải kêu lên, con Kềm mới cắn họng con nái lôi ra, còn lần này, vừa thấy cái nanh kề sát chân ba thì nó đã bổ nhào tới, không đợi ba kêu.

– Ờ.. ờ, nếu không có nó… thì…

– Nhưng mà cái bắp chân của ba đã chảy máu kia rồi!

Tư Nghĩnh nhìn xuống, quả có một đường sướt da. Anh thản nhiên lấy tay quệt qua và bảo:

– Tại nhánh củi xốc chớ không phải tại nanh heo, con à! – Rồi anh xẻ cái tim heo ra. Nhưng anh rất đổi ngạc nhiên, trong khi các cậu kia đã ních hết, lại còn liếm mép đòi thêm thì Kềm lại nằm im. Miếng gan kề trước miệng mà nó không buồn ngó tới.

Anh bảo thằng Hai: “Đâu mầy coi nó có sao không?”

Thằng bé đến ngồi xuống ôm Kềm xem xét khắp mình rồi banh miệng nó ra và la lên:

– Ba ơi, ba! Cái nanh heo ghim trong đốc vọng của nó.

Tư Nghĩnh chạy tới thì thấy y như lời thằng nhỏ. Anh hốt hoảng. Đây là lần đầu tiên anh thấy con chó bị hóc cái nanh heo rừng. Nhưng không phải hóc mà cái nanh cắn lút vô hàm nó. Trời đất quỉ thần ơi!… Tư Nghĩnh kêu lên còn thằng Hai ra bộ như muốn giải thích cho ba nó cái trường hợp lạ lùng như vậy.

– Lúc nãy nó giang chân đẩy lui còn con heo thì hồng hộc ủi tới cho nên cái nanh mới gãy tốt như vậy, ba à!

Thằng bé vạch mõm con heo và nói gọn:

– Gãy sát gốc ba à! – Rồi thằng bé cầm lấy một miếng tim, nhứ nhứ trước mắt con Kềm bảo: -Ăn đi Kềm! Sao mầy cứ nằm im hoài vậy? Ăn đi… sẽ hết đau!

Nói xong nó xốc Kềm lên vai vác ra bến.

Đuổi, Theo, Giật lặng lẽ đi sau. Tư Nghĩnh đứng nhìn, rưng rưng, lẩm bẩm, lắp bắp:

– Con Kềm… thật! Nếu không có nó..

Kềm nằm lim dim trên vai tiểu chủ như bay lâng lâng giữa hương cây. Cho tới lúc này nó mới cảm thấy trọn vẹn niềm đau do một vết thương mang tới. Bỗng nghe chủ nhắc tới tên, Kềm mở mắt ra.

Chập chờn trước mắt cái gương mặt dịu hiền gợi lên trong trí nó cả những chuyện lâu lơ tưởng đã quên, nhưng hôm nay bừng dậy rõ rệt, như nét vẽ, lẫn âm thanh. Lần đó nó đau, chủ nó vỗ về: “Mầy đau tao cũng muốn đau theo mầy nữa đó nghe Kềm!” Bữa nay cái vùng đất lún đã tạo lợi thế cho sự hung ác của con heo độc chiếc. Trông thấy cái nanh heo trắng nhởn sắp chạm tới chủ, nó cũng đau, đau như chính nó đau. Lấy mắt ngó sao đành? Trả ơn cho chủ có nhiều cách nhưng không nên bằng cách ngó. Nó muốn nói, nhưng chuyện lại khó nói. vả lại nó không biết nói. Mà dù nó biết nói, chắc gì nó chịu nói! Vì nói ra không bằng không nói. Nó đinh ninh sớm muộn gì rồi chủ sẽ hiểu bụng nó. Vạn nhất, chủ có không hiểu, thì cũng không sao, không sao cả! Đã có một người hiểu nó. Chỉ một người cũng đủ.

Tư Nghĩnh đã hạ được một địch thủ hung ác nhưng anh không mấy thích thú. Giá đừng có chuyến săn này. Anh không buồn ngó lại bãi chiến nát nhừ nơi nằm phơi cái xác nhầy nhụa máu tươi, trống phộc không còn tim gan.

