XEM TƯỚNG MŨI


Mũi dọc dừa là tướng mũi đẹpngười tướng mũi dọc dừa có tính cách nhân từ

  Theo nhân tướng học,người có lỗ mũi tròn kín, đầu mũi tròn kết hợp sống mũi cao thì chắc chắn là người tướng phú quý. Hơn nữa những người này còn thông minh, bộc trực, nhạy bén, giỏi tính toán, không chỉ gặp nhiều may mắn mà phúc lộc thọ còn vẹn toàn.

  1. Xem tướng mũi đoán giàu nghèo:

Tuy trong các sách tướng người ta thường nói “xem giàu nghèo bằng cách quan sát Mũi” vì Mũi là tài lộc tinh nhưng đó chỉ là cách nói khái lược, giản tiện.Vậy xem tướng mũi như nào mới đúng? Thực ra xem tướng mũi cũng như các bộ phận quan trọng khác của khuôn mặt, ngoài đặc điểm chủ yếu là chủ về tài lộc còn giúp ta biết được nhiều khía cạnh khác nữa.

Về phương diện tác dụng của Ngũ Quan, Mũi chủ về phân biệt mùi vị nên được gọi là Thẩm biện quan . Trong số bốn cơ quan thâu nạp ngoại vật du nhập vào con người (thực phẩm, hình ảnh, mùi vị và âm thanh) thì mũi được mệnh danh là Tế Đậu (dòng sông có bến). Muốn đóng trọn vai trò của Tế đậu thì Mũi phải ngay thẳng, lỗ mũi phải thẳng và được che lấp gọi là dòng sông đầy nước. Ngược lại sống mũi xẹp gãy, lỗ mũi rộng trông rõ bên trong thì được vì như dòng sông cạn nước trông rõ cả tới đáy.

Về mặt Ngũ Nhạcnhân tướng học về mũi thì mũi giữ vai trò trung ương, làm chủ bốn núi còn lại. Muốn là chủ được bốn núi thì Trung Nhạc phải cao, dày, vững vàng và phối hợp nhịp nhàng với hình thể của Đông Tây Nam Bắc Nhạc. Quá cao và nhọn trong khi bốn Nhạc kia quá thấp và lệch thì gọi là cô phong, núi đứng trơ trọi một mình thì chủ về thành bại thất thường. Quá thấp hoặc lệch hãm thì gọi Trung Nhạc liệt thế, khiến cho tất cả các Nhạc lâm vào cảnh Quần sơn vô chủ chủ về số phận lênh đênh kết quả không ra gì.

Về mặt thuật ngữ chiêm tinh và thiên văn mệnh số liên quan tới nhân tướng học về mũi, Mũi được đặt tên là Thổ tinh chủ về Phúc Lộc và Thọ. Đến lưu niên vận hạn về Thổ tinh thì mọi điềm tốt về Phúc Lộc Thọ sẽ hiện lên rõ rệt. Nếu Thổ tinh nhọn, nhỏ, lệch, lộ khổng thì đến khoảng thời gian đó sẽ khó tránh được nghèo khổ.

  1. Các loại tướng mũi trong nhân tướng học:

Về các loại tướng mũi thì chia làm 2 loại: Thượng cách và hạ cách

  • Thượng cách chia làm 3 dạng:

Thiên tướng: Thiện nhân ( phẩm cách) – Người thiện không nhất định phải giàu nhưng suốt đời vui sướng, đến khi chết cũng an toàn.

Quý tướng: Quý nhân (phẩm cách) –  Người quý đã giàu, người giàu không chắc đã thiện.

Phú tướng: Phú nhân (tài phú)

Trong đời chỉ có tướng mũi vừa thiện vừa quý nhưng không bao giờ có tướng mũi vừa thiện, vừa quý lại vừa phú. Quý dễ đi đôi với phú có thể đi đôi với thiện nhưng ít khi phú đi đôi với thiện.

Tướng ác của mũi cũng chia thành 3 dạng: Ác, tiện, Bần. Trong đó tướng mũi ác là tối kỵ.

Vậy làm sao để phân biệt được tướng mũi của mình thuộc dạng mũi nào. Xin mời chọn loại mũi theo đặc điểm dưới đây để xem ý nghĩa nhân tướng học về mũi.

  1. Các loại tướng mũi và ảnh minh họa:

Birth Report

Venus in Libra in 2nd House

Expresses affection sincerely with charm

Mental Overview

Mercury in Virgo in 2nd House

Mental Work

Challenges Overview

Jupiter in Libra in 2nd House

Expansion Through Security

Saturn in Sagittarius in 4th House

Familial Challenges

Chiron in Aquarius in 6th House

Healing Through Belonging

Sun Square Saturn

The Struggle for Success

Moon Square Saturn

The Cold Heart

Mars Square Saturn

Frustration

Venus Sextile Saturn

The Mature Partner

Jupiter Sextile Saturn

The Banker

Venus Conjunct Jupiter

The Gift from Heaven

Subconscious Overview

Uranus in Leo in 12th House

Freedom Through Seclusion

Neptune in Scorpio in 3rd House

Heightened Perception

Pluto in Virgo in 1st House

Transformation Through Self

Saturn Square Pluto

The Annihilator

Sun Sextile Neptune

The Inspirer

Venus Sextile Uranus

Underground Artist

Jupiter Sextile Uranus

The Well Traveled Soul

Saturn Trine Uranus

The Progressive

Neptune Sextile Pluto

Self Exploration

Sun Conjunct Pluto

The Evolutionary

Gọi Tên Người Yêu – Aline

Nhân dịp hồi ức về nhạc Pháp xưa qua chuyến thăm Việt Nam của Christophe mới đây, cũng như những chút dư âm nhẹ nhàng của nó còn lại, chúng ta thử nghe lại 14 ca khúc Pháp bất hủ được nhạc sĩ Phạm Duy soạn lời Việt, do chính ông tuyển chọn và viết lời bạt trên trang web của mình. Trong đó, dĩ nhiên là có Aline của lão ngoan đồng Christophe vừa hát lại… -TMP-
==================================

