Chiếc Nanh Heo Rừng

Tác giả: Phương Hoa

Tác giả sinh năm 1950, đến Mỹ năm 1994 diện tị nạn chính trị theo chồng, hiện sống ở Bắc Cali. Tốt nghiệp đại học ngành Early Childhood Education (giáo dục nhi đồng) tại Chapman University miền Nam California hồi tháng 5, 2012 khi tròn 62 tuổi, đang volunteer tại một trường học ở Marysville trong khi chờ đi dạy. Phương Hoa đã nhận giải Danh Dự Viết Về Nước Mỹ 2013 và tiếp tục viết nhanh, viết khoẻ. Sau đây là bài viết mới nhất của bà.

* * *
Nó hình cong lưỡi liềm, dài chừng bảy phân tây, đầu mũi nhọn hoắt, đầu gốc vun vun dẹp được bọc bạc và chạm trỗ dày đặc hoa văn, sáng trắng đồng màu với sợi dây chuyền. Tòan thân nó bóng loáng màu ngà, nhưng khoảng giữa có điểm những đường vân nâu sậm vắt ngan xeo xéo. Nó được đặt trên chiếc khăn trắng nằm cạnh hồ bơi, khăn của trung tâm thể dục, cùng với cái bình nước nhỏ màu xanh loại có gắn ống hút.

Đó là lần đầu tiên tôi nhìn thấy nó, trong lúc ngồi chờ xem có ai đó “get out” khỏi hồ bơi, để tôi…nhào vô. “Racquet & Health Club” là trung tâm thể dục rất lớn, tọa lạc tại một vùng gần ngọai ô thành phố Yuba, xung quanh có nhiều cây maple (cây thích) và những khóm hoa dạ lý. Trung tâm có đầy đủ các lọai dụng cụ thể dục, nhiều sân Tenis, phòng tắm hơi, tắm nắng, bốn hồ bơi và hồ “Spa” đấm bóp nước nóng, nước lạnh, trong nhà và cả ngoài trời. Mỗi hồ bơi được chia ra bốn làn đôi có ngăn dây nổi, mỗi làn cũng được chia hai bằng một vạch sơn đen dưới đáy hồ, đủ chỗ cho hai người bơi chung. “Nếu anh chị thấy trong làn chỉ có một người bơi, thì anh hoặc chị có thể vào bơi “share” với họ,” người quản lý đã nói trong ngày đầu chúng tôi đến ghi danh. Tuy đã gần cuối mùa hè và trời cũng chớm sang thu, nhưng khí hậu vẫn còn oi bức, có ngày nhiệt độ đến trên chín chục nên hồ bơi là chỗ hấp dẫn nhiều người, đôi khi không đủ chỗ.

Bơi lội là sở thích của tôi vì tôi đã sống và lớn lên ở thành phố biển Nha Trang từ thời “tuổi ngọc.” Cho đến bây giờ, mỗi lần nhào xuống biển hay hồ bơi là tôi như “cá gặp nước,” vùng vẫy lung tung, phải được một mình một cõi bơi tự do, bơi ào ào thì mới “đã,” chứ bơi chung với ai đó cứ phải từ từ, len lén sợ nước văng làm phiền thiên hạ tôi thà là… ở nhà sướng hơn. Hơn nữa, sau mấy tháng tập trung vào kiểu bơi sải vận động toàn thân, cái lưng đau của tôi đã được điều chỉnh rất nhiều nên tôi cố gắng “lôi” ông xã đến trung tâm hầu như mỗi ngày. Khi nào hồ bơi đông người, tôi ngồi trên dãy bờ tường thấp ngăn giữa hồ bơi và hồ nước nóng “Spa” chờ có người ra trống chỗ để tôi vào bơi một mình cho thoải mái. Nhờ vậy mà tôi mới có dịp nhìn thấy chiếc nanh heo.

Ngày xưa trong thời kỳ chiến tranh, tôi đã từng nghe nói có nhiều người qua tận bên Miên để tìm mua nanh heo rừng về đeo. Trừ những tay anh chị giang hồ đeo nanh heo rừng để “làm oai,” phần lớn người ta tin tưởng đeo nó sẽ mang lại may mắn và nhất là giúp cho sự an toàn, bảo vệ tính mạng tránh khỏi “tên bay đạn lạc.”

Tôi còn nhớ khi tôi còn nhỏ, ở xã tôi có một người làm nghề pháp sư tên Kỵ, thường được người ta rước đi chữa bệnh tà, cúng đất, cúng cầu an cho gia đạo. Một lần ông ấy đến cúng đất cho người hàng xóm gần nhà tôi, ông có đeo chiếc nanh heo trên cổ. Tôi và đám con nít xúm lại coi và sợ hãi tản đi khi thấy ông làm phù phép, dùng sơn đủ màu vẽ những “ông tướng” mặt mày dữ tợn rồi đem “trấn” ở bốn góc rào nhà ông hàng xóm. Từ đó mỗi lần đi học ngan qua chỗ mấy ông tướng ngồi, nếu không có ai đi cùng thì tôi nhắm mắt chạy thục mạng, cố vượt qua khỏi chỗ “các ngài” càng nhanh càng tốt.

Buổi tối hôm đó sau khi xong lễ, mọi người đến ăn cỗ xúm lại ngồi quanh đàm đạo cùng ông thầy. Bọn con nít chúng tôi cũng lao nhao trong nhà bếp rập rình hóng chuyện. Ông thầy Kỵ đã rất tự hào về chiếc nanh heo rừng mà ông cho là linh thiêng, đem lại “quyền lực” và “đạn bắn không trúng” của ông. Ông ta nói đó là chiếc nanh “Heo Rừng Rủ” rất quí hiếm, độc nhất vô nhị, vì nó là nanh của “heo rừng thành tinh” và rụng tự nhiên mà người thầy Miên của ông đã “yểm bùa” vào trước khi tặng ông, chứ không phải được lấy từ heo rừng săn bắn. Ông còn kháo rằng nó đã cứu ông thoát chết nhiều lần, đạn bắn vào ông không trúng, cà nông nổ gần kề cũng “chả ăn thua.”

Có phải thật sự chiếc nanh heo rừng đã “phò trì” cho ông ta hay chăng thì không ai dám chắc, nhưng người ta thấy ông ấy sống an nhàn tự tại hành nghề “phù thủy” và sau 75 vẫn ung dung làm thầy cúng cho đến hết đời mà không một lần bị bắt bớ, dù cũng có nghe chính quyền mới nhiều lần đến “bố ráp” ông. Người ta đồn rằng “ông heo rừng” thành tinh đã che mắt “mấy ổng” để cứu ông thầy.

Không ngờ bây giờ ở Mỹ mà cũng có người đeo nanh heo rừng. Tôi thích thú nghĩ thầm rồi tẩn mẩn quan sát xem ai là chủ nhân của nó. Dưới hồ ngay chỗ để chiếc nanh heo, một tay bơi có mái tóc ngắn bạc trắng muối tiêu đang sải tay vun vút, lặn hụp nhịp nhàng làm nước văng tung tóe sang cả những làn bơi bên cạnh. Tôi căng mắt ra nhìn, cố đoán xem đó là nam hay nữ, nhưng không thể. Người ấy bơi liên tục không nghỉ tay, bơi giáp đến bên này là hụp ngay xuống để trở đầu, đạp tống vào thành hồ, vút một cái đã thấy cách bờ hồ xa lắc, y hệt một tay bơi Olympic. Quan sát một hồi, tôi cũng chỉ có thể thấy loáng thoáng được cái đầu tóc muối tiêu, hai cánh tay áo ngắn màu nâu nâu đỏ, đôi kiến lội (goggle) đen ngòm ngòm, và đôi chân nhái xanh màu mực vung vẩy giữa đám bọt nước trắng xóa.

Bỗng bên góc trái có một bà trèo lên khỏi hồ. Tôi vội vàng đứng dậy, bước lại chỗ vòi nước lọc, uống vài ngụm rồi phóng ùm xuống hồ và bắt đầu bơi. Thường thì tôi bơi tính đủ mười “lap” tức là bơi qua lại hai chục vòng, sau đó ôm miếng xốp bơi nhẹ bằng chân, thư giãn trong vòng mười lăm phút nữa rồi qua hồ nước nóng “Spa” để cho nó “đấm lưng.” Nhưng hôm ấy dù cố gắng cách nào tôi cũng không thể tập trung đếm “lap” được vì mắt tôi cứ mãi dán vào cái làn bơi “nanh heo” ở cuối hồ. Người ta nói “đàn bà là chúa tò mò” quả không sai. Thật là kỳ cục. Không dưng tôi lại quan tâm, muốn biết mặt chủ nhân của chiếc nanh heo để làm gì nhỉ. Tôi cố gắng đến hụt hơi, bơi theo cùng chiều với “người bên ấy” nhưng không tài nào bắt kịp, chỉ qua được nửa đường thì người ta đã “lộn mèo” trở lại, liên tục không dừng lấy một lần. Tôi thầm phục cho sự dẻo dai của tay bơi.

“Ngược xuôi tơi tả,” hết bơi lại rồi lại bơi qua, cho đến khi tôi đuổi kịp về nơi bắt đầu thì cũng là lúc người đó ngừng bơi, đứng lên chống hai tay thót ngược ngồi vắt vẻo trên bờ hồ. Thì ra đó là một “lão bá bá.” Ông ta gỡ cặp kiến lội ra, chộp lấy chai nước nút lấy nút để như một đứa bé bú bình. Tôi cũng dừng lại, vừa thở vừa làm động tác lội bộ vừa nhìn sang chỗ ông ta.

Người này trông chưa già lắm, nhưng có lẽ cũng đã quá sáu mươi, mặc quần sọt hoa nâu màu lính, và cái mà tôi tưởng là “tay áo” lại là những hình xâm dày đặc trên hai cánh tay, từ vai chạy dài xuống đến khuỷu tay. Dáng người gọn gàng, khuôn mặt xương xương, chóp mũi nho nhỏ đỏ hoe vì lạnh, mắt sâu, hàm râu quai nón được gọt tỉa kỹ càng nhưng đã mọc ra lún phún làm khuôn mặt ông trông xanh kìn kịn và “ngầu” như tài tử cạo gội Al Pacino.

Uống nước xong, ông ta chống hai tay lên bờ hồ thở dốc, làm như đã nhịn thở trong thời gian bơi liên tục vừa qua. Quần tắm hoa rừng, râu quai nón, tay chân mình mẩy đầy lông, những hình xâm rậm rạp, tất cả những thứ ấy gộp lại làm cho ông ta nhìn giống hệt một “bác” King Kong đang ngồi thư giãn trên cành cây sau một hồi “quần nhau” với đồng lọai.

Được một lát, người đó rút đôi chân nhái bỏ sang bên cạnh, nhặt sợi dây chuyền nanh heo lên, tay kia lấy khăn lau tóc lau mặt xong thì đeo nó vào cổ. Bất chợt ông ta cầm lấy chiếc nanh heo đưa lên môi hôn một cái rất là trang trọng, giống như người ta hôn cây thánh giá, rồi đứng lên vơ vội chiếc khăn và mọi thứ, bước nhanh qua phía hồ nước nóng “Spa.” Tôi sững sờ nhìn theo. Chiếc nanh heo rừng chắc chắn có một ý nghĩa nào đó rất quan trọng đối với người này. Tôi bèn đặt tên cho ông ta là “người nanh heo,” và bắt đầu theo dõi ông từ hôm ấy.

Tôi thấy ông ta hầu như mỗi ngày ở hồ bơi, lúc nào ông cũng đến vào khoảng 12 giờ trưa, lập lại những động tác quen thuộc, cởi bỏ sợi dây chuyền trên chiếc khăn, xuống bơi một hơi, lên bờ, đeo nó vào và đi qua hồ nước nóng. Điều làm tôi ngạc nhiên là ông ta liên tục chạy qua chạy lại giữa hai hồ nước nóng và nước lạnh. Nước nóng thì quá nóng, còn hồ nước lạnh thì lạnh như đá, thế mà ông ta có vẻ như không thấy lạnh chút nào, nhúng xuống hồ “Spa” một lát thì trèo lên chạy sang hồ nước lạnh và ngược lại.

Tôi có nghe người ta nói, ngâm mình vào hồ nước nóng sau đó nhúng sang hồ nước lạnh sẽ làm cho sức khỏe dẻo dai, da thịt săn chắc, nhưng chưa một lần dám thử. Nhìn ông ta, tôi chợt liên tưởng đến miếng sắt người thợ rèn ở làng tôi ngày xưa trui vào lửa cho đến đỏ lòe rồi đem nhúng vào nước kêu cái xèo và lập đi lập lại cho đến khi miếng sắt thật sự cứng đủ làm ra cái rựa. Hình như nhờ vậy mà ông ta trông khỏe mạnh rắn chắc và nhanh nhẹn so với những người cùng độ tuổi ông mà tôi thường gặp, mập mạp phốp pháp, ngực lép bụng phình, đi đứng rủng rỉnh rung rinh, lờ đờ chậm chạp.

Ông ta nào biết đã bị tôi quan sát kỹ như một thám tử đang theo dõi người bị tình nghi. Rất may nhà tôi không thích ra hồ bơi mà chỉ chăm lo rèn luyện mấy cái bắp thịt của ông ấy bằng cách kéo máy và chạy bộ trên Treadmill chứ nếu không có lẽ ổng cũng “question” về cái vụ tôi cứ “mắt la mày lét” nhìn theo ông Mỹ đó. Nhiều lần tôi muốn lại bắt chuyện làm quen để hỏi về cái nanh heo, nhưng mỗi lần tôi gật đầu chào thì ông ta chỉ gật đầu chào lại, mặt mày lạnh tanh, khó đăm đăm như người “bị bón,” nên tôi cũng ngán. 

Dịp may đến với tôi một tuần sau đó, khi trung tâm tổ chức cuộc thi Tennis thường niên có ăn tối và hòa nhạc. Chúng tôi mua hai vé để sau khi tập thể dục xong sẽ ở lại chung vui, vì cụ chàng nhà tôi cũng có “máu Tennis” đầy người. Đến quá trưa thì một dàn nhạc “dã chiến” được sắp xếp, chuẩn bị ở bãi đậu xe cạnh dãy sân Tennis. Tất cả các sân Tennis và lối đi đều được xịt sơn xanh, màu xanh của mạ giống như sân cỏ thật, nhìn rất mát mắt. Các cây dù lớn màu sắc sặc sỡ được dựng lên rải rác khắp nơi cùng với bàn ghế bày ra bên dưới, và mấy lò nướng “Barbecue” bự chảng nằm ngạo nghễ chênh vênh ở một góc sân đang bắt đầu ngùn ngụt nhả khói, những làn khói thơm lừng mùi thịt nướng hấp dẫn người ta, làm cho ai hít vào cũng phải… chảy nước miếng.

Khi chúng tôi ở hồ bơi ra thì khán giả đã ngồi kín hết các nơi có bóng mát bên ngoài sân Tennis, kể cả trên hai dãy ban công của trung tâm. Vì không còn chỗ trống, chúng tôi phải ra ngoài bãi đậu xe và chọn cái bàn dưới gốc một cây maple cho dễ nhìn vào sân Tennis và cũng khỏi mất công dời đi khi họ phục vụ bữa ăn chiều sau trận đấu.

Chúng tôi thích thú ngồi xem nhiều trận đấu “ác liệt” giữa các đội nhà với nhau, những tay vợt “cây nhà lá vườn” nhưng chơi cũng hùng dũng chẳng kém gì anh em song sinh nhà Mike Bryan và Bob của Mỹ. Các đội nữ chơi cũng đẹp mắt vô cùng. “Xem mấy trận đấu thật là đáng đồng tiền bát gạo!” Ông nhà tôi thích quá nói đùa.

Đến gần chiều, khi các trận đấu vừa kết thúc thì nhạc bắt đầu trổi lên, vui nhộn, rộn ràng, làm cho ai có máu “dancing” cũng phải bước đi nhún nhẩy. Khán giả bây giờ đã trở thành thực khách, ra chọn bàn ngồi và bắt đầu đi lấy thức ăn. Mọi người sắp hàng, thi nhau “gắp kẹp” vào đĩa của mình. Ngoài các món đặc sản của “chú Sam” như thịt nướng “Barbecue,” bơ, phó mát, các lọai rau trộn và trái cây, bữa tối còn hấp dẫn thực khách bằng nhiều món đậu và bánh bắp của người Mễ. Tôi cũng đi chọn mấy món và đem trở lại bàn mình, vừa ngồi xuống thì có một người tay bưng đĩa thức ăn đầy vun, tay bưng ly nước “Brunch” cao nghều bước lại:

– Xin lỗi, tôi có thể ngồi đây không?

Tôi nhìn lên bỗng thấy lòng mừng khôn tả. Người đó là “ông nanh heo.” Tôi từng theo dõi, “săn lùng” ông ta cả tuần nay chờ cơ hội để làm quen, không ngờ bây giờ tự dưng đến đây…nộp mạng! Và điều làm cho tôi “vui hết biết” là ông ta mặc chiếc áo nhà binh loại áo vét sát cánh, quần sọt kaki, và đội chiếc mũ lưỡi trai có hàng chữ “Vietnam Veteran.” Chiếc nanh heo vẫn tòng teng trước ngực. Thì ra ông là một cựu chiến binh Việt Nam! Thảo nào. Bây giờ thì tôi đã có giải đáp cho xuất xứ của chiếc nanh heo ông đang mang trên cổ. Thích thật.

– Ồ, xin ông cứ tự nhiên. Tôi “hồ hởi” nói với ông khi nhà tôi cũng vừa đem thức ăn lại.

Ông ta nói cám ơn rồi ngồi xuống. Cái đĩa của ông đầy thật là đầy, nhưng ngoài mấy miếng thịt nướng ra, còn lại toàn là các loại rau đầy màu sắc, xà lách xanh, cà nút đỏ, ớt bell vàng, nấm trắng, hột ô liu đen, những mảnh bánh mì sấy… và bên trên là một lớp “Dressing” màu sữa đục được tưới ngoằn ngoèo khéo léo nhìn thật bắt mắt. Tay này quả là biết cách ăn uống “healthy,” tôi thầm nghĩ.