Tư Nghĩnh vụt ném giáo lẫn lao đuổi theo thằng nhỏ. Thấy Kềm mở mắt dau dáu, Tư Nghĩnh bước sải tới đưa tay xoa đầu nó và thầm thì:

– Mầy đau lắm hả con?

Kềm nhắm mắt lại như để tận hưởng sự an ủi của những ngón tay sần sùi chai cứng vì luôn cầm nắm cán lao cán giáo hoặc tuốt vỏ tràm. Không biết chúng có cảm giác gì khi vuốt làn lông mịn màng của nó.

Tư Nghĩnh bỗng vọt tới bảo:

– Đưa cho tao!…. rồi nâng nhẹ đưa Kềm lên vai mình, vác thẳng xuống xuồng, đặt nó nằm trước mũi, lấy mảnh bao bố kê đầu nó nghếch cao lên rồi ngồi bên cạnh, vốc nước rưới lên tấm lưng đẫm mồ hôi, muối đầy bùn đất và lốm đốm máu của Kềm.

… Trên đường về, Kềm nằm khoanh trong lòng chú. Nó vùi trong cơn đau đã bắt đầu thấm. Thỉnh thoảng Tư Nghĩnh quay lại giục thằng bé bơi nhanh rồi rù rì với Kềm. Nó mơ màng cảm thấy những ngón tay quào nhẹ như gió lướt trên lưng nó. Qua tiếng nước reo triền miên ở mạn xuồng, nó mơ hồ nghe lại giọng nói thân thiết ngày nào, tưởng đã quên.

Đang bơi, bỗng Tư Nghĩnh nghe nóng hổi như bị một cục than nhỏ chạm ở bắp chân. Anh nhìn xuống vết trầy: máu đã khô. Giọt nước mắt của Kềm vừa rơi trên đó. Nó khóc. Kềm khóc thật, giọt nước mắt của một loài vật trung tín nhứt các loài.

Anh đưa tay quẹt ngang, vội vã. Rồi quay lại quát khẽ:

– Nhanh lên con!

Thằng Hai đè Giật nằm bẹp xuống và rướn cổ qua Đuổi, Theo, hỏi:

– Con Kềm có sao không ba?

– Đã bảo nhanh lên, đừng hỏi nữa! – Tư Nghĩnh quát trong sự nghẹn ngào, tay bơi lia lịa, không biết Kềm đang ngóc cổ lên. Nó từ từ mở mắt ra nhìn chủ mà thấy cả trời lấp lánh qua vòm lá xanh đan bít trên cao.

Bất giác Tư Nghĩnh gác dầm và gục đầu xuống với những tiếng không thốt ra, chỉ Kềm nghe được bằng đôi tai thính như lá rừng.

Chú thích:

[1] Một loại dao có ba phần: 1) Mũi bằng sắt có ngạnh, thân bọng. 2) Cắm một cái cán bằng gỗ dài chừng hai thước rưỡi. 3) Một sợ dây thừng thật chắc dài chừng một thước, nối liền mũi và cán. Khi phóng ra, mũi sẽ lút vào thịt con mồi. Con mồi chạy mũi tên sẽ dính trong đó bằng cái ngạnh trong khi mũi sút ra khỏi cán. Con mồi vẫn chạy nhưng cái cán vướng vào cây cỏ ở hai bên đường nên không thể chạy nhanh được.

[2] Một loại côn trùng ban đêm thường tiết ra trên cành cây một loại nước như bọt xà phỏng.

xuanvu_sign

(Lê Thy đánh máy lại từ tập “TRUYỆN 12 CON GIÁP” của Xuân Tước và Xuân Vũ)

Đốt Nanh Heo Rừng Xem Có Cản Lửa Như Lời Đồn

Image result for Chiếc Nanh Heo Rừng

HÁT GIANG TRƯỜNG HẬN

Tung Thanh Thai shared a post.