Ðầu thập niên 70 là lúc băng cassette được phổ biến mạnh mẽ và các nhà sản xuất đua nhau phát hành những băng nhạc có chương trình nhạc trẻ. Ngoài nhạc Mỹ ra, nhạc Pháp cũng được mọi người ưa thích, nhất là trong đám ca sĩ mới lớn lên, có Thanh Lan hát tiếng Pháp rất hay. Tôi soạn lời ca tiếng Việt cho nhiều bài hát về tình yêu của nhạc Pháp và với giọng hát nhanh nhẹn của Thanh Lan, những bài hát đó đã gây được ảnh hưởng khá mạnh mẽ trong giới trẻ. Bài BANG BANG rất ngộ nghĩnh và sau khi được hát qua tiếng Việt với giọng hát Thanh Lan, nó được phổ biến rất là mạnh mẽ. Một hôm tôi vào Nha Ngân Khố để đổi tiền đi Pháp, thấy các công chức nam nữ đang chơi trò bắn súng “băng băng” với nhau.

Gọi Tên Người Yêu
Aline

Nhạc Pháp – Lời Việt : Phạm Duy
Trình bày: ca sĩ Elvis Phương

Ngồi hoạ hình người tình, vào bãi cát vàng
Hình dáng em ngoan, nụ cười ôi mến thương
Rồi trời mịt mù làm mưa rồi xoá nhoà
Hình dáng nên thơ, chìm dần trong bão mưa.
Rồi anh sẽ hét lên ! Sẽ hét lên !
Hét lên gọi tên người quen
Rồi anh sẽ khóc ! Sẽ khóc lên
Khóc lên lòng đau triền miên.
. . . . . .
Ngồi buồn tủi ngoài đời, tưởng như ngồi với người
Người đã xa xôi, người đi mất hơi,
Rồi tìm hoài, rồi như ngóng đợi
Người hỡi ! Có ai tìm giúp tôi
Rồi anh sẽ hét lên ! Sẽ hét lên !
Hét lên gọi tên người quen
Rồi anh sẽ khóc ! Sẽ khóc lên !
Khóc lên lòng đau triền miên.
. . . . .
Chỉ còn hoạ hình một người trên nền cát mềm
Nằm chết êm êm, chìm dần trong nước lên.
Rồi anh sẽ hét lên ! Sẽ hét lên !
Hét lên gọi tên người quen
Rồi anh sẽ khóc ! Sẽ khóc lên !
Khóc lên lòng đau triền miên…

PhạmDuy
==============

Aline

[Couplet 1]
J’avais dessiné sur le sable
Son doux visage qui me souriait
Puis il a plu sur cette plage
Dans cet orage elle a disparu

[Refrain]
Et j’ai crié, crié
“Aline”, pour qu’elle revienne
Et j’ai pleuré, pleuré
Oh, j’avais trop de peine

[Couplet 2]
Je me suis assis auprès de son âme
Mais la belle dame s’était enfuie
Je l’ai cherchée sans plus y croire
Et sans un espoir pour me guider

[Refrain]
Et j’ai crié, crié
“Aline”, pour qu’elle revienne
Et j’ai pleuré, pleuré
Oh, j’avais trop de peine

[Couplet 3]
Je n’ai gardé que ce doux visage
Comme une épave sur le sable mouillé

A couplet is a pair of successive lines of metre in poetry. A couplet usually consists of two successive lines that rhyme and have the same metre. A couplet may be formal (closed) or run-on (open). In a formal (or closed) couplet, each of the two lines is end-stopped, implying that there is a grammatical pause at the end of a line of verse. In a run-on (or open) couplet, the meaning of the first line continues to the second.

[Câu thơ 1]
Tôi đã vẽ trên cát
Khuôn mặt dịu dàng đang cười của nàng
Rồi trời mưa trên bãi biển
Trong cơn dông, nàng biến mất

[Điệp khúc]
Và tôi hét lên, hét lên
“Aline”, để nàng quay lại
Và tôi đã khóc, khóc
Ồ, đau thương quá

[Câu thơ 2]
Tôi ngồi xuống bên hồn nàng
Nhưng người đẹp đã bỏ đi mất
Tôi tìm nàng mà không có lòng tin
Và niềm hy vọng gặp lại nàng

[Điệp khúc]
Và tôi hét lên, hét lên
“Aline”, để nàng trở lại
Và tôi đã khóc, khóc
Ồ, đau thương quá

[Câu thơ 3]
Tôi chỉ còn giữ khuôn mặt ngọt ngào
Như một xác tàu trên cát ướt

https://external.fykz2-1.fna.fbcdn.net/safe_image.php?d=AQA-w-oo-_amYiOM&w=147&h=147&url=https%3A%2F%2Fi.ytimg.com%2Fvi%2F55cxFEVCXRk%2Fmaxresdefault.jpg&cfs=1&upscale=1&fallback=news_d_placeholder_publisher_square&_nc_hash=AQCciAr5pjId0V4Z

youtube.com

Elvis Phương hát Gọi tên Người Yêu. Lời Viêt Phạm Duy

Aline – Gọi Tên Người Yêu “Aline” là một ca khúc của Pháp ra đời năm 1965. Nó đã gây ra môt cơn sốt…

Christophe lấy cảm hứng đặt tựa bài cho bản “Aline” trong khi đi khám răng. Trong khi ở đó, Christophe hỏi tên người phụ tá, biết được tên cô là “Aline”. Tên này đã gây cảm hứng cho bài ca đó. “Aline” là đĩa thu thứ hai của Christophe và là thành công lớn đầu tiên của ông ta.