Trong tiếng nhạc vui rộn rã, tôi vừa ăn vừa ngầm quan sát người khách cùng bàn. Ông ta dùng nỉa trộn tất cả lại và bắt đầu nhai ngồm ngoàm, cắm cúi ăn không cần nhìn ai, ăn mạnh mẽ như “tằm ăn lên,” chỉ thỉnh thoảng dừng lại uống vài ngụm nước và dùng khăn giấy thấm vào bộ ria mép. Đúng là ăn như…lính ăn! Sau một tiếng đồng hồ bơi liên tục như vậy chắc ông ta đã đói lắm. Ông ăn một hơi cho đến khi sạch đĩa. Nhìn cái đĩa trống trơn của ông ta, tôi chợt nhớ có lần cô bạn Jilly đã nói, người Mỹ họ không thích phung phí thức ăn, dù là đi ăn “Bufett” họ cũng chỉ ăn bao nhiêu thì lấy bấy nhiêu và ăn cho hết chứ không bao giờ lấy thật nhiều để rồi nửa ăn nửa bỏ. Tôi bỗng cảm thấy xấu hổ khi nhớ lại những lần đi ăn “bao bụng” vì “đói con mắt” nên thấy thứ gì cũng muốn thử, lấy cho nhiều rồi “nuốt không vô” đã phải đem vất bỏ. Lần này thì tôi nhất định phải ăn cho hết những gì có trong đĩa của mình.

Ăn xong, ông ta dừng lại lau miệng, đem vất đĩa muổng vào thùng rác, đi lấy một đĩa bánh kem tráng miệng, và trở lại bàn cùng với ly nước trái cây. Nhiều người vẫn còn tiếp tục lấy thêm thức ăn nhưng chúng tôi đã xong và dọn dẹp, trên bàn bây giờ chỉ còn lại mấy ly nước. Ban nhạc chuyển sang chơi một khúc êm dịu. Sau bữa ăn trong buổi chiều hè, ngồi dưới bóng những tàn cây maple, nhâm nhi món nước trái cây hỗn hợp giữa âm thanh của bản hòa tấu êm dịu, thật làm mát lòng người. Bấy giờ thì ông nanh heo” mới nhìn sang chúng tôi:

– Anh chị là “Chinese” hả?

Trời đất. Không biết ông ta “trông gà hóa cuốc” thế nào mà nghĩ chúng tôi là người Hoa nhỉ.

– Không, chúng tôi là người Việt Nam. Nhà tôi trả lời.

Ông ta kêu lên:

– “Really!” -Vậy sao, thế mà bữa giờ thấy chị này hoài nhưng tôi cứ tưởng chị là người Hoa.

Vậy ra ông tưởng tôi người Tàu nên đã “làm mặt lạnh” với tôi sao. Tại sao vậy nhỉ. Tôi cười, chỉ vào chiếc mũ của ông:

– Ông là cựu chiến binh Việt Nam? Chiếc mũ của ông đã nói lên điều đó.

Ông ta gật đầu xác nhận và nói: “Mỗi lần tôi đội chiếc mũ này ra phố, nhiều thanh thiếu niên đã đến chào tôi và nói “cám ơn ông đã phục vụ cho nước Mỹ,” nên tôi thích đội nó.” Trao đổi thêm vài chuyện bâng quơ, ông hỏi chúng tôi có biết chỗ nào bán những loại cây thuốc “herb plant,” dược thảo thì chỉ dùm. Ông cho biết là không thích dùng các loại thuốc Tây “supplement” vì nó có nhiều phản ứng phụ. “Thuốc dược thảo bất quá cũng chỉ là cây lá thiên nhiên, uống vào như mình ăn rau trái, nếu không lợi thì cũng chẳng hại gì,” ông nói.

Tôi thật ngạc nhiên. Không ngờ một người Mỹ lại cũng thích dùng dược thảo như người Á Châu. Tôi ghi cho ông địa chỉ và tên hiệu thuốc Bắc của một người Việt gốc Hoa mà tôi quen ở Sacramento, nói với ông ở đó họ có thầy xem mạch và hốt thuốc chữa bệnh nếu ông cần. Ông tỏ vẻ rất mừng, cám ơn rối rít và tự giới thiệu ông tên Devin.

Trong khi chuyện trò, tôi để ý mấy hình xâm bên cánh tay trái của ông Devin. Giữa những hình lập thể kỳ dị là một hình trái tim màu xanh đậm, và chính giữa là chữ “Tho” màu đỏ được viết rất kiểu cách, phải để ý kỹ mới đọc được. Sau khi tôi nói tên tôi và tên của ông xã, Devin hỏi:

– Anh chị ở vùng nào bên Việt Nam?

– Miền Trung. Nhà tôi nói.

Ông cười thật rạng rỡ:

– Ồ, vậy ra là anh chị ở “Hue” ư? Ngày xưa tôi đã từng làm việc ở Huế từ năm 67 đến 68 đó.

Nhà tôi chưa kịp trả lời thì tôi đã gật đầu để cho qua chuyện, không đính chính, lòng thầm “tính kế” để lái câu chuyện sang chiếc nanh heo rừng mà tôi đã một lần thấy ông trang trọng hôn lên nó, và cái tên “Tho” rất Việt Nam xâm trên cánh tay ông cũng gợi sự tò mò của tôi. 

Thấy tôi gật đầu, mắt ông ta sáng lên, ông nhìn chúng tôi với một vẻ thân thiện lạ kỳ:

– Vậy thì khi sự kiện “TET 68,” trận chiến Tết Mậu Thân xảy ra anh chị có ở Huế không? Ông ta hỏi chưa hết câu thì giọng chùng xuống nghe buồn não ruột.

Tết Mậu thân ư. Có người dân miền Nam Việt Nam nào mà quên được cái “Tết Con Khỉ” đẫm máu, thây phơi chật đất, máu chảy đầy…chùa chiền, đền miếu, nhà thờ, cái Tết mà tiếng pháo mừng Xuân hòa lẫn vào tiếng súng đánh nhau vang rền khắp nơi ấy nhỉ. Tôi lắc đầu:

– Không. Khi ấy chúng tôi đang ở Nha Trang.

Rồi để rời khỏi sự hồi tưởng quá khứ đớn đau trong một buổi chiều vui đẹp và an bình như thế này, tôi bèn lảng sang chuyện khác. Tôi chỉ vào sợi dây chuyền trên cổ ông và hỏi:

– Đây là chiếc nanh heo rừng phải không? Đẹp quá! Ngày xưa bên Việt Nam nhiều người bạn của tôi cũng có mang những chiếc nanh heo như thế này. Ông làm sao có được nó vậy?

– Đúng rồi. Nó là chiếc nanh heo rừng do người vợ Việt Nam của tôi tặng. Nàng ở Huế, tên “Tho,” ông chỉ vào chữ Tho trong hình xâm trên cánh tay: – Nghĩa là “Poem” đó. Nói xong, ông sờ vào chiếc nanh heo, tay mân mê, mắt nhìn xa xăm, vẻ mặt thẩn thờ như đang hồi tưởng về quá khứ.

– Ồ! Tôi kêu lên đầy thú vị. – Vậy ra bà nhà là người Việt Nam sao? Wow! Ông còn hiểu cả nghĩa tên của bà nữa. Đúng rồi! “Tho” nghĩa là “Poem” đó! Tôi lập lại và hỏi: – Ông có thể nào kể chúng tôi nghe về chuyện tình của hai người không? Bà tặng ông chiếc nanh heo này trong trường hợp nào? Bà đến Mỹ cùng lúc với ông hả? Tôi hỏi một hơi không kịp thở. Nhà tôi trợn mắt:

– Cái bà này! Hỏi gì mà tía lia vậy, làm sao ông ấy trả lời kịp chứ!

Dường như ông Devin bắt đầu có cảm tình với chúng tôi và cảm thấy gần gũi khi biết chúng tôi là “đồng hương” của người vợ Việt Nam của ông. Vẻ lạnh lùng trên gương mặt ông bây giờ đã biến mất, cái vẻ lạnh lùng khép kín mà tôi thường bắt gặp mỗi khi nói chuyện với những cựu chiến binh Việt Nam khác. Nếu không quen thân thì mỗi khi có ai hỏi về việc ngày xưa chiến đấu bên Việt Nam họ thường trả lời, “Tôi không muốn nhắc lại.” Có lẽ đã lâu rồi Devin chưa hề có dịp để tâm sự với một ai về Việt Nam.

Nghe tôi hỏi, ông lắc đầu buồn bã:

– “I wish!” Tôi ước gì được như thế! Tho, “Ton Nu Thuy Tho” (chẳng biết là Thụy hay Thùy…?) không phải vợ tôi bây giờ, mà là người vợ trong quá khứ của tôi. Chiếc nanh heo rừng này nàng đã tặng tôi khi chúng tôi vừa mới yêu nhau.

Lòng bồi hồi, tôi ngồi gần như nín thở, đợi ông Devin kể tiếp, làm như thở mạnh sẽ khiến cho tan loãng đi những gì ông ấy sắp nói ra. Trầm ngâm một lúc, rồi có lẽ vì sự xúc động bất ngờ khi gặp lại những đồng hương của người vợ cũ, hoặc vì tác động bỡi bầu không khí êm đềm của buổi chiều hè, ông Devin bằng một giọng trầm trầm bắt đầu kể chúng tôi nghe về chuyện tình của ông và Thơ cô gái Huế, cùng xuất xứ của chiếc nanh heo rừng đã theo ông bốn mươi mấy năm qua…

Năm 1967, chàng trai trẻ Devin được điều sang Việt Nam, chức vụ thiếu úy, là cố vấn quân sự cho quân

đội Việt Nam Cộng Hòa, làm việc ở Huế. Qua giao dịch giấy tờ, Devin được anh bạn Trung úy người Việt Nam giới thiệu làm quen với cô gái xinh đẹp tên Thơ, là người bà con của Tam, khi anh đến Việt Nam được hơn bốn tháng. Thơ là thông dịch viên văn phòng, chuyên dịch văn kiện giấy tờ cho một căn cứ quân sự Mỹ thuộc tỉnh Thừa Thiên.

Chuyện tình của hai người gặp phải rất nhiều sóng gió. Thơ là con gái của một gia đình quyền quí, có họ hàng với vua chúa ngày xưa. Khi biết chuyện hai người yêu nhau, gia đình nàng kịch liệt phản đối, nhất quyết ngăn cấm. Đã từ lâu, từ thời Pháp thuộc, người dân Huế luôn bảo thủ, gìn giữ nề nếp cổ truyền, không muốn con cái lấy vợ lấy chồng ngọai quốc. “Người Huế không thích người ngoại quốc hiện diện trên quê hương họ, Nhật, Pháp, Mỹ gì cũng thế. Cho đến khi sự kiện Tết 68 xảy ra, họ mới hiểu họ cần sự bảo vệ của chúng tôi, và rất đông người đã chạy ùa vào căn cứ Mạc-Vi (MACV Advisory) để nhờ giúp đỡ,” ông Devin nói.

Thơ đã bị cha đánh đập, mẹ rầy la, dòng họ mắng nhiếc, làng xóm xầm xì, vì có người yêu là một anh chàng “mũi lõ.” Nhưng tình yêu của Thơ đối với Devin đã vượt qua cả sự ngăn cấm của gia đình. Điều này thì tôi biết, vì cô bạn thân người Huế của tôi ngày xưa từng nói “Con gái Huế nổi tiếng là lãng mạn và đa tình, khi đã yêu ai thì yêu hết mình, chết cũng không sợ.” Thơ và Devin không dám đi cùng với nhau ra ngoài, họ thường hẹn hò ở những quán bar hay căng tin trong căn cứ quân sự. Hầu hết là do Tam giúp sắp xếp.

Những khi Devin đi công tác, Thơ ở nhà thấp thỏm không yên, nàng vô cùng lo lắng cho sự an nguy của anh. Một lần Thơ tặng cho người yêu sợi dây chuyền có chiếc nanh heo rừng. Đây là món quà từ người bạn học ở Tây Nguyên tặng Thơ, vì tin rằng nó sẽ giúp nàng may mắn, tránh khỏi hiểm nguy trong thời chiến. Chiếc nanh heo thật lớn mà Thơ là con gái không thể đeo nên đã đem cất kỹ. Và khi có người yêu thì nàng tặng cho Devin, mong nó sẽ đem lại an tòan cho anh.

Cuối cùng, hai người phải nhờ đến Trung úy Tam cầu cứu với cấp trên của anh, nhờ họ cùng nhau đến nhà thuyết phục cha mẹ Thơ. Và gia đình nàng đã đồng ý trong miễn cưỡng cho hai người lấy nhau. Vì vậy “đám cưới nhà binh” của họ diễn ra thật đơn giản, một ngày trước lễ Giáng Sinh năm 1967.

Khác với gia đình Thơ, cha mẹ Devin khi biết tin anh có người yêu và thấy được hình của cô gái Việt nam xinh đẹp, họ rất vui mừng. Họ gửi quà mừng cho cặp vợ chồng mới và thúc giục anh lo sẵn giấy tờ để khi anh hết nhiệm vụ trở về Mỹ thì phải đem Thơ đi cùng. Hai người đã sống với nhau rất hạnh phúc. Thơ thường nấu cho chồng những món đặc sản xứ Huế, tập Devin ăn thức ăn Việt Nam. Ông Devin nói “món ruột” của Tho mà ông rất thích là “Bun Bo Hue.” Cho đến bây giờ, mỗi khi có dịp đến những vùng có nhà hàng Việt Nam, thế nào ông cũng đi ăn bún bò Huế cho bằng được.

“Đến Tết Monkey, chưa đầy ba tháng sau khi chúng tôi đám cưới.” Ông Devin nhớ lại. “Hai ngày trước Tết, Thơ nói với tôi cô ấy về quê để cùng ăn Tết với gia đình, bốn ngày sau sẽ trở lại thành phố. Tối ba mươi Tết, tôi ở trong căn cứ Mạc-Vi một mình cũng buồn nên rủ hai thằng bạn, Mike và Jack, bày ra nhậu cho vui. Ba đứa tôi thức rất khuya, vừa ăn uống vừa tán chuyện vừa nghe tiếng pháo mừng giao thừa của dân địa phương nổ râm rang ngoài thành phố. Khoảng hơn ba giờ sáng, thình lình căn cứ của chúng tôi bị tấn công, bắt đầu là một lọat pháo kích nổ ầm ầm ngoài cổng căn cứ, rung rinh cả tòa nhà. Tôi và hai thằng bạn vội vã trang bị súng ống, đội mũ sắt vào rồi ra ngoài để xem xét tình hình.”

Nói đến đây ông Devin bỗng dừng lại, bàn tay ông run run, nét mặt căng thẳng.

Trời đã về chiều, vài cơn gió thổi qua lay động hàng cây maple. Những chiếc lá khô vội vã lìa cành bay là đà xuống đất, nằm rải rác trên sân Tennis và các lối đi, điểm những vệt nâu hình năm cánh trên nền sơn xanh, giống như những bàn tay vấy đất của đứa bé nghịch ngợm in dấu vào một bức tranh đồng cỏ. Tự nhiên tôi cảm thấy ngột ngạt, cồn cào dù bầu không khí lúc này đã phần nào dịu mát. Tôi bần thần, người toát mồ hôi, những lời kể của ông Kavin gợi nhớ đêm giao thừa năm xưa. Hình ảnh cái đêm giao thừa Mậu Thân khủng khiếp ấy bỗng ào ạt hiện về.

Những ngày trước Tết 68, người ta nghe nói đã có lệnh “ngừng bắn để cho dân ăn Tết” giữa hai bên, vậy mà sau đó người dân miền Nam lại phải ăn Tết trong cảnh máu lửa kinh hoàng. Ba giờ sáng mồng một Tết tôi và một người bạn từ Nha Trang ngồi xích lô ra bến xe miền Trung để về quê ăn Tết. Trên đường đi chúng tôi thấy xác pháo ngập đường Độc Lập, tiếng pháo vẫn còn “Tạch! Tạch! Đùng! Đùng!” và tiếng súng lớn mà chúng tôi cứ tưởng là pháo đại cũng “Ầm! Ầm!” khắp mọi nơi. Chúng tôi nào biết thành phố đã bị tấn công, nên cứ mãi trầm trồ là chưa có năm nào tiếng pháo giao thừa lại nổ rầm rộ và kéo dài đến gần sáng như năm này. Từ đường Độc Lập chạy xuống hướng chợ Đầm, dưới ánh đèn đường thỉnh thoảng có những vật hay đống gì đó đen đen nằm lù lù dọc theo hè phố. Khi ra đến đường Phan Bội Châu thì trời đã sáng dần, và chúng tôi hoảng hốt nhận ra những đống đen đó là những xác người bị bắn chết bỏ nằm rải rác trên lề đường. Ra đến bến xe thì gặp phải đánh nhau, súng nổ bốn phương tám hướng, cuối cùng chúng tôi phải hối xe chạy bán sống bán chết để quay về.

Tuy sự chết chóc ở thành phố Nha Trang trong sự kiện Mậu Thân chưa đến nỗi khủng khiếp kinh hoàng như những gì nhà văn Nhã Ca đã đối diện ở Huế khoản thời gian đó và tường thuật trong quyển hồi ký “Giải Khăn Sô Cho Huế” của bà, nhưng nó cũng đã làm cho tôi gặp ác mộng hằng đêm sau ngày ấy. Thật là kinh khủng.

“Anh chị biết không?” Ông Devin lên tiếng sau phút im lặng. “Vì còn thức nên chúng tôi là những người ra ngoài sớm nhất trong khi các phòng khác còn đang mặc trang phục và la hét nhốn nháo trong phòng. Chúng tôi cùng nhau bước về hướng bên trái, là nơi có những lô cốt chống đạn xây bằng bao cát, để chuẩn bị phòng thủ. Trời lúc này vẫn còn tối và lạnh. Đi được mấy bước, thình lình tôi thấy một người con gái mặc áo dài tím xuất hiện ngay trước mắt tôi. Cô ta đưa tay ra chận lại và hét lên: “Stop!” Đừng đi! Rồi cô biến mất. Nhìn quanh nhìn quất cũng không thấy cô ta đâu, tôi giật mình chụp lấy tay thằng bạn Mike. “Cô ta là ai thế?” Tôi hỏi nó. Thằng bạn tôi ngơ ngác, rồi phì cười: “Mày nói cái gì vậy Devin? Cô nào? Mới có mấy tiếng rốc kết mà mày đã hoảng loạn như thế rồi sao?”

Ông Devin nói người bạn tên Jack cũng cười nhạo ông, dù ông quả quyết đã chính mắt nhìn thấy rõ ràng cô gái đó dưới ánh đèn lờ mờ của căn cứ. Tuy chưa bao giờ tin là có ma, nhưng cô ta biến mất một cách nhanh chóng như thế cũng làm Devin cảm thấy rờn rợn, dựng tóc gáy. Và ông bỗng rùng mình trong đêm tối khi bước theo hai người bạn. Hiện tượng kỳ lạ đã làm cho ông phân tâm, quên đi sự lo lắng về mấy quả pháo kích.