HÁT GIANG TRƯỜNG HẬN

Đêm khuya âm u
Ai khóc than trong gió đàn
Sóng cuốn Trưng Nữ Vương
Gợi muôn ngàn bên nước tràn
Hồn ai đang thổn thức trên sông
Hồn quân Nam đang khóc non sông
Sát khí ngất đất bao lớp thây muôn bóng huyền
Không gian như lắng nghe bao oan hồn
Đang xao xuyến xót thương hai Nữ hoàng tuẫn thân
Dù mạng vong lửa hờn chưa tan
Làn sóng đang thét gào gió vang tiếng nguyền cùng gươm đao
Nguyện cùng sông đẫm máu
Tấm thân nát không nao
Nhìn thấy quân Hán dày xéo
Sông núi nhà dòng châu rơi
Khắp nước non mờ tối dưới trời
Nào ai yêu nước nhà
Vì giống nòi vì hận thù
Làm sao đưa dân qua cơn đau khổ
Người Nam anh dũng quyết dâng đời sống cho non sông
Liều mình vào tên khói
Cùng người thù ta quyết không đạp đất chung
Trai hùng tráng lúc quốc biến xả thân
Lấy máu nóng cứu dân khỏi hồi nguy nan
Chí hiên ngang
Bao năm công đức
Xây đắp nên non nước nhà
Sóng gió nguyện khắc trong
Tấm quốc dân không xóa nhòa
Vì đâu vua Trưng nữ ra quân
Vì non sông tử tiết vong thân
Nước cuốn réo rắt như thiết tha gọi quốc hồn
Thiên thu trên Hát Giang vang tiếng lòng
Dân đau đớn khóc giang san phải hồi ngửa nghiêng
Cùng nhau khấn non nước thiêng liêng.

Tung Thanh Thai The Battle of Dien Bien Phu (French: Bataille de Diên Biên Phu pronounced; Vietnamese: Chiến dịch Điện Biên Phủ, IPA: [ɗîəˀn ɓīən fû]) was the climactic confrontation of the First Indochina War between the French Union’s French Far East Expeditionary Corps and Viet Minh communist revolutionaries. It was, from the French view before the event, a set piece battle to draw out the Vietnamese and destroy them with superior firepower. The battle occurred between March and May 1954 and culminated in a comprehensive French defeat that influenced negotiations underway at Geneva among several nations over the future of Indochina.

As a result of blunders in French decision-making, the French began an operation to insert, then support, the soldiers at Điện Biên Phủ, deep in the hills of northwestern Vietnam. The operation’s purpose was to cut off Viet Minh supply lines into the neighboring Kingdom of Laos (a French ally), and draw the Viet Minh into a major confrontation in order to cripple them. The plan was to resupply the French position by air, and was based on the belief that the Viet Minh had no anti-aircraft capability. The Viet Minh, however, under General Võ Nguyên Giáp, surrounded and besieged the French. The Viet Minh brought in vast amounts of heavy artillery (including anti-aircraft guns). They managed to move these bulky weapons through difficult terrain up the rear slopes of the mountains surrounding the French positions, dig tunnels through the mountain, and emplace the artillery pieces overlooking the French encampment. This strategic positioning of the artillery made it nearly impervious to French counter-battery fire.

The Viet Minh opened fire with a massive artillery bombardment in March. After several days the French artillery commander, Charles Piroth, unable to respond with any effective counter-battery fire, committed suicide. The Viet Minh occupied the highlands around Điện Biên Phủ and bombarded the French positions. Tenacious fighting on the ground ensued, reminiscent of the trench warfare of World War I. The French repeatedly repulsed Viet Minh assaults on their positions. Supplies and reinforcements were delivered by air, though as the key French positions were overrun, the French perimeter contracted and the air resupply on which the French had placed their hopes became impossible. As the Viet Minh antiaircraft fire took its toll, fewer and fewer of those supplies reached the French. The garrison was overrun in May after a two-month siege, and most of the French forces surrendered. A few of them escaped to Laos. The French government in Paris then resigned, and the new Prime Minister, the left-of-centre Pierre Mendès France, supported French withdrawal from Indochina.

The war ended shortly after the Battle of Điện Biên Phủ and the signing of the 1954 Geneva Accords. France agreed to withdraw its forces from all its colonies in French Indochina, while stipulating that Vietnam would be temporarily divided at the 17th parallel, with control of the north given to the Viet Minh as the Democratic Republic of Vietnam under Ho Chi Minh, and the south becoming the State of Vietnam, nominally under Emperor Bảo Đại, preventing Ho Chi Minh from gaining control of the entire country.

Date

13 March – 7 May 1954

Viet Minh is the true name of all The true Vietnamese.

Viet Cong was the name given to Vietnamese Communist by the USA.