Christophe composed the song while visiting his grandmother for lunch. He did not immediately have a name for the song. However, on a visit to the dentist, he asked the assistant what her name was, to which she replied Aline. He so liked the sound that he decided to use it as the name for the new song. “Aline” is the second record of Christophe and his first great success.

Le prénom Aline comme titre n’est pas venu immédiatement pendant la phase d’écriture. Christophe raconte qu’il fréquentait en 1964 une personne appelée ainsi et que ce prénom sonnait bien.

boiteachansons.net

Partitions – Aline – Christophe (Accords et paroles ♫)

Tử Vi – Dương Công Hầu

Tử Vi

Tuổi Mậu Thân.
Nam : thờ Ngũ-Công Vương. Phật độ mạng.
Nữ : thờ Phật Bà Quan-Âm độ mạng
———–
Đoán xem số mạng như là,
Tuổi -Kim mạng -Thổ số ta như vầy
Tuổi cùng vói mạng đặng vầy tương sanh,
Tính ưa kinh-điển lòng lành,
Có số tu niệm học hành sáng thông.
Cơ mưu khéo léo nơi lòng,
Tâm linh biết trước trong vòng kiết hung
Việc làm mau lẹ không cùng,
Một đời cay đắng tâm trung khổ rày.
Số có quyền-tước trong tay,
Quới nhơn trọng đãi nguời hay yêu vì
Điếu khách chiếu mạng vậy thì,
Phải phòng té nặng một khi tật rày
Trong mình thường có bịnh hoài,
Khi đau khi mạnh đắng cay thân hình.
Vợ chồng xung khắc buồn tình,
Đôi lần dời đổi gia-đình mới an.
Anh em cách trở xa phần,
Một người một xứ gia đàng làm ăn
Hào tài đủ dụng thường hằng.
Gia-đình no ấm gọi rằng bực trung.
Ý ham lòng khó định cùng,
Muốn thời cho gắp, não nùng bỏ mau.
Hào con tuy có lao xao,
Đến ngày hậu nhựt dễ nào cậy nương.
Số ta không trọn kiết tường,
Xuất gia đầu Phật an khương cảnh già.
Khá nên tích thiện đó là,
Mong sau an hưởng đời ta an lành.

http://www.phuochoa.vn/ShowArticle.aspx…

Ngày Sinh Dương: Thứ Ba ngày 24 tháng 12 năm 1968 Ngày Sinh Âm: Ngày Mậu Thìn, tháng Giáp Tý, năm Mậu Thân (05/11/1968) Sinh giờ: Ất Mão (5:01) Giới tính và tuổi: Nữ, Mậu Thân, 51 tuổi Mệnh: Đại Trạch Thổ (đất nền nhà) Cầm Tinh: Con khỉ, xuất tướng tinh con lạc đà. Tiết khí: Sinh mùa Đông chí (giữa đông) – Kinh độ mặt trời 270°

Bình Giải Chi Tiết

Quý Bà sinh vào ngày 5 tháng 11 năm 1968 đã phạm vào ngày xấu Nguyệt Kỵ. Các ngày xấu này sẽ phần nào ảnh hưởng đến cuộc đời Quý Bà nhiều hay ít sẽ còn lệ thuộc vào phúc đức của Quý Bà có. Quý Bà sinh mùa Đông chí (giữa đông), nhằm Trực Định. Quý Bà người nết na, được hưởng lộc của mẹ cha. Nhân từ, đức hạnh. Thanh liêm, Ôn hòa, Nhân duyên tự mình kén lấy. Quý Bà Sanh nhằm ngày Thiên Đế, có nhiều bạn bè anh chị em chơi chung, tánh hạnh hiền từ và vui vẻ, gái thì khắc chồng. Quý Bà cốt Cọp, không có phát đạt ở xứ cha mẹ sanh, đi xa xứ làm ăn khá, số đặng sang trọng, ăn mặc đầy đủ, luận mưu chi thì có đặng nấy, có quyền hành oai võ, ăn uống dễ, bất luận ngon dở Quý Bà có tánh thông minh có nghề đờn tinh thông, có danh tiếng và vui vẻ, đi đến đâu cũng được người trọng hậu quí thể. Quý Bà Số phạm Đản Mạng Sát, lúc cha mẹ mới sanh khó nuôi, hạng 3 năm và hạng 6 tuổi , hạng 12 tuổi nên qua khỏi thì đến năm 21, 31 tuổi nên ngừa số phận ai bi. Quý Bà số gặp Hao Cái, thì đặng có duyên, nhiều người thương, có phát đạt, tài giỏi, có lộc thực nhiều, người thân hay kính trọng. Quý Bà số gặp Kim Kê, tánh hạnh can đảm, văn chương giỏi, có nghề khéo, có danh tiếng lộc thực nhiều. Quý Bà Kiếp trước có tánh kiêu thái, khinh thị người, kiếp này hay đau trái tim đau ngũ tạng, trả quả, khắc cha mẹ, anh em, khó nuôi con, số này phải làm lành cho nhiều đặng giải oan thì đến 44 tuổi làm ăn đặng phát tài. Có điền viên sự nghiệp có chức phận, phải nên sửa tánh cho sớm. Số Quý Bà phạm Chánh Lộc tánh cần kiệm, đi lưu lạc xứ khác khi tuổi lớn làm ăn trở nên sự nghiệp, vợ chồng con cháu vui vẻ. Số Quý Bà phạm Toại Lộc tánh hạnh nhiều mưu kế, có tánh tham, xảo trá, anh em, vợ chồng con cháu có nhưhg không hòa hiệp. Quý Bà không có số nuôi heo và các lòai thú, nếu nuôi hay chết lắm, nếu không chết thì không sanh đẻ và nuôi không lớn nên rất bất lợi. Quý Bà số nhằm Chữ Phá, du cha mẹ cho ruộng đất cũng hết, rồi sau khi đền xứ khác lập lại cũng không thành, tại số khác điền địa, số không có ruộng. Cổ nhân nói rằng: ‘Hữu phước thì hữu Điền, vô phước thì vô điền’, bởi chữ phước có chữ điền. Sách cổ có câu nói rằng: ‘Đức năng thắng số’, dẫu số có đất đai mà không có đức dù có giữ gìn cũng không còn, muốn có đất đai trước phải bồi công tích đức sau mới có. Quý Bà học nhiều nhưng thông hiểu thì ít, cho nên cái sự học không nhờ giúp gì được cho ngày sau. Bất dĩ là học cho biết chữ để nói chuyện với đời đó thôi, chứ khó đỗ đạt. Quý Bà có số này thi kỳ nhì (lần hai) lấy được tiểu khoa, nhưng mà làm việc với thượng thẩm quan.