“Chúng tôi tiếp tục bước,” Ông Devin kể tiếp, “khi đến gần một chiếc xe Jeep đang đậu thì cô gái áo dài tím lại hiện ra. Tôi dụi mắt thật mạnh để biết là mình không mơ ngủ. Lần này thì tôi thấy cô gái đang bay lơ lửng, vạt áo dài tím phất phơ bên trên đôi chân cụt lủn máu chảy ròng ròng, hai tay cô vung vẩy trước mặt tôi, và cô gào lên thảm thiết: “Đứng lại! Đừng đi!”

Devin bỗng lắc đầu thật mạnh, như xua đi những hình ảnh thảm thương mà ông vừa nhớ lại. Ông bưng ly nước lên hớp một ngụm rồi đặt chiếc ly xuống bàn, cố gắng nuốt một cách khó nhọc như người đang mắc nghẹn:

“Tôi hoảng quá, biết là mình đã gặp ma thật rồi. Không kịp suy nghĩ, tôi vội vàng chụp tay hai thằng bạn lôi ngược lại, vừa lúc tiếng đạn rốc kết bay xé gió rít lên trên không “Hú…ú…ú…ú…” và chúng tôi chỉ kịp nhào xuống phía sau chiếc Jeep thì “Boooom!” một tiếng nổ long trời lở đất vang lên ở gần bên, tôi bị hất tung lên rồi bắn ra xa, và không còn biết gì nữa.”

– Trời! Tôi và nhà tôi cùng kêu lên thảng thốt. -Rồi bạn ông và ông có bị thương không? Tôi vội vàng hỏi.

“Jack bị thương rất nặng, sém chút nữa thì nó đã đi chầu trời, thằng Mike thì gãy chân và một cánh tay. Tụi nó được trạm y tế dã chiến trong căn cứ tận tình cứu chữa và cầm cự đến hơn hai mươi ngày mới được đưa đi bệnh viện. Riêng tôi bị ngất xỉu một ngày đêm, nhưng như một phép lạ, tôi chỉ bị thương ở những phần mềm, vì tôi văng trúng cái thùng container bằng giấy cát tông và mấy cái bao cát.”

“Oh my God!” -Trời ơi! Như vậy là cô “Ma” đó đã cứu các ông rồi! Tôi kêu lên trong sự ngưỡng mộ, ma người Việt mà cũng có lòng nhân, đã giúp cứu mạng mấy người lính Mỹ. Thật là kỳ diệu.

Ông Devin đột nhiên ngồi sững, hai tay ôm lấy đầu nhìn vào khoảng không trước mặt, mắt lộ vẻ đau đớn cùng cực. Được một lúc, ông bỏ tay ra và nói nho nhỏ, gần như là thì thầm với chính ông:

“Cô ấy là Thơ, vợ tôi. Nàng đã bị giết trong đêm giao thừa, buổi tối trước lúc chúng tôi bị tấn công.”

Tôi tròn mắt, không thể tin được những gì mình vừa nghe:

– Trời đất! Nhưng làm sao mà ông biết được chính xác như thế chứ?

Ông Devin thở dài:

“Mãi đến gần một tháng sau, đúng hơn là hai mươi tám ngày sau, sau khi quân đội Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa lấy lại được toàn bộ thành phố Huế, tôi mới liên lạc được với gia đình Thơ. Họ cho tôi biết, hôm tối ba mươi, chiếc xe lam chở vợ tôi và hai người bạn của cô ấy cùng nhiều người khác nữa, trên đường đi chùa về thì bị trúng một quả đạn súng cối, mọi người trên xe đều chết hết.” Và ông bỗng nấc lên: “Tối hôm đó Thơ cũng mặc chiếc áo dài màu tím và mảnh đạn đã cắt mất đôi chân của nàng…”

– Tôi thật xin lỗi. Tôi nói, nước mắt tôi ứa ra. – Linh hồn cô ấy quả linh thiêng, đã hiện về để cứu ông và mấy người bạn. Chắc bây giờ cô ấy đang ở trên thiên đàng, xin ông cũng đừng buồn.

Ông Devin ngồi thẫn thờ, hình như không nghe những lời tôi nói. Ông lại lần nữa mân mê chiếc nanh heo rừng trên cổ. Có lẽ ông đang hồi tưởng lại thời kỳ yêu đương nồng thắm với Thơ, thời kỳ yêu đương cách nay đã hơn bốn thập niên, nhưng nó vẫn còn sôi sục trong lòng người cựu chiến binh cho đến tận bây giờ. Không biết chiếc nanh heo này có thật sự linh nghiệm hay chăng, nhưng tôi tin chắc một điều, là nó đã được hòa quyện tình yêu bất diệt của cô gái Huế, và tình yêu ấy đã cứu mạng ông Devin.

Ba người chúng tôi cùng ngồi bất động thật lâu cho đến khi trời xẩm tối. Đèn đường đã bật sáng, ban nhạc đã ngừng chơi tự lúc nào, thực khách lục tục đứng dậy ra về, và người ta bắt đầu xếp dù, thu dọn bàn ghế.

Khi vợ chồng tôi và ông Devin đứng lên thì mọi người cũng đã về gần hết. Chúng tôi băng qua khu vực bãi đậu, ra ngoài đường để lấy xe. Hàng cây maple vô tư phe phẩy xạc xào trước ngọn gió đêm mát rượi, bầu trời hè buổi tối trong xanh, rải rác những vì sao lấp lánh, và thoang thoảng đâu đây trong không khí mùi hương hoa dạ lý ngọt ngào. Một buổi tối thật yên bình, nhưng tôi biết trong lòng người cựu chiến binh Devin đang dậy sóng. Tôi thở dài, nhìn ông cúi đầu lầm lũi bước đi.

Phương Hoa

CÁI NANH HEO RỪNG (Xuân Vũ)

Kính tặng Anh Chị Tư và Sơn Nam
Lời mở đầu tóm tắt của tác giả: 
(Trích bản thảo truyện lịch sử
 “Giọt Máu Bốn Đời” của Xuân Vũ

Cách đây một năm rưỡi, anh Hứa Hoành có đưa tới nhà tôi hai ông già, ông thứ nhứt là Tướng NHAN MINH TRANG, cựu Tỉnh Trưởng Rạch Giá, người thứ hai là cựu Đại Tá LÂM QUANG PHÒNG, nguyên Tổng Giám Đốc Thanh Niên thời Đệ Nhứt Cộng Hòa. Ông Lâm Quang Phòng vừa bước vào nhà sau anh Trang với nét mặt ngạc nhiên nhưng trên môi lại hé một nụ cười. Tôi ngờ ngợ nhìn anh, như có quen mà không biết quen hồi nào. Thì anh Hứa Hoành hỏi: “Bộ anh (tức Xuân Vũ) không nhận ra ông này sao?” Tôi không lắc mà cũng không gật, vì thâm tâm tôi có nhận là “biết” nhưng không nhớ hẳn.

… Thì ra là anh Lâm Quang Phòng, Chỉ Huy Trưởng của tôi thời tôi làm phóng viên cho tờ báo Quân Khu IX “Tiếng Súng Kháng Địch” còn anh thì làm Trung Đoàn Trưởng, lừng lẫy với danh hiệu “Con Hùm Xám Miền Tây”(tức vùng 11 tỉnh Hậu Giang) trong thời kỳ đánh Pháp. Tôi vốn yêu bộ đội. Còn anh thấy tôi trắng trẻo có vẻ học trò, nên xin với anh Rum – Bảo Việt (tức là Rừng U Minh – viết tắt là RUM) cho tôi đi với anh theo đơn vị tác chiến. Anh Rum cho đi ngay để có những bài phóng sự nóng hổi cho tờ báo. Tôi là bạn học của con trai lớn của ông NGUYỄN VĂN TRẤN, Chánh ủy Quân Khu lúc bấy giờ. Thằng này cũng bỏ trường đi kháng chiến, và cũng ham đi oánh Tây như tôi. Cho nên thấy tôi được đi với Con Hùm Xám thì nó phân bì với bố. Ông Trấn mới hay cái việc anh Rum cho tôi theo “Hùm”, ông bảo anh Rum: “Mầy cho nó đi, rủi “có bề gì” làm sao?” Anh Rum nói: “Nó không chịu ở tòa soạn anh Bảy à!” (ông Trấn thứ Bảy), ổng bảo: “Còn hai thằng Anh Tài và Huy Hà đó, dẫu có đòi, mầy cũng không được cho đi!” Tôi đã sống theo “Hùm” rồi, không bắt nhốt lại được.

Cái thời tôi đi theo anh Lâm Quang Phòng đó, cách đây không lâu lắm, mới có 49 năm thôi. Trí nhớ của tôi đã mòn đi ít nhiều.

…. Trong buổi gặp lại bất ngờ đó, anh (Lâm Quang Phòng) nay đã 84 tuổi, nhắc sơ qua những trận đánh xe tăng ở Giang Thành, những trận ở Phú Quốc, trận đánh Tây ở Kinh Xáng chân núi Trầu với sự hưởng ứng của “ông Cha” (linh mục) Huân, đã làm cho anh nổi danh là Con Hùm Xám miền Tây.

Ngồi với tôi anh nhắc lại những chuyện xưa làm tôi mơ màng như sống trong mộng, những chuyện của chính mình mà tưởng chuyện của ai.

Hôm nay, ông Nguyễn Văn Trấn và anh Rum – Bảo Việt đã qua đời, anh Lâm Quang Phòng còn tại thế với tiếng nói sang sảng như chuông đồng, như tiếng thét xung phong của anh vang lại từ ký vãng xa xôi.

Tôi ghi lại đây một câu chuyện nhỏ của anh – ghi ra cho tôi trong 10 tape recorders mà anh tặng cho tôi với lời dặn “Không được nói cho ai”. Anh dặn như thế vì đời anh là một quyển tiểu thuyết ly kỳ tôi chưa hề thấy ở một cá nhân nào: Khởi đầu là học sinh trường Taberd, kế đó là lấy súng Nhựt đánh Tây, thành lập bộ đội Vệ Quốc Đoàn như Phan Văn Phải, Đồng Văn Cống, Nhàn Râu và những “Hùm Xám” khác, như con Hùm Xám vùng Yên Thế, khắp đất nước trong cuộc kháng chiến chống xăm lăng kéo dài một thế kỷ, nhưng tính anh kín đáo và khiêm tốn anh không muốn nói ra những đóng góp của anh vào cuộc kháng chiến của dân tộc.

Anh Lâm Quang Phòng, con thứ tư của một vị Cai Tổng, từng đi học ở Hà Nội, tứng đánh lộn và học võ Tây, võ Tàu, võ Nhựt, võ Miên, từng được Delatour, Tổng Chỉ Huy Đông Dương phong chức (nhưng anh không nhận), từng chỉ huy Trung Đoàn Vệ Quốc Đoàn, từng được mời giữ trọng trách 2 trung đoàn (Liên Trung Đoàn 124 – 126) của miền Hậu Giang (cũng không nhận) được giao cho nhiều trọng trách khác trong kháng chiến nhưng anh cũng không nhận. Từng được Phan Trọng Tuệ mời mọc v.v… và… cũng không nhận và rồi… từng bị Cộng Sản lên án tử hình và cũng đã từng được Hồ Chí Minh hạ lệnh giảm án và sống đến ngày nay và… v.v…

Một con người mang một trời tâm sự, một pho tiểu thuyết trong lòng nhưng không chịu nói gì hết nhưng nói cho ai nghe ở cái xứ xa lạ này, may mà tôi được nghe. Tôi không thể để ngòi bút tôi nằm im được nữa, tôi phải cố gắng viết ra giấy quyển tiểu thuyết ly kỳ này – gồm có hàng trăm nhân vật nhưChiến Tranh Và Hòa Bình của Tolstoi vậy. Một gia đình Tolstoi toàn công hầu bá tước (Baron – Famille de Noblesse đã được Tolstoi “mượn” để làm nhân vật cho tiểu thuyết của ông).

Ai dám bảo rằng địa chủ, trí thức, tư sản không yêu nước? Ai dám bảo Công Giáo, Phật Giáo, Hòa Hảo, Cao Đài và những tôn giáo khác không yêu nước? Chỉ có Cộng Sản, chỉ có Cộng Sản mới biết yêu nước thôi hay sao? Chỉ có Cộng Sản mới biết chống Pháp giành độc lập thôi sao? Nếu chỉ vậy thì Pháp chưa thua sau Điện Biên Phủ đâu cụ Hồ ạ! Cụ đừng có nhầm.

Cái nhầm cố ý của cụ là cái nhầm quốc tế hóa nước Việt Nam. Cụ chết rồi nhưng cái nhầm đó còn di xú muôn đời. Phải chi cụ chết hồi năm 51 hoặc 54 thì có thể cụ được tôn vinh là anh hùng dân tộc – để bây giờ cụ không phải nằm phơi rốn ở Ba Đình mà nghe dân nguyền rủa hằng ngày là tên phản đồ của dân tộc và để đọc nhũng trang ca ngợi cụ Sào Nam Phan Bội Châu, cụ Phan Châu Trinh, cụ Hoàng Hoa Thám, cụ Thủ Khoa Huân, cụ Nguyễn Trung Trực, cụ Nguyễn Hải Thần.

Tinh thần dân tộc sẽ xóa bỏ được chủ nghĩa Mác ngu xuẩn chớ cái chủ nghĩa này không bao giờ dập tắt nổi Ngọn Lửa Dân Tộc. Bằng chứng là Liên Xô sụp đổ nhưng dân tộc Nga vĩ đại vẫn trường tồn. Bức tường Bá Linh bị san bằng nhưng dân tộc Đức đã hợp nhứt. Xít-ta-lin thắng Hít-le là vì Hồng Quân được võ trang bằng tinh thần dân tộc “L’ Esprit de la Grande Russie” chớ có phải bằng tinh thần Mác-xít đâu! Bà Lady Barbara đã dẫn giải sự việc này trong tác phẩm vĩ đại vô tiền khoáng hậu của làng văn của bà là“Socialisme et Nationalisme” xuất bản năm 1950 ở Canada nghĩa là 50 năm trước khi Liên Xô đổ sụp! Lạ lùng thay một bộ óc đàn bà.

Lâm Quang Phòng là nhân vật chính của thời đại 1945-1954 và là nhân vật của một thời đại mà tinh thần dân tộc là kẻ chiến thắng vinh quang nhứt và là kẻ chiến thắng sau cùng! Le dernier et le gloríeux vainqueur!

Viết đến đây tôi run tay quá chị Bích à, không phải vì giá rét mùa đông ngoại quốc mà vì xúc động nặng nề và Nguyễn Du ngồi dậy trong lòng tôi mãnh liệt.

“Lửa tâm càng dập càng nồng”.

Câu thơ còn lại khi thế gian bị hủy diệt. Tôi cũng mượn trang báo của chị để xin lỗi anh Tư Lâm Quang Phòng (và chị Tư, người đàn bà xứng đáng là con Bà Trưng, cháu Bà Triệu) vì đã không làm tròn lời dặn của anh chị nên đã viết lên báo những dòng này.

Chỉ một mẩu chuyện con con trong đời cậu bé “Taberdien” thôi anh Tư ạ. Còn các phần khác thì sẽ tiếp tục trong “Giọt Máu Bốn Đời’. Cuộc đời thứ nhứt là cuộc đời của nhà chí sĩ tuẫn tiết LÂM QUANG KỴ- chịu chết thay cho anh hùng Nguyễn Trung Trực ở Rạch Giá (hiện có bài vị thờ chung với Nguyễn Trung Trực ở Tà Niên), cuộc đời thứ tư là LÂM QUANG PHÒNG cháu gọi cụ Lâm Quang Kỵ bằng ông cố nội.

o O o

Sáng nay Tư Nghĩnh đi rừng bằng một chiếc xuồng Cui. Binh khí mang theo gồm có giáo, mác, lao, chĩa… Ngoài ra còn có một bầy chó. Theo thứ tự cuộc “hành quân”, trước nhứt phải kể: con chó Đuổi và con Theo. Như tên cúa chúng nói lên, Đuổi và Theo có nghĩa là truy tầm ráo riết, bám sát địch và báo về cấp chỉ huy như trong một cuộc hành quân “lùng và diệt” vậy. Đã xuất quân là nuôi ý chí quyết thắng, nhưng chiến trường không phải là vườn mơ, còn săn bắt không phải là đi dạo.

Chuyến đi này Tư Nghĩnh nhằm diệt gọn hốt nhanh và về lẹ nên chỉ đem theo một lực lượng vừa đủ. Anh để cho thằng Hai, con trai anh bơi lái và chỉ huy con Đuổi con Theo, còn anh bơi mũi và chỉ huy con Giật, con Kềm.

Vô tới ngọn rạch Nhà Ngang anh bảo thằng Hai cho con Theo con Đuổi đổ bộ. Anh cầm giáo bước lên trong lúc thằng Hai ngồi lại dưới xuồng giữ con Giật và con Kềm chờ lệnh anh. Như hai mũi tên vừa bay ra khỏi dây cung cặp trinh sát Đuổi – Theo bay vào trận địa đầy bí mật ở phía trước. Anh dựng cây giáo cán dài hai thước rưỡi vào gốc tràm và móc thuốc rê quấn hút để khỏi sốt ruột. Anh chờ cặp “trinh sát” báo cáo về, có khi cũng phải chờ như chờ đợi người yêu – mười phút bằng thế kỷ – nhưng kỳ này, vừa bập mấy hơi thuốc thì đã nghe “tín hiệu gâu gâu” vọng lại. Chúng đã chạm địch rồi. Anh Tư ném điếu thuốc, chụp lấy cán giáo và quay lại ra lệnh cho thằng con:

– Thả Giật và Kềm ra! – Rồi len lỏi qua lùm bụi lội về phía đang dội lên tiếng của Đuổi và Theo. (Kể từ dòng này, xin gọi Đuổi, Theo, Giật, Kềm như nhũng nhân vật).

Giật và Kềm vọt qua mặt anh và biến mất. Cũng như tên của Đuổi và Theo, Giật và Kềm cũng có nhiệm vụ như tên của chúng. Giật có nghĩa là giật ngược lại, không cho đối tượng chạy tới, còn Kềm là khống chế, cầm chân không để cho nó dễ dàng xoay trở hoặc phản công. Nếu xem Đuổi và Theo là bộ phận tiền sát thì Giật và Kềm là Tả Quân, Hữu Quân của một chiến trận vậy. Tất cả các cánh bủa vây địch, làm cho nó mất sức, rối ren để chờ vị “Tư Lệnh” đến giải quyết tình thế, nhanh hay chậm, đổ máu ít hay nhiều là do tài ba của ông ta.