The American lost to the Viet Cong supported by the Russian and the Chinese communist. 2 VS 1 for sure and certain the USA lost the undeclare war to Viet Cong.

In January 1966 the People’s Army of Vietnam (PAVN) attacked the base with 120mm mortars and intelligence indicated that a PAVN buildup was taking place around the base. In March MACV instructed the III Marine Amphibious Force (III MAF) to plan a 1 battalion security operation around the base. On 27 March 3rd Marine Division commander MG Wood B. Kyle ordered the 4th Marine Regiment at Phu Bai Combat Base to deploy the 1st Battalion, 1st Marines and supporting artillery and mortar batteries to Khe Sanh. 1/1 Marines commander Lt. Col. Van D. Bell flew into Khe Sanh to plan his deployment and found the Special Forces there to be nervous and leaving all patrolling outside the perimeter to Nùng forces. On 3 April the operational order for Operation Virginia was issued, with the operation to begin on 5 April. On 4 April an advance unit was landed at Khe Sanh, but the arrival of the rest of the force was delayed by bad weather and the effects of the Buddhist Uprisingand it wasn’t until 18 April that VMGR-152Lockheed Martin KC-130s were able to complete the deployment. The plan called for sequential sweeps to the northeast, northwest and then southwest of the base. On 19 April HMM-163 helicopters landed the headquarters unit and Company C in a blocking position 6km north of the base and then landed Companies A and B 9km further east, Companies A and B then swept west meeting no PAVN and joined up with Company C on 21 April and the force then returned to the base. Reconnaissance patrols of the northwest sector indicated no PAVN presence and so the 2nd phase of the operation was cancelled. III MAF then ordered 1/1 Marines to march east along Route 9 which had been closed for several years to determine if there was any PAVN buildup south of the DMZ. The artillery unit was moved to Ca Lu to cover Route 9 and on 1 May the 1/1 Marines completed the 30 miles (48 km) march from the base to Cam Lộ encountering no PAVN.  

Khe Sanh Combat Base
Fighting began there in late April 1967 with the hill fights, which later expanded into the 1968 Battle of Khe Sanh. U.S. commanders hoped that the PAVN would attempt to repeat their famous victory at the Battle of Dien Bien Phu, which would permit the U.S. to wield enormous air power. Boeing B-52 Stratofortresses alone dropped more than 75,000 tons of bombs on the PAVN 304th and 325th Divisions encroaching the combat base in trenches.  

On April 1, 1968, the U.S. Army’s 1st Cavalry Division launched Operation Niagara to break the siege of the base. All three brigades from the 1st Cavalry participated in this vast airmobile operation, along with a Marine armor thrust.

The defense of Khe Sanh commanded international attention and was considered the climactic phase of the Tet Offensive. On July 5, 1968, the combat base was abandoned, the U.S. Army citing the vulnerability of the base to dug-in enemy artillery positions in neutral Laos and the arrival of significant airmobile forces in I Corps (1st Cavalry and 101st Airborne Divisions). However, the closure permitted the 3rd Marine Division to conduct mobile operations along the DMZ.

In 1971, Khe Sanh was reactivated by the U.S. Army (Operation Dewey Canyon II) to support Operation Lam Son 719, the South Vietnamese incursion into Laos. It was abandoned again in early April 1971.

On 27 January 1972 a U.S. Air Force Lockheed AC-130 gunship was shot down by a PAVN SA-2 missile over the base. 

In March 1973, American intelligence reported that the PAVN had rebuilt the airstrip at Khe Sanh and were using it for courier flights into the South.

Khe Sanh base, 1968  

Khe Sanh Combat Base can be visited daily as part of tours starting in Huế. Most of the base is now overgrown by wilderness or coffee and banana plants. In a small museum on base historical pictures and weapons are shown. Additionally a C-130, Boeing CH-47 ChinookBell UH-1 Iroquois, artillery and armor, restored bunkers and portions of the airstrip are visible.   

Mohindar Singh Thanks for the valuable information.

RIP soldiers!

Khúc kèn truy điệu
Memorial Day là một ngày lễ liên bang tại Hoa Kỳ, diễn ra vào ngày Thứ…

Anh hùng và kẻ phản bội

CON TRAI CỦA “NGƯỜI Ở LẠI CHARLIE” VIẾT VỀ BỐ