Quý Bà gặp số Đế Vượng, đường tình duyên trước sau trọn tốt.
Lời bình giải:
Khá nên tích đức thi công,
Sanh nhằm Đế Vượng phước hồng tương giao,
Hôn nhân gặp chỗ sang giàu,
Một đời thong thả cùng nhau phỉ nguyền,
Thiên nhiên sở định lương duyên,
Thượng hoà hạ lục miêng miêng đời đời,
Số này duyên nợ chẳng dời,
Thảnh thơi lo liệu an nơi gia đình.

Quý Bà sanh con, nuôi được phân nữa, nếu phước đức nhiều thì sanh con trai, còn ít thì đổi sang con gái. Số này chỉ xem riêng cho Quý Bà, còn số của người hôn phối nữa, hai bên cộng chung lại thì sẽ khác hơn số dự đoán. Nếu đứa con nào nó ưa cha hơn, thì là con của cha nó, còn đứa nào ưa mẹ hơn thì là con của mẹ nó, đó là cái quả tiền kiếp như vậy. Vợ chồng sinh con dư số định thì đó là quả báo tiền kiếp, bởi thế sinh trong số định thì nó có hiếu, còn sanh dư thì đó là con Trời, con Phật, con Ma, đó là con đi báo quả, đã không có hiếu còn hại cha mẹ. Quý Bà có huynh đệ là Đế Vượng, hãy xem câu thơ phía dưới thì rõ hào anh em kiết hung sẽ được tận tường.

Xem hào huynh đệ tương tàn,

May nhằm Đế Vượng phước nhằm trời ban,
Bàn tính khôn khéo lo toan,
Đấu tài thua trí là đành lập nên,
Số này huynh đệ đôi bên,
Hoặc khác cha mẹ dưới trên thuận hoà,
Số ta dù cách xứ xa,
Đến khi gián cảnh một nhà đoàn viên.

Xem tuổi ông Huỳnh đế biết sang hèn, Quý Bà sinh mùa Đông chí (giữa đông), được số này làm ăn khá, đặng khá công danh.

Câu thơ tả:

Sanh nhằm Huỳnh Đế ở hông,
Phước hồng thì đặng chờ trông làm giàu,
Thi thơ kinh sách thông thạo,
Số có khoa mục đặng hào công danh,
Lương duyên tơ tóc đặng thành,
Trăm năm chung hưởng phước sanh an hoà,
Làm ăn gặp đặng số nên,
Vợ chồng lo tính vậy mà đặng nên.

Quý Bà có số Phá Gia, Phàm nhằm số phá gia không ở nhà cha mẹ đặng phải đổi dời chỗ khác, mới lập đặng thành nghiệp, nếu ở nhà của cha mẹ thì bôn ba cực khổ lắm. Giờ sinh của Quý Bà Khắc mẹ: làm việc gì trước có sau không, không nhờ anh em, tuổi nhỏ bôn ba, lặn lội, cực trí, số khắc con, con không chừng , việc ăn mặt tuỳ thời có thời không.

-218
Tuổi : Đinh Dậu
Mạng : Sơn-Hạ-Hỏa.
Nam : thờ Cậu-Tài Cậu Quý độ mạng.
——–
Đoán xem số mạng như là,
Đinh Dậu mạng-Hỏa số ta như vầy.
Tuổi Kim mạng hỏa số này,
Tuổi cùng với mạng hai đây khắc rày.
Tánh nhát hay sợ hôm nay,
Nghe việc động tịnh lo hoài không an.
Tam linh biết trước rõ ràng,
Hồ nghi thì có bàng-hoàng chẳng sai.
Thị-phi mang tiếng thường hoài.
Nhiều lời nhiều tiếng ở ngoài dèm pha.
Tuổi xuân thời vận bôn ba.
Ngửa nghiêng cực nhọc số ta đổi dời.
Nửa đời đặng hưởng thảnh-thơi,
Của tiền phát đạt, vậy thời đặng nên.
Luơng duyên cách trở đôi bên,
Đời sau hội hiệp vững bền với nhau.
Tính hay vui vẻ bào hao,
Thương người trọng nghĩa quản bao nhơn-tình.
Ý người cứng cỏi một mình,
Chẳng chịu co uốn, chớ bình luận ai,
Hào con không trọn hôm nay.
Sanh đa dưỡng thiếu nuôi rày tốn hao.
Thien-Đức chiếu mạng Phước hào
Nhẹ điều tai nạn xăm vào bổn thân.
Nhưng phòng hình tội một lần,
Hoặc có tiểu bịnh là phần số ta.
Mạng không nghèo khổ vậy mà,
Dầu là tiểu phước cũng là ấm no.
Gia-đình hạnh-phúc bởi do hiền lành.

CẬU TÀI,CẬU QUÝ ĐỘ LÀ AI?
http://www.phongthuycongminh.com/…/cau-tai-cau-quy-do-la-ai-

Chồng tuổi Đinh Dậu vợ tuổi Mậu-Thân
(Chồng lớn hơn vợ 11 tuổi)
Hai tuổi này ở với nhau làm ăn đặng tốt, hào con rất-ít.
Tánh người vợ thông minh, hay giao thiệp,ưa kinh sách, bổn thân hay có tiểu bịnh tật, tánh tình chồng vợ hòa thuận, chung sống làm ăn tốt.