Nghe tiếng “gâu gâu” lơi lơi ít đượm mùi máu, Tư Nghĩnh đoán đây chỉ là một đối tượng xoàng, không cần phải nhọc sức cho lắm. Nhưng khi đến bãi chiến thì khác hẳn với dự kiến của anh ta. Tất cả Đuổi, Theo, Giật, Kềm đang phủ kín một con heo ước chừng trên một tạ và đang cố lôi nó ra khỏi bụi rậm. Theo lệ thường khi Giật và Kềm đến tiếp nhận đối tượng thì Đuổi và Theo đã hoàn thành nhiệm vụ, chúng có thể đứng bên ngoài xem đồng đội chiến đấu mà “vỗ tay” như xem hát và đánh tín hiệu về cho Tư Lệnh. Nhưng lần này đụng phải một đối tượng ngổ ngáo nên Đuổi lẫn Theo phải lăn xả vào trợ lực cho Giật và Kềm, nên không rỗi mồm để đánh tín hiệu khẩn cấp.

Theo ngoạm ngập một bên nọng, Đuổi đeo dính bên hông trong lúc Giật và Kềm chia nhau trọn phía sườn bên kia, cắn xé, gầm rú hồng hộc làm cho con heo quật qua né lại túi bụi nhừ nát lùm cây mà nó đang đứng như một chiếc khiên khổng lồ để che thân.

Tư Nghĩnh đã hờm sẵn ngọn giáo trong tay. Con mồi trong tầm giáo đâm, nhưng mục tiêu cứ quay vun vút nên anh cứ đi loanh quanh, lui tới, mà không dám đâm, sợ trúng bồ nhà.

Còn con heo bị bốn bộ răng thép càng ngày càng siết chặt. Có lẽ nó biết không thể chạy thoát ra được, nên chỉ tìm cách tứ thủ.

Trong rừng này chỗ nào cũng nhẩm dấu heo ăn bầy hay ăn lẻ, nhưng dù ăn bầy hay ăn lẻ chúng cũng không bao giờ tiếp cứu nhau trong lức nguy nan. Đã vậy lại còn thầm mong cho đồng loại sụp hầm để có cơ hội mở rộng cái vương quốc rừng của mình, cho nên cách tốt nhứt của nó là tự vệ bằng cách vùi địch xuống đất, để thu hẹp mục tiêu tấn công của kẻ thù.

Đất U Minh được cấu tạo bằng những lớp lá mục chồng chất lên nhau và làm phù sa mới bồi, nên chân đất không chắc như nhiều nơi khác ở đồng bằng sông Cửu Long (ngoài ra nó còn có những vùng phập phều gọi là trấp) vì thế con heo đã vùi được một phần thân mình vào trong đất rồi chồm trên hai chân trước và dùng cái mõm dài xọc như vũ khí độc nhứt để đánh trả, nhưng bị địch thủ bám riết nên không phản công được mà chỉ tự vệ và tìm cách trốn thoát.

Thằng Hai cầm cây “lao phụng”[1] trong tay chờ lệnh của ba nó. Bỗng nó la lên:

– Con heo này chỉ có một cái nanh ba à!

– Biết rồi! Heo độc chiếc!… Mầy lùi ra! – Tư Nghĩnh quát.

Heo độc chiếc là heo đi một mình, một thứ hung ác nhứt loài heo. Hơn nữa chỉ còn có một cái nanh. Thi sự hung ác của nó phải gấp bội!

Trong rừng heo chỉ đánh nhau với cọp và cọp chỉ sợ heo. Chúa sơn lâm mặc dầu có bộ vuốt sắc cũng phải kiêng cặp nanh heo. – Con quỉ này đã từng chiến đấu với cọp! Tư Nghĩnh nghĩ.

Trông kia cái mõm nó càng dài ra và để lộ cả răng lẫn nanh.

Nước dãi nó đặc lại đóng hai bên mép như bọt oáp [2] còn trong mắt nó thì rực lên hai ngọn lửa như muốn thiêu sống Tư Nghĩnh.

– Làm sao ba? – Thằng bé con hỏi với giọng không giấu được nỗi lo âu.

Tư Nghĩnh không đáp. Thằng Hai ra một kế hoạch chi tiết:

– Phóng cho nó mũi lao phụng rồi để nó chạy ra khỏi cái hố, rồi cho chó rượt, nghen ba!

Thấy bố vẫn không đáp, nó không dám hỏi nữa nhưng cũng không lùi ra xa hơn, mà chỉ chờ. Nó tin tưởng tuyệt đối ở ba nó. Quả thật vậy, Tư Nghĩnh chưa bao giờ đi rừng mà về xuồng không, cũng chưa bao giờ hứa “bắt thịt” cho ai mà sai hẹn. Ở vùng này nhà nào có đám tiệc thì gia chủ thường đến “đặt thịt” nơi anh – mà phải loại “thịt lớn” như heo, nai cơ, còn thịt nhỏ như trăn, chồn, trút thì tay ngang cũng bắt được, đâu cần phải nhọc công Tư Nghĩnh.

Thấy con heo vùi đít càng ngày càng sâu xuống, Tư Nghĩnh quát:

– Kềm, qua bên này!

Kềm đang đeo bên kia, nghe lệnh chủ, phóng vòng cầu qua bụi rậm ngoạm má trái con heo. Như vậy cái má phải đã bỏ trống. Được giải tỏa nhẹ nhàng, không bỏ lỡ cơ hội, nhanh như chớp heo ta hất tới. Tư Nghĩnh đưa mũi giáo hứng. Cái nọng heo dính vào. Con heo không la mà cứ sấn tới. Tư Nghĩnh đạp cán giáo xuống đất. Nếu gặp một chỗ đất thường thi anh chỉ cần giữ cán giáo ở đó, chờ mũi giáo chạm tim con mồi sẽ ngã quỵ. Nhưng đất lại lún không kềm cán giáo được. Còn con heo bị đau điên tiết nên liều chết rấn tới từng tí một, càng lúc càng gần địch thủ. Trong lúc cán giáo lút xuống đất thì lưỡi giáo đã ngập sâu hơn, nhưng nó vẫn chưa gục. Có lẽ vì cái thân to tướng của nó và vì đất lún hay vì lẽ gì khác mà mũi giáo chưa thọc vào tim nên nó vẫn còn chồm trên hai chân trước. Tuy mồm nó kêu yếu đi nhưng ngọn lửa trong mắt nó vẫn rực lên và chiếc nanh của nó đã kề bên bắp chân Tư Nghĩnh. Anh phải bước lùi lại và ngoặt tay ra sau. Thằng Hai ấn cán lao phụng vào (lúc nãy anh hơi chủ quan, nghĩ không cần đến món bửu bối này). Anh nắm lấy cán dao, chưa kịp đâm thì con Kềm đã bỏ mục tiêu, phóng tới vừa lấy thân nó chắn ngang rồi vừa ngoạm luôn mép con heo, vừa rướn thân lên, hai chân sau chòi đạp tung cả mặt đất, đẩy lùi cái đầu heo ra xa bắp chân của chủ nó. Đó cũng là lúc mũi lao của Tư Nghĩnh đâm lút vào nách con heo rồi anh nhổ tung cán giáo lên, một tay cầm cán giáo một tay nắm cán lao, hét lên như hổ gầm:

– Đuổi, Theo, Giật lôi nó qua!

Ba chàng ngự lâm bốn chân vốn biết nghe lệnh chủ, đồng loạt lôi con heo về một phía.

Ngọn giáo và mũi lao trong tay Tư Nghĩnh như cặp sừng bò mộng húc đổ núi. Cái tảng thịt nặng nề không còn chống chế nữa, từ từ lật qua bên kia xa hẳn Tư Nghĩnh. Kềm cũng bật theo, bụng nó ngửa ra, chân nó chòi lia trong không khí nhưng răng nó vẫn ngoạm cứng.

Một tiếng “è… è…” hắt ra như một tiếng nhạc quái dị cáo chung đời con ác thú… Hai cha con Tư Nghĩnh mổ thịt móc bộ đồ lòng heo đãi “tướng sĩ” ngay tại trận khi xác giặc còn tươi rói. Tư Nghĩnh xắt lá gan ra làm bốn miếng và để trái tim còn thoi thóp trên lòng bàn tay, bảo thằng Hai:

– Con coi nè, mũi giáo đâm toạc tim cho nên nó chết không kịp la.

Thằng Hai đã qua phút kinh hoàng, lấy lại hồn nói:

– Lần trước ba cũng bị một con nái già đánh trầy chân, nhưng ba phải kêu lên, con Kềm mới cắn họng con nái lôi ra, còn lần này, vừa thấy cái nanh kề sát chân ba thì nó đã bổ nhào tới, không đợi ba kêu.

– Ờ.. ờ, nếu không có nó… thì…

– Nhưng mà cái bắp chân của ba đã chảy máu kia rồi!

Tư Nghĩnh nhìn xuống, quả có một đường sướt da. Anh thản nhiên lấy tay quệt qua và bảo:

– Tại nhánh củi xốc chớ không phải tại nanh heo, con à! – Rồi anh xẻ cái tim heo ra. Nhưng anh rất đổi ngạc nhiên, trong khi các cậu kia đã ních hết, lại còn liếm mép đòi thêm thì Kềm lại nằm im. Miếng gan kề trước miệng mà nó không buồn ngó tới.

Anh bảo thằng Hai: “Đâu mầy coi nó có sao không?”

Thằng bé đến ngồi xuống ôm Kềm xem xét khắp mình rồi banh miệng nó ra và la lên:

– Ba ơi, ba! Cái nanh heo ghim trong đốc vọng của nó.

Tư Nghĩnh chạy tới thì thấy y như lời thằng nhỏ. Anh hốt hoảng. Đây là lần đầu tiên anh thấy con chó bị hóc cái nanh heo rừng. Nhưng không phải hóc mà cái nanh cắn lút vô hàm nó. Trời đất quỉ thần ơi!… Tư Nghĩnh kêu lên còn thằng Hai ra bộ như muốn giải thích cho ba nó cái trường hợp lạ lùng như vậy.

– Lúc nãy nó giang chân đẩy lui còn con heo thì hồng hộc ủi tới cho nên cái nanh mới gãy tốt như vậy, ba à!

Thằng bé vạch mõm con heo và nói gọn:

– Gãy sát gốc ba à! – Rồi thằng bé cầm lấy một miếng tim, nhứ nhứ trước mắt con Kềm bảo: -Ăn đi Kềm! Sao mầy cứ nằm im hoài vậy? Ăn đi… sẽ hết đau!

Nói xong nó xốc Kềm lên vai vác ra bến.

Đuổi, Theo, Giật lặng lẽ đi sau. Tư Nghĩnh đứng nhìn, rưng rưng, lẩm bẩm, lắp bắp:

– Con Kềm… thật! Nếu không có nó..

Kềm nằm lim dim trên vai tiểu chủ như bay lâng lâng giữa hương cây. Cho tới lúc này nó mới cảm thấy trọn vẹn niềm đau do một vết thương mang tới. Bỗng nghe chủ nhắc tới tên, Kềm mở mắt ra.

Chập chờn trước mắt cái gương mặt dịu hiền gợi lên trong trí nó cả những chuyện lâu lơ tưởng đã quên, nhưng hôm nay bừng dậy rõ rệt, như nét vẽ, lẫn âm thanh. Lần đó nó đau, chủ nó vỗ về: “Mầy đau tao cũng muốn đau theo mầy nữa đó nghe Kềm!” Bữa nay cái vùng đất lún đã tạo lợi thế cho sự hung ác của con heo độc chiếc. Trông thấy cái nanh heo trắng nhởn sắp chạm tới chủ, nó cũng đau, đau như chính nó đau. Lấy mắt ngó sao đành? Trả ơn cho chủ có nhiều cách nhưng không nên bằng cách ngó. Nó muốn nói, nhưng chuyện lại khó nói. vả lại nó không biết nói. Mà dù nó biết nói, chắc gì nó chịu nói! Vì nói ra không bằng không nói. Nó đinh ninh sớm muộn gì rồi chủ sẽ hiểu bụng nó. Vạn nhất, chủ có không hiểu, thì cũng không sao, không sao cả! Đã có một người hiểu nó. Chỉ một người cũng đủ.

Tư Nghĩnh đã hạ được một địch thủ hung ác nhưng anh không mấy thích thú. Giá đừng có chuyến săn này. Anh không buồn ngó lại bãi chiến nát nhừ nơi nằm phơi cái xác nhầy nhụa máu tươi, trống phộc không còn tim gan.

Tư Nghĩnh vụt ném giáo lẫn lao đuổi theo thằng nhỏ. Thấy Kềm mở mắt dau dáu, Tư Nghĩnh bước sải tới đưa tay xoa đầu nó và thầm thì:

– Mầy đau lắm hả con?

Kềm nhắm mắt lại như để tận hưởng sự an ủi của những ngón tay sần sùi chai cứng vì luôn cầm nắm cán lao cán giáo hoặc tuốt vỏ tràm. Không biết chúng có cảm giác gì khi vuốt làn lông mịn màng của nó.

Tư Nghĩnh bỗng vọt tới bảo:

– Đưa cho tao!…. rồi nâng nhẹ đưa Kềm lên vai mình, vác thẳng xuống xuồng, đặt nó nằm trước mũi, lấy mảnh bao bố kê đầu nó nghếch cao lên rồi ngồi bên cạnh, vốc nước rưới lên tấm lưng đẫm mồ hôi, muối đầy bùn đất và lốm đốm máu của Kềm.

… Trên đường về, Kềm nằm khoanh trong lòng chú. Nó vùi trong cơn đau đã bắt đầu thấm. Thỉnh thoảng Tư Nghĩnh quay lại giục thằng bé bơi nhanh rồi rù rì với Kềm. Nó mơ màng cảm thấy những ngón tay quào nhẹ như gió lướt trên lưng nó. Qua tiếng nước reo triền miên ở mạn xuồng, nó mơ hồ nghe lại giọng nói thân thiết ngày nào, tưởng đã quên.

Đang bơi, bỗng Tư Nghĩnh nghe nóng hổi như bị một cục than nhỏ chạm ở bắp chân. Anh nhìn xuống vết trầy: máu đã khô. Giọt nước mắt của Kềm vừa rơi trên đó. Nó khóc. Kềm khóc thật, giọt nước mắt của một loài vật trung tín nhứt các loài.

Anh đưa tay quẹt ngang, vội vã. Rồi quay lại quát khẽ:

– Nhanh lên con!

Thằng Hai đè Giật nằm bẹp xuống và rướn cổ qua Đuổi, Theo, hỏi:

– Con Kềm có sao không ba?

– Đã bảo nhanh lên, đừng hỏi nữa! – Tư Nghĩnh quát trong sự nghẹn ngào, tay bơi lia lịa, không biết Kềm đang ngóc cổ lên. Nó từ từ mở mắt ra nhìn chủ mà thấy cả trời lấp lánh qua vòm lá xanh đan bít trên cao.

Bất giác Tư Nghĩnh gác dầm và gục đầu xuống với những tiếng không thốt ra, chỉ Kềm nghe được bằng đôi tai thính như lá rừng.

Chú thích:

[1] Một loại dao có ba phần: 1) Mũi bằng sắt có ngạnh, thân bọng. 2) Cắm một cái cán bằng gỗ dài chừng hai thước rưỡi. 3) Một sợ dây thừng thật chắc dài chừng một thước, nối liền mũi và cán. Khi phóng ra, mũi sẽ lút vào thịt con mồi. Con mồi chạy mũi tên sẽ dính trong đó bằng cái ngạnh trong khi mũi sút ra khỏi cán. Con mồi vẫn chạy nhưng cái cán vướng vào cây cỏ ở hai bên đường nên không thể chạy nhanh được.

[2] Một loại côn trùng ban đêm thường tiết ra trên cành cây một loại nước như bọt xà phỏng.

xuanvu_sign

(Lê Thy đánh máy lại từ tập “TRUYỆN 12 CON GIÁP” của Xuân Tước và Xuân Vũ)

Đốt Nanh Heo Rừng Xem Có Cản Lửa Như Lời Đồn

Image result for Chiếc Nanh Heo Rừng

Tử Vi – Dương Công Hầu

Tử Vi

Tuổi Mậu Thân.
Nam : thờ Ngũ-Công Vương. Phật độ mạng.
Nữ : thờ Phật Bà Quan-Âm độ mạng
———–
Đoán xem số mạng như là,
Tuổi -Kim mạng -Thổ số ta như vầy
Tuổi cùng vói mạng đặng vầy tương sanh,
Tính ưa kinh-điển lòng lành,
Có số tu niệm học hành sáng thông.
Cơ mưu khéo léo nơi lòng,
Tâm linh biết trước trong vòng kiết hung
Việc làm mau lẹ không cùng,
Một đời cay đắng tâm trung khổ rày.
Số có quyền-tước trong tay,
Quới nhơn trọng đãi nguời hay yêu vì
Điếu khách chiếu mạng vậy thì,
Phải phòng té nặng một khi tật rày
Trong mình thường có bịnh hoài,
Khi đau khi mạnh đắng cay thân hình.
Vợ chồng xung khắc buồn tình,
Đôi lần dời đổi gia-đình mới an.
Anh em cách trở xa phần,
Một người một xứ gia đàng làm ăn
Hào tài đủ dụng thường hằng.
Gia-đình no ấm gọi rằng bực trung.
Ý ham lòng khó định cùng,
Muốn thời cho gắp, não nùng bỏ mau.
Hào con tuy có lao xao,
Đến ngày hậu nhựt dễ nào cậy nương.
Số ta không trọn kiết tường,
Xuất gia đầu Phật an khương cảnh già.
Khá nên tích thiện đó là,
Mong sau an hưởng đời ta an lành.

http://www.phuochoa.vn/ShowArticle.aspx…

Ngày Sinh Dương: Thứ Ba ngày 24 tháng 12 năm 1968 Ngày Sinh Âm: Ngày Mậu Thìn, tháng Giáp Tý, năm Mậu Thân (05/11/1968) Sinh giờ: Ất Mão (5:01) Giới tính và tuổi: Nữ, Mậu Thân, 51 tuổi Mệnh: Đại Trạch Thổ (đất nền nhà) Cầm Tinh: Con khỉ, xuất tướng tinh con lạc đà. Tiết khí: Sinh mùa Đông chí (giữa đông) – Kinh độ mặt trời 270°

Bình Giải Chi Tiết

Quý Bà sinh vào ngày 5 tháng 11 năm 1968 đã phạm vào ngày xấu Nguyệt Kỵ. Các ngày xấu này sẽ phần nào ảnh hưởng đến cuộc đời Quý Bà nhiều hay ít sẽ còn lệ thuộc vào phúc đức của Quý Bà có. Quý Bà sinh mùa Đông chí (giữa đông), nhằm Trực Định. Quý Bà người nết na, được hưởng lộc của mẹ cha. Nhân từ, đức hạnh. Thanh liêm, Ôn hòa, Nhân duyên tự mình kén lấy. Quý Bà Sanh nhằm ngày Thiên Đế, có nhiều bạn bè anh chị em chơi chung, tánh hạnh hiền từ và vui vẻ, gái thì khắc chồng. Quý Bà cốt Cọp, không có phát đạt ở xứ cha mẹ sanh, đi xa xứ làm ăn khá, số đặng sang trọng, ăn mặc đầy đủ, luận mưu chi thì có đặng nấy, có quyền hành oai võ, ăn uống dễ, bất luận ngon dở Quý Bà có tánh thông minh có nghề đờn tinh thông, có danh tiếng và vui vẻ, đi đến đâu cũng được người trọng hậu quí thể. Quý Bà Số phạm Đản Mạng Sát, lúc cha mẹ mới sanh khó nuôi, hạng 3 năm và hạng 6 tuổi , hạng 12 tuổi nên qua khỏi thì đến năm 21, 31 tuổi nên ngừa số phận ai bi. Quý Bà số gặp Hao Cái, thì đặng có duyên, nhiều người thương, có phát đạt, tài giỏi, có lộc thực nhiều, người thân hay kính trọng. Quý Bà số gặp Kim Kê, tánh hạnh can đảm, văn chương giỏi, có nghề khéo, có danh tiếng lộc thực nhiều. Quý Bà Kiếp trước có tánh kiêu thái, khinh thị người, kiếp này hay đau trái tim đau ngũ tạng, trả quả, khắc cha mẹ, anh em, khó nuôi con, số này phải làm lành cho nhiều đặng giải oan thì đến 44 tuổi làm ăn đặng phát tài. Có điền viên sự nghiệp có chức phận, phải nên sửa tánh cho sớm. Số Quý Bà phạm Chánh Lộc tánh cần kiệm, đi lưu lạc xứ khác khi tuổi lớn làm ăn trở nên sự nghiệp, vợ chồng con cháu vui vẻ. Số Quý Bà phạm Toại Lộc tánh hạnh nhiều mưu kế, có tánh tham, xảo trá, anh em, vợ chồng con cháu có nhưhg không hòa hiệp. Quý Bà không có số nuôi heo và các lòai thú, nếu nuôi hay chết lắm, nếu không chết thì không sanh đẻ và nuôi không lớn nên rất bất lợi. Quý Bà số nhằm Chữ Phá, du cha mẹ cho ruộng đất cũng hết, rồi sau khi đền xứ khác lập lại cũng không thành, tại số khác điền địa, số không có ruộng. Cổ nhân nói rằng: ‘Hữu phước thì hữu Điền, vô phước thì vô điền’, bởi chữ phước có chữ điền. Sách cổ có câu nói rằng: ‘Đức năng thắng số’, dẫu số có đất đai mà không có đức dù có giữ gìn cũng không còn, muốn có đất đai trước phải bồi công tích đức sau mới có. Quý Bà học nhiều nhưng thông hiểu thì ít, cho nên cái sự học không nhờ giúp gì được cho ngày sau. Bất dĩ là học cho biết chữ để nói chuyện với đời đó thôi, chứ khó đỗ đạt. Quý Bà có số này thi kỳ nhì (lần hai) lấy được tiểu khoa, nhưng mà làm việc với thượng thẩm quan.

Quý Bà gặp số Đế Vượng, đường tình duyên trước sau trọn tốt.
Lời bình giải:
Khá nên tích đức thi công,
Sanh nhằm Đế Vượng phước hồng tương giao,
Hôn nhân gặp chỗ sang giàu,
Một đời thong thả cùng nhau phỉ nguyền,
Thiên nhiên sở định lương duyên,
Thượng hoà hạ lục miêng miêng đời đời,
Số này duyên nợ chẳng dời,
Thảnh thơi lo liệu an nơi gia đình.

Quý Bà sanh con, nuôi được phân nữa, nếu phước đức nhiều thì sanh con trai, còn ít thì đổi sang con gái. Số này chỉ xem riêng cho Quý Bà, còn số của người hôn phối nữa, hai bên cộng chung lại thì sẽ khác hơn số dự đoán. Nếu đứa con nào nó ưa cha hơn, thì là con của cha nó, còn đứa nào ưa mẹ hơn thì là con của mẹ nó, đó là cái quả tiền kiếp như vậy. Vợ chồng sinh con dư số định thì đó là quả báo tiền kiếp, bởi thế sinh trong số định thì nó có hiếu, còn sanh dư thì đó là con Trời, con Phật, con Ma, đó là con đi báo quả, đã không có hiếu còn hại cha mẹ. Quý Bà có huynh đệ là Đế Vượng, hãy xem câu thơ phía dưới thì rõ hào anh em kiết hung sẽ được tận tường.

Xem hào huynh đệ tương tàn,

May nhằm Đế Vượng phước nhằm trời ban,
Bàn tính khôn khéo lo toan,
Đấu tài thua trí là đành lập nên,
Số này huynh đệ đôi bên,
Hoặc khác cha mẹ dưới trên thuận hoà,
Số ta dù cách xứ xa,
Đến khi gián cảnh một nhà đoàn viên.

Xem tuổi ông Huỳnh đế biết sang hèn, Quý Bà sinh mùa Đông chí (giữa đông), được số này làm ăn khá, đặng khá công danh.

Câu thơ tả:

Sanh nhằm Huỳnh Đế ở hông,
Phước hồng thì đặng chờ trông làm giàu,
Thi thơ kinh sách thông thạo,
Số có khoa mục đặng hào công danh,
Lương duyên tơ tóc đặng thành,
Trăm năm chung hưởng phước sanh an hoà,
Làm ăn gặp đặng số nên,
Vợ chồng lo tính vậy mà đặng nên.

Quý Bà có số Phá Gia, Phàm nhằm số phá gia không ở nhà cha mẹ đặng phải đổi dời chỗ khác, mới lập đặng thành nghiệp, nếu ở nhà của cha mẹ thì bôn ba cực khổ lắm. Giờ sinh của Quý Bà Khắc mẹ: làm việc gì trước có sau không, không nhờ anh em, tuổi nhỏ bôn ba, lặn lội, cực trí, số khắc con, con không chừng , việc ăn mặt tuỳ thời có thời không.

-218
Tuổi : Đinh Dậu
Mạng : Sơn-Hạ-Hỏa.
Nam : thờ Cậu-Tài Cậu Quý độ mạng.
——–
Đoán xem số mạng như là,
Đinh Dậu mạng-Hỏa số ta như vầy.
Tuổi Kim mạng hỏa số này,
Tuổi cùng với mạng hai đây khắc rày.
Tánh nhát hay sợ hôm nay,
Nghe việc động tịnh lo hoài không an.
Tam linh biết trước rõ ràng,
Hồ nghi thì có bàng-hoàng chẳng sai.
Thị-phi mang tiếng thường hoài.
Nhiều lời nhiều tiếng ở ngoài dèm pha.
Tuổi xuân thời vận bôn ba.
Ngửa nghiêng cực nhọc số ta đổi dời.
Nửa đời đặng hưởng thảnh-thơi,
Của tiền phát đạt, vậy thời đặng nên.
Luơng duyên cách trở đôi bên,
Đời sau hội hiệp vững bền với nhau.
Tính hay vui vẻ bào hao,
Thương người trọng nghĩa quản bao nhơn-tình.
Ý người cứng cỏi một mình,
Chẳng chịu co uốn, chớ bình luận ai,
Hào con không trọn hôm nay.
Sanh đa dưỡng thiếu nuôi rày tốn hao.
Thien-Đức chiếu mạng Phước hào
Nhẹ điều tai nạn xăm vào bổn thân.
Nhưng phòng hình tội một lần,
Hoặc có tiểu bịnh là phần số ta.
Mạng không nghèo khổ vậy mà,
Dầu là tiểu phước cũng là ấm no.
Gia-đình hạnh-phúc bởi do hiền lành.

CẬU TÀI,CẬU QUÝ ĐỘ LÀ AI?
http://www.phongthuycongminh.com/…/cau-tai-cau-quy-do-la-ai-

Chồng tuổi Đinh Dậu vợ tuổi Mậu-Thân
(Chồng lớn hơn vợ 11 tuổi)
Hai tuổi này ở với nhau làm ăn đặng tốt, hào con rất-ít.
Tánh người vợ thông minh, hay giao thiệp,ưa kinh sách, bổn thân hay có tiểu bịnh tật, tánh tình chồng vợ hòa thuận, chung sống làm ăn tốt.

Dương Công Hầu

Ngày Sinh Dương: Thứ Hai ngày 26 tháng 08 năm 1957 Ngày Sinh Âm: Ngày Canh Ngọ, tháng Kỷ Dậu, năm Đinh Dậu (02/08/1957) Sinh giờ: Kỷ Mão (5:15) Giới tính và tuổi: Nam, Đinh Dậu, 62 tuổi Mệnh: Sơn Hạ Hỏa (lửa đom đóm) Cầm Tinh: Con gà, xuất tướng tinh con khỉ. Tiết khí: Sinh mùa Xử thử (Mưa ngâu) – Kinh độ mặt trời 150°

Bình Giải Chi Tiết
Quý Ông sinh mùa Xử thử (Mưa ngâu), nhằm Trực Khai. Quý Ông người long đong tứ bề. Nhưng tính tình vui vẻ. Quý Ông Sanh nhằm ngày Thái Âm, đi xa xứ có nhiều người kính trọng quí nhơn thương, 36 tuổi sắp lên vận thời làm ăn phát đạt. Quý Ông cốt Chó, người có tánh khẳng khái lắm, ít sợ ai, hay giúp đỡ với đời, ở đời hay có lòng bênh vực anh em và trung tính, không chịu lời nói nặng lời, ít có hoạn nạn, tuổi lớn trở nên sự nghiệp. Quý Ông có số làm Thầy, như có phước nhiều đặng làm quan, trong đời ăn mặc đầy đủ, người có tài và gần người sang trọng. Quý Ông Số này đặng Lục Hạp thì cha mẹ, anh em, bà con, làm ăn cũng đều thuận hạp cả, việc ăn mặc rộng rãi. Quý Ông số gặp Tướng Tinh, số có quyền hành, bỉnh cán, tuổi trẻ phát tài, lộc sớm, bề vợ chồng con cháu sung túc rất vinh hoa. Quý Ông Kiếp trước có tu niệm lành, nhỏ ác, lớn thiện lúc này lúc tuổi đang còn trả quả làm ác, thuở nhỏ phải chịu tàn khổ khắc 3 đời chồng vợ, ít con đi nhiều chỗ, không nhờ anh em, lúc 36 tuổi sắp lên làm ăn phát đạt, lập nên sự nghiệp có chức phận, cha mẹ sống không lâu. Số Quý Ông gặp Thiên At số người đặng sang trọng và đặng rảnh rang, làm ruộng, nuôi thú vật đều thịnh vượng. Số Quý Ông phạm Am Lộc ăn mặc có ít không nhờ anh em, gần người sang trọng, sự nghiệp không ở xứ cũ, tuổi lớn ăn ở đặng yên, làm ăn mới khá. Số Quý Ông phạm Bịnh Lộc hay có bịnh hoạn lắm, không ở xứ cũ tu hành không đặng, giữ tiết kiệm, đời cực khổ mà cũng nghèo. Quý Ông có số nuôi được trâu heo và các lòai thú nó sanh đẻ nhiều, nuôi mau lớn cái huê lợi ấy nó sanh thêm thịnh vượng. Quý Ông số nhằm Chữ Hướng, dầu ruộng đất cha mẹ cho cũng không cần gìn giữ đi đến đâu thấy rụông đất cũng không ham bởi thế cho nên, không giữ không tạo đặng, lo ăn mặc chơi bời đó thôi. Cổ nhân nói rằng: ‘Hữu phước thì hữu Điền, vô phước thì vô điền’, bởi chữ phước có chữ điền. Sách cổ có câu nói rằng: ‘Đức năng thắng số’, dẫu số có đất đai mà không có đức dù có giữ gìn cũng không còn, muốn có đất đai trước phải bồi công tích đức sau mới có. Quý Ông học nhiều nhưng thông hiểu thì ít, cho nên cái sự học không nhờ giúp gì được cho ngày sau. Bất dĩ là học cho biết chữ để nói chuyện với đời đó thôi, chứ khó đỗ đạt. Quý Ông gặp số Tử, đường tình duyên trước xấu sau tốt. Lời bình giải: Câu rằng phu phụ tình thâm, Phạm nay Chữ Tữ vương nhằm cho tháng, Vợ chồng không đặng hiệp hoà, Không trùng duyên nợ đâu mà bình an, Một đời thứ nhứt lo toan, Không lìa thì thác hai đàng biệt ly, Đời sau trọn nghĩa trọn nghi, Kết nguyền tơ tóc phải thì bền lâu. Quý Ông sanh con, nuôi được 1 đứa, nếu phước đức nhiều thì sanh con trai, còn ít thì đổi sang con gái. Số này chỉ xem riêng cho Quý Ông, còn số của người hôn phối nữa, hai bên cộng chung lại thì sẽ khác hơn số dự đoán. Nếu đứa con nào nó ưa cha hơn, thì là con của cha nó, còn đứa nào ưa mẹ hơn thì là con của mẹ nó, đó là cái quả tiền kiếp như vậy. Vợ chồng sinh con dư số định thì đó là quả báo tiền kiếp, bởi thế sinh trong số định thì nó có hiếu, còn sanh dư thì đó là con Trời, con Phật, con Ma, đó là con đi báo quả, đã không có hiếu còn hại cha mẹ. Quý Ông có huynh đệ là chữ Tử, hãy xem câu thơ phía dưới thì rõ hào anh em kiết hung sẽ được tận tường.

Luận xem chữ tử số này,
Khát hào huynh đệ đổi xây nghĩa tình,
Anh không đạo nghĩa phân minh,
Em chẳng nhơn tình chịu nhịn cho an,
Oai hùm làm giữ ngang tàng,
Ngoại nhơn thân thích nghịch hàng đệ huynh,
Số này không trọn nghĩa tình,
Đến khi buồn giận chốn kình lại nhau.

Xem tuổi ông Huỳnh đế biết sang hèn, Quý Ông sinh mùa Xử thử (Mưa ngâu), có số này tuổi trẻ đi đứng nhiều, 48 tuổi mới nên.
Câu thơ tả:
Ơ nơi đầu gối khổ ôi!,
Thuở trẻ cực khổ lôi thôi trăm bề,
Đi nhiều chân chẳng muốn về,
Xiết bao lao khổ chớ hề ngồi không.
Gia đàng trể nải không xong,
Đến bốn mươi tám tuổi mới hòng ngồi an,
Chừng ấy lo liệu gia đàng,
Trong ngoài đến đó vững vàng lập nên.

Quý Ông có số Hiệp Gia, nhà cửa lập đặng nguy nga tốt đẹp, người ăn nói đặng thông minh, mở mang, tuổi lớn 50 sắp lên thì thấy gia nghiệp tốt, của tiền lúa gạo nhiều. Giờ sinh của Quý Ông Khắc mẹ: làm việc gì trước có sau không, không nhờ anh em, tuổi nhỏ bôn ba, lặn lội, cực trí, số khắc con, con không chừng , việc ăn mặt tuỳ thời có thời không.

===================================

www.phuochoa.vn

Tuổi thờ Quan Công và Ngũ Công Vương Phật của Nam theo sách “Diễn Cầm Tam Thế” của soạn giả Dương Công Hầu

 

1934 GIÁP TUẤT Sơn đầu hỏa (Lửa trên núi) Quan công
1935 ẤT HỢI Sơn đầu hỏa (Lửa trên núi) Quan công
1938 MẬU DẦN Thành đầu thổ (Đất trên thành) Ngũ công Vương Phật
1939 KỸ MẸO Thành đầu thổ (Đất trên thành) Ngũ công Vương Phật
1944 GIÁP THÂN Tuyền trung thủy (Dưới giữa dòng suối) Quan công
1945 ẤT DẬU Tuyền trung thủy (Dưới giữa dòng suối) Quan công
1948 MẬU TÝ Tích Lịch Hỏa (Lửa sấm sét) Ngũ công Vương Phật
1949 KỶ SỬU Tích Lịch Hỏa (Lửa sấm sét) Ngũ công Vương Phật
1954 GIÁP NGỌ Sa trung kim (Vàng trong cát) Quan công
1955 ẤT MÙI Sa trung kim (Vàng trong cát) Quan công
1958 MẬU TUẤT Bình địa mộc (Cây ở đồng bằng) Ngũ công Vương Phật
1959 KỶ HỢI Bình địa mộc (Cây ở đồng bằng) Ngũ công Vương Phật
1964 GIÁP THÌN Hú đăng hỏa (Lửa ngọn đèn) Quan công
1965 ẤT TỴ Hú đăng hỏa (Lửa ngọn đèn) Quan công
1968 MẬU THÂN Đại dịch thổ (Đất thuộc 1 khu lớn) Ngũ công Vương Phật
1969 KỶ DẬU Đại dịch thổ (Đất thuộc 1 khu lớn) Ngũ công Vương Phật
1974 GIÁP DẦN Đại khê thủy (Nước dưới khe lớn) Quan công
1975 ẤT MẸO Đại khê thủy (Nước dưới khe lớn) Quan công
1978 MẬU NGỌ Thiên thượng hỏa (Lửa trên trời) Ngũ công Vương Phật
1979 KỶ MÙI Thiên thượng hỏa (Lửa trên trời) Ngũ công Vương Phật
1984 GIÁP TÝ Hải trung kim (Vàng dưới biển) Quan công
1985 ẤT SỬU Hải trung kim (Vàng dưới biển) Quan công
1988 MẬU THÌN Đại lâm mộc (Cây trong rừng lớn) Ngũ công Vương Phật
1989 KỶ TỴ Đại lâm mộc (Cây trong rừng lớn) Ngũ công Vương Phật
1994 GIÁP TUẤT Sơn đầu hỏa (Lửa trên núi) Quan công
1995 ẤT HỢI Sơn đầu hỏa (Lửa trên núi) Quan công
1998 MẬU DẦN Thành đầu thổ (Đất trên thành) Ngũ công Vương Phật
1999 KỶ MẸO Thành đầu thổ (Đất trên thành) Ngũ công Vương Phật
2004 GIÁP THÂN Tuyền trung thủy (Dưới giữa dòng suối) Quan công
2005 ẤT DẬU Tuyền trung thủy (Dưới giữa dòng suối) Quan công
2008 MẬU TÝ Tích Lịch Hỏa (Lửa sấm sét) Ngũ công Vương Phật
2009 KỶ SỬU Tích Lịch Hỏa (Lửa sấm sét) Ngũ công Vương Phật
2014 GIÁP NGỌ Sa trung kim (Vàng trong cát) Quan công
2015 ẤT MÙI Sa trung kim (Vàng trong cát) Quan công
2018 MẬU TUẤT Bình địa mộc (Cây ở đồng bằng) Ngũ công Vương Phật
2019 KỶ HỢI Bình địa mộc (Cây ở đồng bằng) Ngũ công Vương Phật
2024 GIÁP THÌN Hú đăng hỏa (Lửa ngọn đèn) Quan công
2025 ẤT TỴ Hú đăng hỏa (Lửa ngọn đèn) Quan công
2028 MẬU THÂN Đại dịch thổ (Đất thuộc 1 khu lớn) Ngũ công Vương Phật
2029 KỶ DẬU Đại dịch thổ (Đất thuộc 1 khu lớn) Ngũ công Vương Phật
2034 GIÁP DẦN Đại khê thủy (Nước dưới khe lớn) Quan công
2035 ẤT MẸO Đại khê thủy (Nước dưới khe lớn) Quan công
2038 MẬU NGỌ Thiên thượng hỏa (Lửa trên trời) Ngũ công Vương Phật
2039 KỶ MÙI Thiên thượng hỏa (Lửa trên trời) Ngũ công Vương Phật
2044 GIÁP TÝ Hải trung kim (Vàng dưới biển) Quan công
2045 ẤT SỬU Hải trung kim (Vàng dưới biển) Quan công
2048 MẬU THÌN Đại lâm mộc (Cây trong rừng lớn) Ngũ công Vương Phật
2049 KỶ TỴ Đại lâm mộc (Cây trong rừng lớn) Ngũ công Vương Phật
2054 GIÁP TUẤT Sơn đầu hỏa (Lửa trên núi) Quan công
2055 ẤT HỢI Sơn đầu hỏa (Lửa trên núi) Quan công
2058 MẬU DẦN Thành đầu thổ (Đất trên thành) Ngũ công Vương Phật
2059 KỶ MẸO Thành đầu thổ (Đất trên thành) Ngũ công Vương Phật
2064 GIÁP THÂN Tuyền trung thủy (Dưới giữa dòng suối) Quan công
2065 ẤT DẬU Tuyền trung thủy (Dưới giữa dòng suối) Quan công

Tượng ba ông: Quan Công ngồi giữa tay vuốt râu (đôi khi vẽ tay cầm kinh Xuân Thu). Sau lưng là Quan Bình giữ Ấn, Châu Thương (hay còn gọi là Châu Xương) tay cầm thanh long đao.