Dương Công Hầu

Ngày Sinh Dương: Thứ Hai ngày 26 tháng 08 năm 1957 Ngày Sinh Âm: Ngày Canh Ngọ, tháng Kỷ Dậu, năm Đinh Dậu (02/08/1957) Sinh giờ: Kỷ Mão (5:15) Giới tính và tuổi: Nam, Đinh Dậu, 62 tuổi Mệnh: Sơn Hạ Hỏa (lửa đom đóm) Cầm Tinh: Con gà, xuất tướng tinh con khỉ. Tiết khí: Sinh mùa Xử thử (Mưa ngâu) – Kinh độ mặt trời 150°

Bình Giải Chi Tiết
Quý Ông sinh mùa Xử thử (Mưa ngâu), nhằm Trực Khai. Quý Ông người long đong tứ bề. Nhưng tính tình vui vẻ. Quý Ông Sanh nhằm ngày Thái Âm, đi xa xứ có nhiều người kính trọng quí nhơn thương, 36 tuổi sắp lên vận thời làm ăn phát đạt. Quý Ông cốt Chó, người có tánh khẳng khái lắm, ít sợ ai, hay giúp đỡ với đời, ở đời hay có lòng bênh vực anh em và trung tính, không chịu lời nói nặng lời, ít có hoạn nạn, tuổi lớn trở nên sự nghiệp. Quý Ông có số làm Thầy, như có phước nhiều đặng làm quan, trong đời ăn mặc đầy đủ, người có tài và gần người sang trọng. Quý Ông Số này đặng Lục Hạp thì cha mẹ, anh em, bà con, làm ăn cũng đều thuận hạp cả, việc ăn mặc rộng rãi. Quý Ông số gặp Tướng Tinh, số có quyền hành, bỉnh cán, tuổi trẻ phát tài, lộc sớm, bề vợ chồng con cháu sung túc rất vinh hoa. Quý Ông Kiếp trước có tu niệm lành, nhỏ ác, lớn thiện lúc này lúc tuổi đang còn trả quả làm ác, thuở nhỏ phải chịu tàn khổ khắc 3 đời chồng vợ, ít con đi nhiều chỗ, không nhờ anh em, lúc 36 tuổi sắp lên làm ăn phát đạt, lập nên sự nghiệp có chức phận, cha mẹ sống không lâu. Số Quý Ông gặp Thiên At số người đặng sang trọng và đặng rảnh rang, làm ruộng, nuôi thú vật đều thịnh vượng. Số Quý Ông phạm Am Lộc ăn mặc có ít không nhờ anh em, gần người sang trọng, sự nghiệp không ở xứ cũ, tuổi lớn ăn ở đặng yên, làm ăn mới khá. Số Quý Ông phạm Bịnh Lộc hay có bịnh hoạn lắm, không ở xứ cũ tu hành không đặng, giữ tiết kiệm, đời cực khổ mà cũng nghèo. Quý Ông có số nuôi được trâu heo và các lòai thú nó sanh đẻ nhiều, nuôi mau lớn cái huê lợi ấy nó sanh thêm thịnh vượng. Quý Ông số nhằm Chữ Hướng, dầu ruộng đất cha mẹ cho cũng không cần gìn giữ đi đến đâu thấy rụông đất cũng không ham bởi thế cho nên, không giữ không tạo đặng, lo ăn mặc chơi bời đó thôi. Cổ nhân nói rằng: ‘Hữu phước thì hữu Điền, vô phước thì vô điền’, bởi chữ phước có chữ điền. Sách cổ có câu nói rằng: ‘Đức năng thắng số’, dẫu số có đất đai mà không có đức dù có giữ gìn cũng không còn, muốn có đất đai trước phải bồi công tích đức sau mới có. Quý Ông học nhiều nhưng thông hiểu thì ít, cho nên cái sự học không nhờ giúp gì được cho ngày sau. Bất dĩ là học cho biết chữ để nói chuyện với đời đó thôi, chứ khó đỗ đạt. Quý Ông gặp số Tử, đường tình duyên trước xấu sau tốt. Lời bình giải: Câu rằng phu phụ tình thâm, Phạm nay Chữ Tữ vương nhằm cho tháng, Vợ chồng không đặng hiệp hoà, Không trùng duyên nợ đâu mà bình an, Một đời thứ nhứt lo toan, Không lìa thì thác hai đàng biệt ly, Đời sau trọn nghĩa trọn nghi, Kết nguyền tơ tóc phải thì bền lâu. Quý Ông sanh con, nuôi được 1 đứa, nếu phước đức nhiều thì sanh con trai, còn ít thì đổi sang con gái. Số này chỉ xem riêng cho Quý Ông, còn số của người hôn phối nữa, hai bên cộng chung lại thì sẽ khác hơn số dự đoán. Nếu đứa con nào nó ưa cha hơn, thì là con của cha nó, còn đứa nào ưa mẹ hơn thì là con của mẹ nó, đó là cái quả tiền kiếp như vậy. Vợ chồng sinh con dư số định thì đó là quả báo tiền kiếp, bởi thế sinh trong số định thì nó có hiếu, còn sanh dư thì đó là con Trời, con Phật, con Ma, đó là con đi báo quả, đã không có hiếu còn hại cha mẹ. Quý Ông có huynh đệ là chữ Tử, hãy xem câu thơ phía dưới thì rõ hào anh em kiết hung sẽ được tận tường.

Luận xem chữ tử số này,
Khát hào huynh đệ đổi xây nghĩa tình,
Anh không đạo nghĩa phân minh,
Em chẳng nhơn tình chịu nhịn cho an,
Oai hùm làm giữ ngang tàng,
Ngoại nhơn thân thích nghịch hàng đệ huynh,
Số này không trọn nghĩa tình,
Đến khi buồn giận chốn kình lại nhau.