Tượng Ngũ công (hay Ngũ Công Vương Phật): Giống tượng ba ông, nhưng có thêm Trương Tiên cầm cung đứng sau Quan Bình và Vương Tiên Quân cầm Giản đứng sau Châu Thương.

WWW.PHUOCHOA.VN

Cậu tài cậu quý là ai!!!

PHỔ HIỀN BỒ TÁT độ mạng

Tuổi Bính Tuất, Đinh Hợi,        thờ Phật A Di Đà độ mạng .    Nữ thờ Chúa Ngọc Nương Nương .
Nam Bính Dần , Đinh Sưủ ,      thờ Hư Không Tạng Bồ Tát .    Nữ thờ Chúa Ngọc độ mạng
Nam Bính Thân         thờ Quan Âm Phổ Hiền Bồ Tát .   Nữ thờ Chúa Ngoc độ mạng
Nam Bính Tý             thờ Đức Thánh Trần Hưng Đạo .   Nữ thờ Thiên Thủ Quan Âm đô mạng
Nam Bính Thìn  , Đinh Tỵ   .      thờ Đức Thánh Trần Hưng Đạo .   Nữ thờ Quan Âm Phổ Hiền độ mạng
Nam Bính Ngọ         thờ Đức Thánh Trần Hưng Đạo .     Nữ thờ Đại Thế Chí Bồ Tát độ mạng
Nam Đinh Mùi         thờ Phật Thích Ca Mâu Ni .     Nữ thờ chúa ngọc độ mạng
Nam Đinh Mạo        thờ Đức Thánh Trần Hưng Đạo .     Nữ thờ Văn Thù Bồ Tát độ mạng
Nam Đinh Dậu         thờ Đức Thánh Trần Hưng Đạo .     Nữ thờ Chúa Ngọc độ mạng

 

 

Còn nam bộ thường thờ  Cau Tai , Cau Quy .

 

Nam Binh ty . binh dan . binh thin . binh ngo . binh than . binh tuat .
Đinh suu . dinh mao . dinh ty . dinh mui . dinh dau . dinh hoi.
Tho Cau Tai , Cau Quy . đo mang
Con Nư Binh , Nư  Đinh thơ Chua Ngoc Nương Nương đô mang.

1.Cầu tình duyên

 

-Chuyện những chàng trai, cô gái đã lớn tuổi mà vẫn chưa có gia đình, hay đến mức còn chưa có người yêu đều không phải là do chủ quan chưa muốn có gia đình hay người yêu của người đó. Thực tế của vấn đề chưa có tình duyên hay chưa lập gia đình khi tuổi đã lớn là do yếu tố chưa kích hoạt được cung nhân duyên trong ngôi nhà.

-Để cầu duyên cho những chàng trai, cô gái đã lớn tuổi mà chưa có người yêu hay “khó lấy”, Thì có 1 phương pháp rất hiệu nghiệm và tác dụng nhanh khi kết hợp với các linh vật phong thủy. Nếu áp dụng đúng thì chỉ trong vòng thời gian ngắn sẽ có kết quả ngay:

1-Xác định cung mệnh của người cần tình duyên hôn nhân.

2-Xác định Hướng Cung vị tạo nên khí “Diên Niên” của người đó trong ngôi nhà.

3-Đặt giường ngủ của người đó tại cung “Diên Niên”, quay về hướng Sinh Khí hoặc Diên Niên.

4-Đặt bếp lò quay lưng về phương lục sát hoặc phương hung so với mệnh chủ nhà, và bếp hướng về phương Diên Niên.

 

-Nếu Xử lý phong thủy đúng như trên thì thời gian ứng nghiệm sớm nhất là nửa năm.

 

 

2.Cầu tài

 

-Việc nhiều người cố gắng “đi cầu đi xin lộc” từ đền này hay điện khác mà vẫn không có lộc, cũng như việc cố gắng vất vả làm ăn dù đã bỏ ra bao nhiêu công sức mà kết quả thì không được bao nhiêu, thậm chí còn bị thua lỗ. Việc làm ăn thua lỗ hay kinh doanh không gặp cũng như không có tài lộc, xét từ nhiều góc độ thì có rất nhiều lý do, nhưng những lý do chính là  Phong thủy nhà chưa tôt, mồ mả tổ tiên không được huyệt đẹp hay địa khí vượng…

 

 

 

-Với thuật kích hoạt tài lộc làm ăn cho gia chủ bằng các linh vật phong thủy bí quyết sau thì gia chủ sẽ nhanh chóng phát tài phát lộc và trở nên giàu có:

1-Đặt một lọ có chứa 10 loại nước thối (lắp kín không để có mùi bay ra ngoài) tại nhà vệ sinh ở cung xấu so với bản mệnh chủ nhà ( tuyệt mệnh, ngũ quỷ, lục sát, họa hại).

2-Đặt bếp quay lưng về phương vị hung so với bản mệnh chủ nhà và mặt bếp hướng về phương Sinh khí. Thời gian ứng nghiệm là 1 tháng sau sẽ được lộc nhỏ, 3 tháng sau sẽ được lộc lớn, 1 năm sau sẽ được đại lộc. Thời gian ứng nghiệm thuộc vào các tháng, năm: Hợi, Mão, Mùi.

3-Đặt bếp quay lưng về phương vị hung so với bản mệnh chủ nhà và mặt bếp quay về phương Thiên y thì sẽ phát tài lớn, thời gian phát lộc ứng nghiệm vào các tháng, năm: Thân, Tý, Thìn.

4-Đặt bếp quay lưng về phương vị hung so với bản mệnh chủ nhà và mặt bếp quay về phương vị Diên Niên thì sẽ phát tài trung bình, thời gian phát lộc ứng nghiệm vào các tháng, năm: Tị, Dậu, Sửu.

5-Đặt bếp quay lưng về phương vị hung so với bản mệnh chủ nhà và mặt bếp hướng về phương Phục vị thì sẽ phát tài nhỏ, thời gian ứng nghiệm vào tháng, năm: Hợi, Mão, Mùi.

 

 

3.Cầu tự (cầu con)

-Trong thực tế có nhiều đôi vợ chồng dù lấy nhau được nhiều năm mà vẫn chưa có con, cho dù cả vợ chồng đi khám đều có khả năng sinh con và không có bệnh tật gì. Vậy nguyên nhân tại đâu? – Thật ra vấn đề này lại là ở phong thủy nhà chưa đúng Trước tiên là do đặt bể phốt, bể nước ngầm, đào giếng, tai cung bản mệnh hoặc cung đào hoa cộng với hướng nhà không tốt đã làm cho việc hiếm con trở nên trầm trọng và khiến vợ chồng lo lắng. cũng vì thế mà có nhiều trường hợp đã ly hôn vì chuyện không có con.

 

-Phương pháp cầu con  mà các nhà phong thủy đã đúc kết từ xa xưa

1-Đặt bếp, nhà quay lưng về phương vị hung so với bản mệnh chủ nhà và mặt bếp hướng về phương Sinh khí. Sẽ có 5 người con trai.

2-Đặt bếp, nhà quay lưng về phương vị hung so với bản mệnh chủ nhà và mặt bếp quay về phương Thiên y. Sẽ có 4 con trai.

3-Đặt bếp, nhà quay lưng về phương vị hung so với bản mệnh chủ nhà và mặt bếp quay về phương vị Diên Niên. Sẽ có 3 con trai.

-Phương pháp cầu con hiệu quả nhanh nhất và phức tạp nhất: Quay lưng bếp về phương vị hung so với mệnh chủ và hướng mặt bếp về phương vị phục vị. Chờ Sao thiên Ất Quý Nhân bay đến hướng phục vị sẽ có con ngay.

-Cách Tính Sao : Thiên ất quý nhân dựa vào sự di chuyển của Sao lưu niên. Tức là sự di chuyển của chín ngôi sao trong Huyền Không Phi Tinh theo năm. Sao Thiên Ất Quý Nhân là sao Nhị Hắc.

-Ví dụ: Người chồng sinh năm 1974, cưới năm 2007 đến 2009 vẫn chưa có con. Sau khi Đặt hướng bếp quay lưng về phía lục sát và mặt quay  về phía đông bắc tạo nên khí phục vị. Kết quả năm 2010 do có sao Nhị hắc ( Sao Thiên Ất Quý Nhân) Bay đến phương đông bắc nên trong năm đã sinh con.

 

 

Chú ý: Để các phương pháp cầu duyên, cầu tài, cầu con đạt được hiệu quả thì độc giả nên nhờ người am hiểu sâu về phong thủy để tính toán và xử lý theo bí quyết và xử lý hợp mệnh gia chủ đạt hiệu quả điều cần cầu mong.Trước khi chuyển táo môn cần phải có văn pháp cầu an đức táo mới được.

 

 

Nội kinh y thư

Nội kinh là bộ sách đứng hàng đầu trong y thư, nội dung rất uyên thâm và mang tính triết lý của dịch học, bao hàm nhiều mặt khác nhau trong nghiên cứu và ứng dụng.
Lương y Mã Kiếm Minh

Nói về dưỡng sinh, các bậc danh y thời xưa không chỉ nhấn mạnh vào tính bổ dưỡng trong thực phẩm mà còn khuyến khích người ta đi tìm sự thanh tao trong tinh thần.

Chữ “Điềm tĩnh” (恬) là kết hợp của chữ “tâm” và chữ “lưỡi”, ý là tâm tư nằm ở lưỡi qua cảm nhận hương vị của thức ăn, vì thế giải pháp là “buông bỏ mọi thứ” để cảm nhận được vẻ đẹp của cuộc sống (giảm bớt dục vọng – ND).

Như vậy, phải làm thế nào để đạt đến “sống đạm bạc, tâm thanh tịnh, tinh thần vững vàng?” Phải loại bỏ tạp niệm và phiền não như thế nào? Hoàng đế nội kinh tổng kết phương pháp điều dưỡng tinh thần bằng 9 chữ:

“Mỹ kỳ thực, nhậm kỳ phục, lạc kỳ tục”
(美其食、任其服、乐其俗).

Phiền não của con người xuất phát từ lòng tham vô đáy, tuy cuộc sống không thể không “ăn, mặc, ở, đi lại”, nhưng một khi quá tham có thể khiến những chuyện đơn giản này làm lu mờ lý trí, làm tính cách trở thành ngông cuồng. Vì thế Hoàng đế nội kinh dùng 9 chữ này để cảnh báo về thái độ sống cho mọi người.

“Mỹ kỳ thực” chính là lấy khởi điểm từ bản năng “ăn” của con người, cho dù ngày nay ăn là cao lương mỹ vị hay rau cháo đạm bạc đều phải biết tận hưởng bằng “tâm”, hãy quên đi “vị” bên ngoài, vì ăn gì không quan trọng, quan trọng là cảm nhận được tình thân ruột thịt, quê hương, niềm vui tương phùng và tấm chân tình đồng cam cộng khổ.

“Nhậm kỳ phục” có ý là “Anh hoa phát tiết ra ngoài” chứ không nên nhìn vào cách ăn mặc hào nhoáng và thời thượng của một người.

“Lạc kỳ tục” là nhấn mạnh cho dù địa vị xã hội như thế nào cũng nên vui vẻ tự tại, có tinh thần không bị ràng buộc bởi những thứ thế tục.

Sức khỏe là quan trọng nhất, vì không có sức khỏe thì mọi thứ chỉ là mây nổi. Hoàng đế nội kinh thì cho rằng “có đủ hình và thần” thì mới có thể “sống hết tuổi trời, trăm năm mới đi” (tận chung kỳ thiên niên, độ bách tuế nãi khứ), khuyên mọi người hãy chiến thắng con quỷ dục vọng vô đáy để tận hưởng tuổi thọ trời cho!

Thời thượng cổ, những người biết phép dưỡng sinh, biết thích ứng theo quy luật biến hóa âm dương của trời đất, biết điều hòa ứng dụng các thuật dưỡng sinh, ăn uống có điều độ, làm việc nghĩ ngơi có giờ giấc, không quá lao lực, phòng sự, cho nên tinh thần và thể chất đều sung mãn, trọn hưởng tuổi đời, thọ trăm tuổi mới khuất. Người đời nay không phải thế, họ lấy rượu thay nước uống, lấy hành động sai quấy làm thói quen, đang lúc say rượu lại nhập phòng, vì buông thả dâm dục quá độ mà làm tinh khí khô kiệt, hao tán chân nguyên, không biết giữ cho tinh khí sung mãn, thường không biết cách tự chủ lấy tinh thần của mình, chỉ vì muốn thỏa lòng ham muốn nhất thời mà làm trái với lạc thú sinh hoạt bình thường, sống làm việc nghỉ ngơi không chừng mực, tuổi mới năm mươi mà sức khỏe đã suy rồi.

ST

Hoàng Đế Nội Kinh Tố Vấn – Toàn Tập

Cinque Terre

NÊN sao chép, chia sẻ, KHÔNG NÊN thương mại hoá.
=========================

LƯƠNG Y Nguyễn Đức Nghĩa vào nơi được ‘mật báo’ có cây thuốc quý

Lương y Nguyễn Đức Nghĩa vào nơi được "mật báo" có cây thuốc quý

Một mình một “ngựa” là chiếc Vespa đời cũ nhưng máy còn tốt, cùng lỉnh kỉnh đồ nghề không thể thiếu với người đi rừng tìm thuốc, gồm xẻng nhà binh đa năng (có thể sử dụng như dao, cuốc), ống nhòm, máy ảnh, hộp thuốc, đồ ăn… Chuyến đi lần này của lương y Nguyễn Đức Nghĩa nhắm rừng Đạ Tẻh, Lâm Đồng, nơi được “mật báo” có cây thuốc quý. Trời mưa, đường rừng lầy lội, trơn trượt, nhiều khi bánh xe không bám đường đưa cả người lẫn xe xuống vũng lầy…

Mạo hiểm lên non

Mưa rừng ướt sũng rồi lại khô, có khi ngày dính mưa ba bốn bận. Sức khỏe dẻo dai giúp lương y Nguyễn Đức Nghĩa ít khi lâm bệnh giữa rừng nhưng thi thoảng anh vẫn phải qua đêm trong rừng những khi thành viên trong đoàn nhiễm bệnh hoặc ráng đào thêm cây thuốc. Bây giờ ở đêm trong rừng ít nguy hiểm. Trước đây ngoài nỗi lo rừng thiêng nước độc, thú dữ, còn nỗi lo lâm tặc. Ngay cả chính quyền địa phương cũng chặn bắt vì lầm tưởng là lâm tặc. Còn lâm tặc tưởng anh là kiểm lâm, đặc tình của công an, ẩn giấu thân phận lương y, lần mò điều tra chuyện làm ăn của chúng.

Tại những bản làng Tây Nguyên heo hút, lần đầu tiên trong đời họ thấy một ông tự xưng là lương y, cách năm trăm cây số ở tận Sài Gòn lặn lội lên rừng tìm cây thuốc. Lâm tặc càng không tin trên đời có kẻ làm công việc vô nghĩa, mạo hiểm tính mạng chỉ vì mấy nắm lá, túi rễ cây hoặc củ quả đắng nghét của những loại cây quái lạ, vớ vẩn… Với họ chỉ đáng mạo hiểm tính mạng khi cây đó là những khối gỗ tròn, hạ xuống là bán ra tiền.

Bây giờ nguy hiểm ít hơn nhưng không phải đã hết. Vừa đi anh vừa kể, giờ đi rừng không sợ thú dữ nhưng sợ nhất là đạp nhầm bẫy thú của bà con dân tộc. Có đủ loại bẫy, từ bẫy đập, bẫy treo, tới bẫy hầm, bẫy kẹp… Đạp trúng bẫy kẹp nếu không có người đi cùng, coi như trao mạng cho trời, vì hai ngoàm răng cưa sắt sắc lẻm với lực cực mạnh có thể đánh gãy nát ống chân các loài thú lớn như trâu rừng, hổ, gấu. Dính bẫy kẹp có thể chảy máu đến chết trước khi được cứu. Ngay cả với loại đơn giản như bẫy treo dùng để bắt nai, heo rừng, nếu bị thòng lọng treo ngược toòng teeng một chân lên trời, là là cách mặt đất khoảng một mét nhưng một mình cũng không thể tự giải thoát được.

Anh luôn nhắc thành viên trong đoàn phải đi theo lối mòn, ý tứ nhìn ngó trước sau, vừa giảng giải chi tiết cấu trúc các loại bẫy để phòng tránh. Cũng nhờ kinh nghiệm mà anh tránh được những bệnh mà hầu hết người đi rừng dễ mắc phải. Đi sâu vào rừng không hiếm gặp những dòng suối, hồ nước trong tới đáy, xanh ngăn ngắt, cả những thác nước đẹp mê hồn. Trời thì nắng, rừng lại ẩm thấp, đi lại mệt nhọc, bức bối, anh em một mực đòi nhảy xuống hồ tắm cho thỏa thích. Nhưng lương y Nghĩa cản: “Trông vậy thôi chứ suối này độc vô cùng. Anh em ráng nhịn, về tắm. Người nào xuống suối tắm, chỉ nửa tiếng sau sẽ thấy người lạnh run, sốt rét liền, không đi được”. Suối, hồ càng trong, ít người lai vãng nước càng độc, càng dễ mắc bệnh sốt rét.

Kể từ chuyến đi rừng tìm thuốc đầu tiên tại những cánh rừng tỉnh Phú Khánh cũ vào năm 1983, lương y Nghĩa “nghiện” vào rừng. “Tính đến nay không biết tôi đi bao nhiêu chuyến, không tính được, nhưng phải trong khoảng hai trăm tới ba trăm chuyến” – lương y Nghĩa chia sẻ.

“Mình hay dùng vị thuốc tên là thiên môn đông, học trò đào trên rừng mang về bào chế. Chỉ để qua một hai đêm chưa kịp bào chế nó đã nhũn ra, nhưng mua trên thị trường, để hai ba tháng không bị mối mọt gì, chứng tỏ họ dùng rất nhiều chất bảo quản, uống vào rất nguy hiểm”.
Lương y Nguyễn Đức Nghĩa

Những cánh rừng Sông Ray, Xuyên Mộc, Bình Châu, Mã Đà, Cát Tiên, Tánh Linh, Bù Gia Mập, U Minh, Bạch Mã, cả những dải rừng biên giới phía Bắc cũng dần trở thành quen thuộc. Lương y Nghĩa đã hai lần lên tận đỉnh Fansipan để tìm cây thuốc đem “hạ thổ” tại vườn nhà Đà Lạt, quận 9 (TPHCM) và Long Thành (Đồng Nai).

Lương y phải biết cây thuốc

Chuyến đi rừng tìm cây thuốc đầu tiên của lương y Nguyễn Đức Nghĩa vào những năm đất nước bộn bề khó khăn, le lói trong anh ý tưởng dùng cây thuốc Nam chữa bệnh. Từ đó cơ duyên đưa anh tới gặp dược sĩ, giáo sư, tiến sĩ Đỗ Tất Lợi, người dành cả cuộc đời cổ súy chủ trương “Nam dược trị Nam nhân”.

Thầy trò như cá gặp nước. Thầy chuyên tìm kiếm, phát hiện, bảo tồn các loại cây thuốc, vị thuốc khắp rừng sâu núi thẳm, trò là lương y trẻ đem cây thuốc cứu người. Theo gợi ý của thầy, lương y Nguyễn Đức Nghĩa mở Phòng khám y học cổ truyền Tuệ Lãn ngay tại nhà thầy ở quận 3, TPHCM. Phòng mạch hiện nay lúc nào cũng đông khách, là nơi ghé thăm, tụ tập của bệnh nhân và cả những bạn bè, thân hữu, học trò của anh từ khắp mọi miền.

Lương y Nguyễn Đức Nghĩa bốc thuốc cho bệnh nhân tại phòng mạch. Ảnh: T.Đ

Nối chí thầy, ngoài việc hằng ngày bắt mạch khám chữa bệnh, anh không quên nghe ngóng, tìm hiểu những cây thuốc, vị thuốc còn lẩn khuất đâu đó trong dân gian. Lương y Nghĩa hồi tưởng: “Xưa thầy Lợi nghe có cây thuốc ở đâu là bồn chồn đứng ngồi không yên, phải đi cho bằng được. Giờ mình cũng nhiễm thói quen của thầy”.

Anh quan niệm, là lương y phải biết cây thuốc, tác dụng chữa bệnh, cách bào chế. Vì sao anh ít sử dụng dược liệu có sẵn trên thị trường bởi đối với anh thuốc phải sạch, đảm bảo, có nguồn gốc. Muốn vậy tốt nhất là tự đi tìm cây thuốc về bào chế. Khi đã hành nghề lâu năm, anh càng thấy chủ trương sử dụng thuốc Nam là đúng.

Thị trường dược liệu, nhất là dược liệu nhập khẩu lạm dụng chất bảo quản, không đảm bảo nguồn gốc. 50% dược liệu nhập từ nước ngoài, không rõ chất lượng, nguồn gốc xuất xứ nhưng thấm đẫm chất bảo quản.

“Mình hay dùng vị thuốc tên là Thiên môn đông, học trò đào trên rừng mang về bào chế. Chỉ để qua một hai đêm chưa kịp bào chế nó đã nhũn ra, nhưng mua trên thị trường, để hai ba tháng không bị mối mọt gì, chứng tỏ họ dùng rất nhiều chất bảo quản, uống vào rất nguy hiểm” – lương y Nghĩa chia sẻ.

Ông Nghĩa vui mừng vì đào được củ bình vôi khổng lồ nặng 120kg tại rừng Khánh Sơn, Khánh Hòa

Sau những chuyến đi, anh đã sưu tầm được hơn 1.000 cây thuốc, nhiều loài nằm trong sách đỏ, có nguy cơ tuyệt chủng cao. Những cây thuốc này anh vừa bào chế thành dược liệu để chữa cho bệnh nhân, vừa cung cấp cho các trung tâm, vườn ươm trồng dược liệu trong cả nước để bảo tồn nguồn gien vừa khai thác lâu dài. Riêng anh cũng gây dựng được hai vườn dược liệu ở quận 9, TPHCM và Long Khánh, Đồng Nai rộng hàng ngàn mét vuông. Trong khu vườn dược liệu rộng ở quận 9 anh tự hào đã trồng, thích nghi được nhiều giống cây thuốc quý từ mọi miền đất nước.

Trong đó có hai loại cây thuốc quý ở miền núi phía Bắc ở độ cao trên 1.000m đã thích nghi và phát triển tốt là đảng sâm chữa suy nhược cơ thể cùng nhiều loại bệnh khác và giảo cổ lam ngừa ung thư và chữa các bệnh tiểu đường, gan, mỡ nhiễm máu rất hiệu nghiệm. Giảo cổ lam đến nay chưa thấy ai trồng được ở phương Nam. Vườn thuốc của lương y Nghĩa trồng tới 200 loại cây thuốc quý từ thông thường tới khó tính, trở thành vườn thuốc kiểu mẫu được nhiều nhà dược học, các sinh viên dùng làm đề tài tốt nghiệp dược sĩ.

Từng để lại dấu chân khắp các vùng miền tìm cây thuốc, vị thuốc, điều lương y Nguyễn Đức Nghĩa còn băn khoăn về nguy cơ tuyệt chủng của nhiều nguồn gien thuốc quý bởi sự tàn phá và khai thác ồ ạt của con người. Chẳng hạn cây mật nhân được coi chữa bách bệnh, với tốc độ khai thác hiện nay chỉ 10 năm nữa là hết. Rồi khắp nơi làm thủy điện, phá rừng làm rẫy, nuôi tôm, làm resort… triệt phá không biết bao nhiêu cây thuốc. Anh biết sức người là hữu hạn, chỉ mong có cá nhân, tổ chức cùng chung tay bảo tồn, tái tạo, phát triển cây thuốc. “Quanh ta có rất nhiều cây thuốc quý, đủ dùng trong nước và cả xuất khẩu” – lương y Nguyễn Đức Nghĩa tâm sự.

Vườn thuốc của lương y Nguyễn Đức Nghĩa ở Đà Lạt, TPHCM, Đồng Nai có nhiều cây thuốc quý ở quy mô thu hoạch để bào chế thuốc như sâm cau (Tây Nguyên), dây bướm bạc, lưỡng diện châm (miền Trung), giảo cổ lam, hoàng tinh, bách hợp, tục đoạn, hoàng liên, lan gấm, ngọc trúc, đảng sâm, ngũ gia bì hương (vùng núi phía Bắc). Anh đã lấy giống, đem trồng, nhân rộng thành công nhiều loại cây thuốc quý trên mảnh đất phương Nam.

—————

Quân tử hay tiểu nhân?

Thời Xuân Thu, một hôm Lâm Ký mặc quần áo da thú vào triều gặp Tề Cảnh Công. Tề Cảnh Công thấy vậy mới hỏi: “Đây là y phục của người quân tử hay là của kẻ tiểu nhân?”.

Lâm Ký nghe xong đáp: “Làm người thì đâu thể chỉ dựa vào áo quần mà có thể phân biệt được người quân tử hay kẻ tiểu nhân? Xưa kia người nước Sở thân đeo trường kiếm, đầu đội mũi cao, vậy mà lại sinh ra Lệnh Doãn Tử Tây. Người nước Tề mặc áo ngắn, đội mũ quan dở dang lại sinh ra Quản Trọng, Thấp Bằng, hiền tài nhân đức. Nước Việt thích xăm mình, cắt tóc nhưng lại sinh ra Phạm Lãi, Văn Chủng tài giỏi. Dân chúng Tây Nhung mặc áo vắt chéo vạt trước sang bên trái còn tóc buộc chặt như xương cốt lại có thể sinh ra một Do Dư. Nếu như quân tử giống như lời đại vương nói, vậy người mặc áo da chó thì phải học tiếng kêu của chó, mặc áo da dê thì phải học tiếng kêu của dê. Hơn nữa đại vương còn mặc áo hồ ly, da cừu thế phải chăng cũng cần thay đổi?”.

Tề Cảnh Công nghe vậy nói: “Khanh quả thật là người dũng cảm, tài cán. Trước nay ta vẫn chưa từng thấy ai có kỳ tài biện luận như khanh. Chỉ là khanh vẫn chỉ biện luận trong nhà, vẫn còn có thể chiến thắng cả ngàn nước khác”.

Lâm Ký nghe vậy đáp: “Thần không hiểu rõ ý dũng mãnh của đại vương đây là gì. Khi trèo lên chỗ cao, mắt không chớp, chân không run, đó là cái dũng của người làm mộc. Chui vào hang sâu bắt giao long, ba ba, đó là cái dũng của người đánh cá. Đi vào rừng sâu, bắt hổ đánh cọp, đó là cái dũng của người thợ săn. Không sợ gian nguy, đầu rơi máu chảy lao vào quân thù, kiên cường chiến đấu vì quê hương, đó là cái dũng của bậc võ tướng nước ta. Hôm nay thần đứng giữa điện rộng đài cao mà dùng lời lẽ nghiêm chính, thần sắc nghiêm trang mà mạo phạm quyền uy của quân vương. Phía trước ngựa xe ban thưởng cũng không làm cho tâm thần dao động, phía sau có búa rìu uy hiếp thì thần cũng không vì đó mà hoang mang hoảng hốt. Đây phải chăng chính là cái dũng của thần”.

Lâm Kỳ đối diện với uy quyền của quốc vương mà không kiêu không sợ, ngôn lời chính trực dẫn dắt những điển cố để thay cho điều muốn nói.

Người có thể dùng lời nói khéo léo mà chỉ ra cái được cái mất, điều hay lẽ phải mà không làm tổn thương người khác, ấy chính là bậc có tài hùng biện, cũng chính là cái trí của bậc trượng phu.

See More

Fire and Fury Michael Wolff pdf

Vanhuong Nguyen <

Tệp đính kèm7 thg 1 (6 ngày trước)

tới Ky, dinh, Dinh, minh, VIET, dinh, chuducle, tôi, Lang, lap, Hanh-c119, huetle, ngô, Trần, duong, Huuthang, Chot, khanh, Nhi

Cuốn sách  đang Hot nhất.

Wolff, Michael_ Fire and Fury

Some content on this page was disabled on March 11, 2018 as a result of a DMCA takedown notice from Macmillan. You can learn more about the DMCA here:

https://en.support.wordpress.com/copyright-and-the-dmca/

Yi King, le Livre des Mutations

Yi Jing Table des matières – Yi King, le Livre des Mutations

Ce dispositif de 64 hexagrammes et de leurs commentaires et transformations est à la source de la pensée chinoise. Tr. Wilhelm (en, fr).

































































01¬02
03×04 05×06 07×08
09-10 11×12 13×14
15-16 17-18 19-20
21-22 23-24 25-26
27¬28 29¬30
31-32 33-34
35×36
37-38 39-40 41-42
43-44 45-46 47-48
49-50 51-52 53-54
55-56 57-58 59-60
61¬62 63¬64

Au hasard
6, yin mut.
7, yang
8, yin
9, yang mut.

Au hasard
6, yin mut.
7, yang
8, yin
9, yang mut.

Au hasard
6, yin mut.
7, yang
8, yin
9, yang mut.

Au hasard
6, yin mut.
7, yang
8, yin
9, yang mut.

Au hasard
6, yin mut.
7, yang
8, yin
9, yang mut.

Au hasard
6, yin mut.
7, yang
8, yin
9, yang mut.


pile pile pileface pile pileface face pileface face face

Histoire du livre ↓ Les Hexagrammes ↓ Les Trigrammes ↓ Tirage ↓ Confer ↓

Présentation

Les 64 hexagrammes disposés en cercle et en carré

(Extraits de l’Introduction de Richard Wilhelm à sa traduction du Yijing) « Le Livre des Transformations, en chinois Yi King [pinyin : Yijing], appartient incontestablement aux livres les plus importants de la littérature universelle. Ses origines remontent à une antiquité mythique. Il occupe aujourd’hui encore [dans les années vingt] l’attention des plus éminents lettrés de la Chine. Presque tout ce qui a été pensé de grand et d’essentiel pendant plus de 3 000 ans d’histoire de la Chine, ou bien a été inspiré par ce livre, ou bien, inversement, a exercé une influence sur son interprétation, au point que l’on peut affirmer en toute tranquillité que le Yi King contient le fruit de la sagesse la plus achevée de plusieurs millénaires. Il ne faut donc pas s’étonner si, en outre, les deux branches de la philosophie chinoise, le confucianisme et le taoïsme, ont ici leurs communes racines. […] »

« Le grand renom de sagesse qui entoure le Livre des Transformations a, sans aucun doute, été cause qu’un grand nombre d’enseignements mystérieux dont la source se trouvait dans d’autres courants de pensée – peut-être même certains étaient-ils d’origine étrangère à la Chine – ont pu, avec le temps, venir se greffer sur la doctrine primitive. A partir des dynasties Tsin et Han, on a vu naître et progresser une philosophie formelle de la nature qui a enserré l’univers intellectuel tout entier dans un système de symboles numériques, et enclos toujours plus étroitement la vision chinoise du monde tout entière dans des formes rigides, en combinant une doctrine, développée avec rigueur, du Yin et du Yang où l’on discerne l’empreinte d’un dualisme, avec les « cinq états de transformation » tirés du Livre des Annales [Shujing]. C’est ainsi que des spéculations cabalistiques toujours plus alambiquées ont enveloppé le Livre des Transformations d’un nuage de mystère. Enfermant le passé et l’avenir tout entiers dans leur schéma numérique, elles ont conféré au Yi King la réputation d’un livre d’une profondeur totalement incompréhensible. […] »

« Le Livre des Transformations était à l’origine une collection de signes à usage d’oracles. Les oracles étaient partout en usage dans l’antiquité et les plus anciens d’entre eux se limitaient aux réponses « oui » et « non ». Ce type de jugement oraculaire se trouve également à la base du Yi King. Le « oui » était exprimé par un simple trait plein ===== et le « non », par un trait brisé == ==. Cependant la nécessité d’une différenciation plus grande paraît s’être fait sentir de très bonne heure et les traits simples donnèrent naissance à des combinaisons par redoublement auxquelles un troisième élément vint encore s’ajouter, produisant ainsi la série des huit trigrammes. »

Le symbole des trigrammes

« Ces huit signes furent conçus comme les images de ce qui se passe dans le ciel et sur la terre. Cette manière de voir était gouvernée par la pensée d’une transformation incessante des signes l’un dans l’autre, tout comme on voit, dans l’univers, les phénomènes passer constamment d’une forme dans une autre. Nous tenons là l’idée fondamentale et décisive du Livre des Transformations. Les huit trigrammes sont des signes d’états de passage changeants, des images qui se transforment continuellement. Ce que le Yi King a en vue, ce ne sont pas les choses dans leur essence – comme ce fut principalement le cas en Occident –, mais les mouvements des choses dans leur transformation. Ainsi les huit trigrammes ne sont pas les figures des choses, mais celles des tendances de leur mouvement. Ces huit images ont pu recevoir en outre de multiples interprétations. Elles ont représenté certains phénomènes dont la nature correspondait à leur propre essence. Elles ont également formé une famille composée du père, de la mère, de trois fils et de trois filles, non au sens mythologique, comme, si l’on veut, l’Olympe est peuplé de dieux, mais dans un sens en quelque sorte abstrait où elles représentaient non des choses, mais des fonctions. » Cf. Wilhelm (Perrot) p. 3-6

Histoire du livre

Fo hi (Fuxi) et Nu Gua, couple des fondateurs mythiques de la civilisation chinoise, estampage d'un relief du temple Wu-liang au Shandong

« La littérature chinoise attribue la composition du Yi King à quatre saints personnages: Fo Hi, le roi Wen, le duc de Tchéou et Confucius. Fo Hi est une figure mythique, le représentant de l’ère de la chasse, de la pêche et de l’invention de la cuisson. Quand il est désigné comme inventeur des trigrammes, cela signifie qu’on assignait à ces figures une antiquité telle qu’elle précédait tout souvenir historique. Les huit trigrammes primitifs ont également des noms qui n’apparaissent pas ailleurs dans la langue chinoise, ce qui a fait conclure à leur origine étrangère. En tout cas, ces signes ne sont pas d’anciens caractères d’écriture, comme on a voulu le déduire de leur concordance mi-fortuite, mi-consciente, avec tel ou tel ancien caractère. »

« On rencontre très tôt les trigrammes combinés entre eux. Mention est faite de deux collections remontant à l’antiquité : le Yi King de la dynastie des Hia [Xia, 2205-1766 av. J.-C., suivant la tradition], appelé Lien Chan, qui aurait débuté par le trigramme Ken, l’immobile, la montagne, et celui de la dynastie des Chang [Shang, 1766-1150 av. J.-C., suivant la tradition] appelée Kouei Tsang qui commence avec K’ouen, le réceptif, la terre. Confucius signale en passant cette dernière circonstance comme historique. Il est difficile de dire si les 64 hexagrammes existaient dès cette époque et, dans l’affirmative, s’ils étaient les mêmes que ceux de l’actuel Livre des Transformations. »