Xem tuổi ông Huỳnh đế biết sang hèn, Quý Ông sinh mùa Xử thử (Mưa ngâu), có số này tuổi trẻ đi đứng nhiều, 48 tuổi mới nên.
Câu thơ tả:
Ơ nơi đầu gối khổ ôi!,
Thuở trẻ cực khổ lôi thôi trăm bề,
Đi nhiều chân chẳng muốn về,
Xiết bao lao khổ chớ hề ngồi không.
Gia đàng trể nải không xong,
Đến bốn mươi tám tuổi mới hòng ngồi an,
Chừng ấy lo liệu gia đàng,
Trong ngoài đến đó vững vàng lập nên.

Quý Ông có số Hiệp Gia, nhà cửa lập đặng nguy nga tốt đẹp, người ăn nói đặng thông minh, mở mang, tuổi lớn 50 sắp lên thì thấy gia nghiệp tốt, của tiền lúa gạo nhiều. Giờ sinh của Quý Ông Khắc mẹ: làm việc gì trước có sau không, không nhờ anh em, tuổi nhỏ bôn ba, lặn lội, cực trí, số khắc con, con không chừng , việc ăn mặt tuỳ thời có thời không.

===================================

www.phuochoa.vn

Tuổi thờ Quan Công và Ngũ Công Vương Phật của Nam theo sách “Diễn Cầm Tam Thế” của soạn giả Dương Công Hầu

 

1934 GIÁP TUẤT Sơn đầu hỏa (Lửa trên núi) Quan công
1935 ẤT HỢI Sơn đầu hỏa (Lửa trên núi) Quan công
1938 MẬU DẦN Thành đầu thổ (Đất trên thành) Ngũ công Vương Phật
1939 KỸ MẸO Thành đầu thổ (Đất trên thành) Ngũ công Vương Phật
1944 GIÁP THÂN Tuyền trung thủy (Dưới giữa dòng suối) Quan công
1945 ẤT DẬU Tuyền trung thủy (Dưới giữa dòng suối) Quan công
1948 MẬU TÝ Tích Lịch Hỏa (Lửa sấm sét) Ngũ công Vương Phật
1949 KỶ SỬU Tích Lịch Hỏa (Lửa sấm sét) Ngũ công Vương Phật
1954 GIÁP NGỌ Sa trung kim (Vàng trong cát) Quan công
1955 ẤT MÙI Sa trung kim (Vàng trong cát) Quan công
1958 MẬU TUẤT Bình địa mộc (Cây ở đồng bằng) Ngũ công Vương Phật
1959 KỶ HỢI Bình địa mộc (Cây ở đồng bằng) Ngũ công Vương Phật
1964 GIÁP THÌN Hú đăng hỏa (Lửa ngọn đèn) Quan công
1965 ẤT TỴ Hú đăng hỏa (Lửa ngọn đèn) Quan công
1968 MẬU THÂN Đại dịch thổ (Đất thuộc 1 khu lớn) Ngũ công Vương Phật
1969 KỶ DẬU Đại dịch thổ (Đất thuộc 1 khu lớn) Ngũ công Vương Phật
1974 GIÁP DẦN Đại khê thủy (Nước dưới khe lớn) Quan công
1975 ẤT MẸO Đại khê thủy (Nước dưới khe lớn) Quan công
1978 MẬU NGỌ Thiên thượng hỏa (Lửa trên trời) Ngũ công Vương Phật
1979 KỶ MÙI Thiên thượng hỏa (Lửa trên trời) Ngũ công Vương Phật
1984 GIÁP TÝ Hải trung kim (Vàng dưới biển) Quan công
1985 ẤT SỬU Hải trung kim (Vàng dưới biển) Quan công
1988 MẬU THÌN Đại lâm mộc (Cây trong rừng lớn) Ngũ công Vương Phật
1989 KỶ TỴ Đại lâm mộc (Cây trong rừng lớn) Ngũ công Vương Phật
1994 GIÁP TUẤT Sơn đầu hỏa (Lửa trên núi) Quan công
1995 ẤT HỢI Sơn đầu hỏa (Lửa trên núi) Quan công
1998 MẬU DẦN Thành đầu thổ (Đất trên thành) Ngũ công Vương Phật
1999 KỶ MẸO Thành đầu thổ (Đất trên thành) Ngũ công Vương Phật
2004 GIÁP THÂN Tuyền trung thủy (Dưới giữa dòng suối) Quan công
2005 ẤT DẬU Tuyền trung thủy (Dưới giữa dòng suối) Quan công
2008 MẬU TÝ Tích Lịch Hỏa (Lửa sấm sét) Ngũ công Vương Phật
2009 KỶ SỬU Tích Lịch Hỏa (Lửa sấm sét) Ngũ công Vương Phật
2014 GIÁP NGỌ Sa trung kim (Vàng trong cát) Quan công
2015 ẤT MÙI Sa trung kim (Vàng trong cát) Quan công
2018 MẬU TUẤT Bình địa mộc (Cây ở đồng bằng) Ngũ công Vương Phật
2019 KỶ HỢI Bình địa mộc (Cây ở đồng bằng) Ngũ công Vương Phật
2024 GIÁP THÌN Hú đăng hỏa (Lửa ngọn đèn) Quan công
2025 ẤT TỴ Hú đăng hỏa (Lửa ngọn đèn) Quan công
2028 MẬU THÂN Đại dịch thổ (Đất thuộc 1 khu lớn) Ngũ công Vương Phật
2029 KỶ DẬU Đại dịch thổ (Đất thuộc 1 khu lớn) Ngũ công Vương Phật
2034 GIÁP DẦN Đại khê thủy (Nước dưới khe lớn) Quan công
2035 ẤT MẸO Đại khê thủy (Nước dưới khe lớn) Quan công
2038 MẬU NGỌ Thiên thượng hỏa (Lửa trên trời) Ngũ công Vương Phật
2039 KỶ MÙI Thiên thượng hỏa (Lửa trên trời) Ngũ công Vương Phật
2044 GIÁP TÝ Hải trung kim (Vàng dưới biển) Quan công
2045 ẤT SỬU Hải trung kim (Vàng dưới biển) Quan công
2048 MẬU THÌN Đại lâm mộc (Cây trong rừng lớn) Ngũ công Vương Phật
2049 KỶ TỴ Đại lâm mộc (Cây trong rừng lớn) Ngũ công Vương Phật
2054 GIÁP TUẤT Sơn đầu hỏa (Lửa trên núi) Quan công
2055 ẤT HỢI Sơn đầu hỏa (Lửa trên núi) Quan công
2058 MẬU DẦN Thành đầu thổ (Đất trên thành) Ngũ công Vương Phật
2059 KỶ MẸO Thành đầu thổ (Đất trên thành) Ngũ công Vương Phật
2064 GIÁP THÂN Tuyền trung thủy (Dưới giữa dòng suối) Quan công
2065 ẤT DẬU Tuyền trung thủy (Dưới giữa dòng suối) Quan công