Le roi Wen« Notre collection des 64 hexagrammes provient, suivant la tradition générale que nous n’avons aucune raison de mettre en doute, du roi Wen, ancêtre de la dynastie Tchéou (Zhou, 1150-750 av.J.C.). Il les dota de brefs jugements alors qu’il était détenu en prison par te tyran Tchéou Sin. Le texte ajouté aux différents traits est dû à son fils, le duc de Tchéou. Cet ouvrage fut utilisé comme livre d’oracles pendant toute l’époque des Tchéou sous le titre de « Transformations de Tchéou » (Tchéou Yi Zhouyi), ce qui peut être prouvé à l’aide de témoignages historiques de l’antiquité. Tel était l’état du Livre lorsque Confucius le découvrit. Il se consacra à son étude assidue dans son grand âge et il est très vraisemblable que le « Commentaire sur la décision » (Touan Tchouan) a été composé par lui. Le « Commentaire sur les images » remonte également à lui, bien que de façon moins immédiate. Par contre, il existe un commentaire sur les différents traits, d’un grand intérêt et très détaillé, qui fut réalisé par des disciples ou par leurs successeurs sous forme de questions et de réponses, et dont nous ne possédons plus que des bribes (en partie dans le chapitre Wen Yen et en partie dans le chapitre Hi Tsi Tchouan). » Cf. Wilhelm (Perrot) p. 12-13

Les Hexagrammes

Trigrammes de base

Les trigrammes de base « Les hexagrammes doivent toujours être conçus comme étant composés de deux trigrammes et non d’une série de six traits. Ces trigrammes entrent en ligne de compte en vue de l’interprétation suivant leurs différents aspects : D’une part suivant leurs propriétés, d’autre part suivant leurs images et enfin suivant leur place dans la succession familiale (on ne tient compte ici que de la succession du ciel ultérieur). [Voir les extraits de la section suivante.] Il faut en outre faire entrer en ligne de compte la position des trigrammes l’un par rapport à l’autre. Le trigramme inférieur est en bas, dedans, derrière; le trigramme supérieur est en haut, dehors, devant. Les traits mis en relief dans le trigramme supérieur sont toujours désignés comme “s’en allant”; les traits mis en relief du trigramme inférieur, comme “venant”. » Cf. Wilhelm (Perrot) p. 393

Trigrammes nucléaires

Les trigrammes nucléaires « Ces trigrammes nucléaires forment les quatre traits médians de chaque hexagramme et se chevauchent mutuellement en utilisant leurs deux traits médians. La structure des hexagrammes révèle par conséquent un chevauchement gradué de trigrammes différents et de leur influence. Le trait initial et le trait supérieur appartiennent à un seul trigramme (c’est-à-dire le trigramme supérieur ou le trigramme inférieur). Le deuxième et le cinquième traits appartiennent à deux trigrammes (trigramme de base inférieur ou supérieur, plus trigramme nucléaire inférieur ou supérieur). Le troisième et le quatrième traits appartiennent à trois trigrammes (trigramme de base inférieur ou supérieur, plus les deux trigrammes nucléaires). Il s’ensuit que le trait inférieur et le trait supérieur ont une certaine tendance à tomber hors de la connexion, le deuxième et le cinquième sont dans un état d’équilibre (la plupart du temps favorable), les deux traits médians appartiennent à la fois aux deux trigrammes nucléaires et troublent l’équilibre, sauf dans des cas particulièrement favorables. Ces relations sont en parfait accord avec l’appréciation des traits dans les jugements. » Cf. Wilhelm (Perrot) p. 394

Traits Maîtres

Les traits maîtres d'un hexagramme Certains traits de chaque hexagramme ont une valeur particulière : « On distingue deux sortes de maîtres des hexagrammes : les constituants et les gouvernants. Le maître constituant donne à l’hexagramme sa signification caractéristique sans égard pour l’élévation et la bonté du caractère de ce trait. […] Les maîtres gouvernants sont toujours bons de caractère et deviennent maîtres grâce à la signification du temps et à leur place. Ils sont généralement à la cinquième place. Mais ce peuvent être également d’autres traits. Lorsque le trait constituant est également gouvernant il est certainement bon et à la place opportune. Quand il n’est pas en même temps le trait gouvernant, c’est un signe assuré que son caractère et sa place ne concordent pas avec les exigences du temps. […] Lorsque le maître constituant est en même temps gouvernant, l’hexagramme n’a qu’un maître; dans le cas contraire il en a deux. Il y a souvent deux traits qui donnent sa signification à l’hexagramme. » Cf. Wilhelm (Perrot) p. 399

Les Trigrammes

Schéma des trigrammes

Les propriétés

Le créateur K'ien est fort,
le réceptif K'ouen est abandonné,
l’éveilleur Tchen signifie le mouvement,
le doux Souen est pénétrant,
l’insondable K'an est dangereux,
ce qui s’attache Li signifie la dépendance,
l’immobilisation Ken signifie l’arrêt,
le joyeux Touei signifie le plaisir.

Les animaux symboliques

Le créateur K'ien agit dans le cheval,
le réceptif K'ouen dans la vache,
l’éveilleur Tchen dans le dragon,
le doux Souen dans le coq,
l’insondable K'an dans le porc,
ce qui s’attache Li dans le faisan,
l’immobilisation Ken dans le chien,
le joyeux Touei dans le mouton.

Le créateur K'ien est symbolisé par le cheval à la course rapide et inlassable, le réceptif K'ouen par la paisible vache. L’éveilleur Tchen, dont l’image est le tonnerre, est symbolisé par le dragon qui, sortant de la profondeur, s’élève dans le ciel d’orage, correspondant à l’unique trait fort qui, placé sous deux traits faibles, exerce une poussée vers le haut. Le doux , le pénétrant Souen a pour attribut le coq, gardien du temps, dont la voix déchire le calme, se propageant comme le vent, image du doux. L’insondable K'an a l’eau pour image. Le porc est, parmi les animaux domestiques, celui qui vit dans la boue et dans l’eau. Ce qui s’attache, le brillant, Li est déjà figuré à l’origine, dans le trigramme Li, par un oiseau de feu qui ressemble au faisan. L’immobilisation Ken a pour animal symbolique le chien, gardien fidèle, et le joyeux Touei, le mouton qui est considéré comme un animal de l’ouest ; les parties du trait brisé supérieur représentent les cornes.

Les parties du corps

Le créateur K'ien agit dans la tête,
le réceptif K'ouen dans le ventre,
l’éveilleur Tchen dans le pied,
le doux Souen dans les cuisses,
l’insondable K'an dans l’oreille,
ce qui s’attache (le brillant) Li dans l’œil,
l’immobilisation Ken dans la main,
le joyeux Touei dans la bouche.

La tête gouverne le corps tout entier; le ventre sert à conserver; le pied marche et se meut; la main tient ferme; les cuisses, dissimulées, se divisent en descendant; la bouche s’ouvre vers le haut, à la vue de tous; l’oreille est creuse, extérieurement, l’œil l’est intérieurement. Ce sont là des couples d’opposés correspondant aux trigrammes.

La famille des trigrammes

— Le créateur K'ien est le ciel : c’est pourquoi on l’appelle le père.
— Le réceptif K'ouen est la terre : c’est pourquoi on l’appelle la mère.
— Dans le trigramme de l’éveilleur Tchen, elle recherche la puissance du mâle pour la première fois et reçoit un fils. C’est pourquoi l’éveilleur est appelé le fils aîné.
— Dans le trigramme du doux Souen, le mâle recherche la puissance de la femelle pour la première fois et obtient une fille. C’est pourquoi le doux est appelé la fille aînée.
— Dans l’insondable K'an, elle recherche pour la deuxième fois et reçoit un fils. C’est pourquoi ce signe est appelé le fils cadet.
— Dans ce qui s’attache Li, il recherche pour la deuxième fois et reçoit une fille. C’est pourquoi ce signe est appelé la fille cadette.
— Dans l’immobilisation Ken, elle recherche pour la troisième fois et reçoit un fils. C’est pourquoi ce signe est appelé le plus jeune fils.
— Dans le doux Souen il recherche pour la troisième fois et reçoit une fille. C’est pourquoi ce signe est appelé la troisième fille.

Chez les fils, suivant cette dérivation, la substance vient de la mère – donc des deux traits femelles – tandis que le trait dominant, déterminant, provient du père. Chez les filles, les choses se passent de façon contraire. Le sexe s’inverse chaque fois d’une génération à la génération suivante. […]

Autres symboles

Le créateur K'ien est le ciel, il est rond, il est le prince, il est le père, le jade, le métal, le froid, la glace, le rouge sombre; c’est un bon cheval, un vieux cheval, un cheval maigre, un cheval sauvage; c’est le fruit d’un arbre.

Le réceptif K'ouen est la terre, la mère. C’est une étoffe ; c’est le chaudron, l’économie. Il est égal. C’est un veau avec la vache, c’est un grand char ; c’est la forme, la multitude, le tronc. Parmi les différents sols, c’est le sol noir.

L’éveilleur Tchen est le tonnerre, le dragon, le jaune sombre, ce qui s’étend, une grande rue, le fils aîné: il est décidé et véhément; c’est un bambou jeune et vert, un roseau et un jonc. Parmi les chevaux, il signifie ceux qui hennissent bien, ceux qui ont les pattes de derrière blanches, ceux qui galopent, ceux qui ont une étoile sur le front. Parmi les plantes utiles, il est figuré par les fruits à écales. Enfin, c’est ce qui est fort, ce qui croît de façon luxuriante.

Le doux Souen est le bois, le vent, la fille aînée, le cordeau, le travail, le blanc, le long, le haut, l’avance et le recul, l’indécis, l’odeur. Parmi les hommes, il signifie ceux qui ont des cheveux gris, ceux qui ont un large front, ceux qui ont beaucoup de blanc dans les yeux, ceux qui sont âpres au gain, si bien qu’au marché ils reçoivent trois fois le prix. Enfin, c’est le signe de la véhémence.

L’insondable K'an est l’eau, les fosses, le piège, ce qui se redresse et ce qui se courbe, l’arc et la flèche. Parmi les hommes, ce sont les mélancoliques, ceux qui ont des maladies de cœur, des maux d’oreilles. C’est le signe du sang, c’est le rouge. Parmi les chevaux, ce sont ceux qui ont une belle croupe, une humeur farouche, ceux qui laissent pendre leur tête, ceux qui ont des sabots fins, ceux qui bronchent. Parmi les chars, ce sont ceux qui ont beaucoup de défauts. C’est la pénétration, c’est la lune. Ce sont les voleurs. Parmi les variétés de bois, ce sont ceux qui sont fermes avec beaucoup de marques.

Ce qui s’attache Li est le feu, le soleil, l’éclair, la fille cadette. Il signifie la cuirasse et le casque, les lances et les armes. Parmi les hommes, il signifie ceux qui ont un gros ventre. C’est le signe de la sécheresse. Il signifie, la tortue, le crabe, l’escargot, la moule, le caret. Parmi les arbres, il signifie ceux qui ont la partie supérieure du tronc desséchée.

L’immobilisation Ken est la montagne, un chemin détourné; il signifie de petites pierres, des portes, des ouvertures, des fruits et des semences, des eunuques et des gardiens; il signifie les doigts; c’est le chien, le rat et les diverses espèces d’oiseaux à bec noir. Parmi les arbres, il signifie ceux qui sont fermes et noueux.

Le joyeux Touei est le lac, la plus jeune fille, une magicienne, la bouche et la langue. il signifie écraser et briser en morceaux; il signifie tomber et jaillir. Parmi les sortes de sol, il signifie ceux qui sont durs et salés. C’est la voisine, c’est le mouton.

Extrait de la huitième des « dix ailes » (commentaires) du Yijing. Cf. Wilhelm (tr. Perrot) p. 312 et suiv.

Tirage

En résumé : prendre trois pièces identiques et les jeter ensemble.
Face vaut 3 (impair, Yang) et pile vaut 2 (pair, Yin), ce qui donne

Face Face Face 9 9, vieux Yang Vieux Yang (mutant).
Pile Pile Pile 6 6, vieux Yin Vieux Yin (mutant).
Face Face Pile 8 8, jeune Yin Jeune Yin (stable).
Pile Pile Face 7 7, jeune Yang Jeune Yang (stable).

Vous avez construit le premier trait (celui du bas).
Répéter l’opération six fois pour construire l’hexagramme,
en progressant vers le haut.

« Outre la méthode des tiges d’achillée, on utilise aussi une méthode abrégée dans laquelle on se sert ordinairement de vieilles pièces de bronze chinoises percées au milieu et portant une inscription gravée sur une face. On prend trois pièces et on les jette simultanément. On obtient chaque fois un trait. La face gravée est considérée comme yin et vaut 2, l’autre face est considérée comme yang et vaut 3. C’est de là que dérive le caractère du trait en question. Si les trois pièces sont yang, c’est un neuf; si elles sont yin, c’est un six. Deux yin et un yang donnent un sept; deux yang et un yin donnent un huit. En regardant les hexagrammes dans le Livre des Transformations, on procède comme dans l’oracle utilisant les tiges d’achillée. […] »

« Étant donné que ce processus est répété six fois, il s’édifie un signe à six degrés. Lorsque cet hexagramme se compose entièrement de traits en repos, l’oracle n’en retient que l’idée générale, telle qu’elle s’exprime dans le « jugement » du roi Wen et dans le « Commentaire sur la décision » de Koung Tseu, auxquels s’ajoutent encore l’image de l’hexagramme et les paroles de texte qui y sont annexées. »

« Si, dans l’hexagramme ainsi obtenu, on a un ou plusieurs traits muables, il faut en outre prendre en considération les paroles annexées à ce ou ces traits par le duc de Tchéou. C’est pourquoi celles-ci ont pour titre: 9 à la nme place ou 6 à la nme place. En outre, le mouvement ou transformation du trait donne naissance à un nouvel hexagramme qui doit, à son tour, être examiné avec sa signification. Si, par exemple, on tire l’hexagramme n° 56, dont le quatrième trait se meut on devra prendre en considération, non seulement le texte et l’image se rapportant à l’hexagramme pris dans son ensemble, mais aussi le texte qui accompagne le quatrième trait et, en outre, le texte et l’image qui se rapportent à l’hexagramme n° 52. L’hexagramme n° 56 sera le point de départ à partir duquel se développe, à l’aide du 9 à la quatrième place et de l’avis qui s’y trouve annexé, la situation finale, qui est l’hexagramme n° 52. Dans ce second hexagramme, le texte du trait qui se meut n’entre pas en ligne de compte. » Cf. Wilhelm (Perrot) p. 402

Confer

Sources

  • Original text in traditional Chinese characters found in Chinapage.com.
  • Richard Wilhelm’s translation, rendered into English by Cary F. Baynes, found here.
  • La traduction en français est une adaptation due à Étienne Perrot de la traduction allemande du Père Richard Wilhelm.

Other translations / autres traductions

  • 1885, French, par Paul-Louis-Félix Philastre (1837-1902), dans Les Cinq Livres canoniques ou Grands Kings. Editions Zulma, 1966, 890 pages. Première édition, Ernest LEROUX, Paris, 1885. Disponible en ligne dans la Collection Chine ancienne réalisée par Pierre Palpant.
  • 1899, English, by James Legge, in The sacred Books of China, Vol. XVI, Clarendon Press.
  • 1965, English, Blofeld. The Book of Changes: A New Translation of the Ancient Chinese I Ching. New York, E. P. Dutton.
  • 1998, English, Huang. The Complete I Ching: the Definitive Translation From the Taoist Master Alfred Huang, Rochester, N.Y, Inner Traditions.
  • 2001, French. Cyrille J.-D. Javary et Pierre Faure, Yi Jing. Le Livre des Changements, Paris : Albin Michel, février 2002. Voir aussi Cyrille Javary, Les Rouages du Yi Jing, 2001, ed. Philippe Picquier.

Wiley

Electrical Engineering Newsletter
Now publishing with Wiley
ETRI Journal
We are pleased to announce that ETRI Journal is now published by Wiley on behalf of the Electronics and Telecommunications Research Institute.

The main focus of the journal is to provide an open forum to exchange innovative ideas and technology in the fields of information, telecommunications, and electronics.

Call for Papers:

Special Issue on “Smart Interactions in Cyber-physical Systems: Humans, Agents, Robots, Machines and Sensors
Submission Deadline: 29 January 2018
Discover more from the INCOSE Publications
Explore these top-read articles published in the last 12 months for free until 30th November 2017
Systems Engineering
Systems Engineering
The Need for Systems Tools in the Practice of Clinical Medicine

Patterns in System Architecture Decisions

Complex Engineered Systems Design Verification Based on Assume-Guarantee Reasoning

INSIGHT
INSIGHT
Systems of Systems, Cyber-Physical Systems, The Internet-Of-Things… Whatever Next?

The System of Systems Approach (SOSA)

Verification & Validation; an Inconvenient Truth

INCOSE International Symposium
INCOSE International Symposium
A model based system engineering approach to design Avionics systems: Present and Future prospect

Development of a Systems Engineering Career Competency Model for the U.S. Department of Defense

Insights from Large Scale Model Based Systems Engineering at Boeing

New books
Fusion of Hard and Soft Control Strategies for the Robotic Hand Fusion of Hard and Soft Control Strategies for the Robotic Hand
Analysis and Design of Transimpedance Amplifiers for Optical Receivers Analysis and Design of Transimpedance Amplifiers for Optical Receivers
In case you missed it…
Enjoy complimentary access to this Virtual Issue, showcasing key articles from the International Journal of Robust and Nonlinear Control, until 31 January 2018.

Articles include:

free Integrated adaptive robust control for multilateral teleoperation systems under arbitrary time delays
free Sampled-data control of nonlinear networked systems with time-delay and quantization
Read more
R3BX5
AMERICAS
John Wiley & Sons, Inc.
111 River Street,
Hoboken, NJ 07030-5774 USA
Phone: +1 877 762 2974

CANADA
John Wiley & Sons, Inc.
90 Eglinton Avenue East, Suite 300
Toronto, Ontario M4P 2Y3 Canada
Phone: +1 416 236 4433

EUROPE, MIDDLE EAST & AFRICA
John Wiley & Sons, Inc.
The Atrium Southern Gate,
Chichester, West Sussex PO19 8SQ England
Phone: +44 1243 843294

AUSTRALIA
John Wiley & Sons Ltd
155 Cremorne Street,
Richmond, Victoria 3121 Australia
Phone: +61 7 3859 9611

ASIA
John Wiley & Sons Pte Ltd
1 Fusionopolis Walk,
#07-01 Solaris South Tower,
Singapore 138628
Phone: +65 6643 8333

Customer Service
Web: www.wiley.com/help
Email: wileycustomer@wiley.com