Tượng ba ông: Quan Công ngồi giữa tay vuốt râu (đôi khi vẽ tay cầm kinh Xuân Thu). Sau lưng là Quan Bình giữ Ấn, Châu Thương (hay còn gọi là Châu Xương) tay cầm thanh long đao.

Tượng Ngũ công (hay Ngũ Công Vương Phật): Giống tượng ba ông, nhưng có thêm Trương Tiên cầm cung đứng sau Quan Bình và Vương Tiên Quân cầm Giản đứng sau Châu Thương.

WWW.PHUOCHOA.VN

Cậu tài cậu quý là ai!!!

PHỔ HIỀN BỒ TÁT độ mạng

Tuổi Bính Tuất, Đinh Hợi,        thờ Phật A Di Đà độ mạng .    Nữ thờ Chúa Ngọc Nương Nương .
Nam Bính Dần , Đinh Sưủ ,      thờ Hư Không Tạng Bồ Tát .    Nữ thờ Chúa Ngọc độ mạng
Nam Bính Thân         thờ Quan Âm Phổ Hiền Bồ Tát .   Nữ thờ Chúa Ngoc độ mạng
Nam Bính Tý             thờ Đức Thánh Trần Hưng Đạo .   Nữ thờ Thiên Thủ Quan Âm đô mạng
Nam Bính Thìn  , Đinh Tỵ   .      thờ Đức Thánh Trần Hưng Đạo .   Nữ thờ Quan Âm Phổ Hiền độ mạng
Nam Bính Ngọ         thờ Đức Thánh Trần Hưng Đạo .     Nữ thờ Đại Thế Chí Bồ Tát độ mạng
Nam Đinh Mùi         thờ Phật Thích Ca Mâu Ni .     Nữ thờ chúa ngọc độ mạng
Nam Đinh Mạo        thờ Đức Thánh Trần Hưng Đạo .     Nữ thờ Văn Thù Bồ Tát độ mạng
Nam Đinh Dậu         thờ Đức Thánh Trần Hưng Đạo .     Nữ thờ Chúa Ngọc độ mạng

 

 

Còn nam bộ thường thờ  Cau Tai , Cau Quy .

 

Nam Binh ty . binh dan . binh thin . binh ngo . binh than . binh tuat .
Đinh suu . dinh mao . dinh ty . dinh mui . dinh dau . dinh hoi.
Tho Cau Tai , Cau Quy . đo mang
Con Nư Binh , Nư  Đinh thơ Chua Ngoc Nương Nương đô mang.

1.Cầu tình duyên

 

-Chuyện những chàng trai, cô gái đã lớn tuổi mà vẫn chưa có gia đình, hay đến mức còn chưa có người yêu đều không phải là do chủ quan chưa muốn có gia đình hay người yêu của người đó. Thực tế của vấn đề chưa có tình duyên hay chưa lập gia đình khi tuổi đã lớn là do yếu tố chưa kích hoạt được cung nhân duyên trong ngôi nhà.

-Để cầu duyên cho những chàng trai, cô gái đã lớn tuổi mà chưa có người yêu hay “khó lấy”, Thì có 1 phương pháp rất hiệu nghiệm và tác dụng nhanh khi kết hợp với các linh vật phong thủy. Nếu áp dụng đúng thì chỉ trong vòng thời gian ngắn sẽ có kết quả ngay:

1-Xác định cung mệnh của người cần tình duyên hôn nhân.

2-Xác định Hướng Cung vị tạo nên khí “Diên Niên” của người đó trong ngôi nhà.

3-Đặt giường ngủ của người đó tại cung “Diên Niên”, quay về hướng Sinh Khí hoặc Diên Niên.

4-Đặt bếp lò quay lưng về phương lục sát hoặc phương hung so với mệnh chủ nhà, và bếp hướng về phương Diên Niên.

 

-Nếu Xử lý phong thủy đúng như trên thì thời gian ứng nghiệm sớm nhất là nửa năm.

 

 

2.Cầu tài

 

-Việc nhiều người cố gắng “đi cầu đi xin lộc” từ đền này hay điện khác mà vẫn không có lộc, cũng như việc cố gắng vất vả làm ăn dù đã bỏ ra bao nhiêu công sức mà kết quả thì không được bao nhiêu, thậm chí còn bị thua lỗ. Việc làm ăn thua lỗ hay kinh doanh không gặp cũng như không có tài lộc, xét từ nhiều góc độ thì có rất nhiều lý do, nhưng những lý do chính là  Phong thủy nhà chưa tôt, mồ mả tổ tiên không được huyệt đẹp hay địa khí vượng…

 

 

 

-Với thuật kích hoạt tài lộc làm ăn cho gia chủ bằng các linh vật phong thủy bí quyết sau thì gia chủ sẽ nhanh chóng phát tài phát lộc và trở nên giàu có:

1-Đặt một lọ có chứa 10 loại nước thối (lắp kín không để có mùi bay ra ngoài) tại nhà vệ sinh ở cung xấu so với bản mệnh chủ nhà ( tuyệt mệnh, ngũ quỷ, lục sát, họa hại).

2-Đặt bếp quay lưng về phương vị hung so với bản mệnh chủ nhà và mặt bếp hướng về phương Sinh khí. Thời gian ứng nghiệm là 1 tháng sau sẽ được lộc nhỏ, 3 tháng sau sẽ được lộc lớn, 1 năm sau sẽ được đại lộc. Thời gian ứng nghiệm thuộc vào các tháng, năm: Hợi, Mão, Mùi.

3-Đặt bếp quay lưng về phương vị hung so với bản mệnh chủ nhà và mặt bếp quay về phương Thiên y thì sẽ phát tài lớn, thời gian phát lộc ứng nghiệm vào các tháng, năm: Thân, Tý, Thìn.

4-Đặt bếp quay lưng về phương vị hung so với bản mệnh chủ nhà và mặt bếp quay về phương vị Diên Niên thì sẽ phát tài trung bình, thời gian phát lộc ứng nghiệm vào các tháng, năm: Tị, Dậu, Sửu.

5-Đặt bếp quay lưng về phương vị hung so với bản mệnh chủ nhà và mặt bếp hướng về phương Phục vị thì sẽ phát tài nhỏ, thời gian ứng nghiệm vào tháng, năm: Hợi, Mão, Mùi.

 

 

3.Cầu tự (cầu con)

-Trong thực tế có nhiều đôi vợ chồng dù lấy nhau được nhiều năm mà vẫn chưa có con, cho dù cả vợ chồng đi khám đều có khả năng sinh con và không có bệnh tật gì. Vậy nguyên nhân tại đâu? – Thật ra vấn đề này lại là ở phong thủy nhà chưa đúng Trước tiên là do đặt bể phốt, bể nước ngầm, đào giếng, tai cung bản mệnh hoặc cung đào hoa cộng với hướng nhà không tốt đã làm cho việc hiếm con trở nên trầm trọng và khiến vợ chồng lo lắng. cũng vì thế mà có nhiều trường hợp đã ly hôn vì chuyện không có con.

 

-Phương pháp cầu con  mà các nhà phong thủy đã đúc kết từ xa xưa

1-Đặt bếp, nhà quay lưng về phương vị hung so với bản mệnh chủ nhà và mặt bếp hướng về phương Sinh khí. Sẽ có 5 người con trai.

2-Đặt bếp, nhà quay lưng về phương vị hung so với bản mệnh chủ nhà và mặt bếp quay về phương Thiên y. Sẽ có 4 con trai.

3-Đặt bếp, nhà quay lưng về phương vị hung so với bản mệnh chủ nhà và mặt bếp quay về phương vị Diên Niên. Sẽ có 3 con trai.

-Phương pháp cầu con hiệu quả nhanh nhất và phức tạp nhất: Quay lưng bếp về phương vị hung so với mệnh chủ và hướng mặt bếp về phương vị phục vị. Chờ Sao thiên Ất Quý Nhân bay đến hướng phục vị sẽ có con ngay.

-Cách Tính Sao : Thiên ất quý nhân dựa vào sự di chuyển của Sao lưu niên. Tức là sự di chuyển của chín ngôi sao trong Huyền Không Phi Tinh theo năm. Sao Thiên Ất Quý Nhân là sao Nhị Hắc.

-Ví dụ: Người chồng sinh năm 1974, cưới năm 2007 đến 2009 vẫn chưa có con. Sau khi Đặt hướng bếp quay lưng về phía lục sát và mặt quay  về phía đông bắc tạo nên khí phục vị. Kết quả năm 2010 do có sao Nhị hắc ( Sao Thiên Ất Quý Nhân) Bay đến phương đông bắc nên trong năm đã sinh con.

 

 

Chú ý: Để các phương pháp cầu duyên, cầu tài, cầu con đạt được hiệu quả thì độc giả nên nhờ người am hiểu sâu về phong thủy để tính toán và xử lý theo bí quyết và xử lý hợp mệnh gia chủ đạt hiệu quả điều cần cầu mong.Trước khi chuyển táo môn cần phải có văn pháp cầu an đức táo mới được.

 

 

Nhặt lá vàng – Hoàng Trọng |

Nhặt lá vàng

Sáng tác: Hoàng Trọng |

Nhạc Trữ tình |

Mùa [C] thu mây trắng lững [Em] lờ, [Am] không gian mờ [G7] mờ người đẹp đi trong [C]

Nhẹ [F] nâng tà áo dịu [Dm] dàng [Em] nhặt lá thu [Am] vàng dệt [D7] mộng đón thu [G7] sang

Thẫn [C] thờ môi khép không [Em] lời [Am] vì mơ một [G7] người một người yêu xa [C] xôi

Người [F] đi một sớm đẹp trời, [Em] dệt thắm hoa [Am] đời hẹn [G7] về giữa ngày [C] vui

Lặng [F] thầm gió trút lá bỗng [Dm] dưng sầu, nhặt [G7] từng chiếc lá úa nhớ [C] thu nào

[Dm] Chia ly muôn kiếp vẫn [G7] sầu, để nhớ cho [Em] nhau [D7] nào ai có [G7] thấu

Người [C] yêu xoả tóc mong [Em] chờ, [Am] dù xưa hẹn [G7] hò mà giờ đây bơ [C]

Mùa [F] thu này cũng đẹp trời [Em] mà thiếu một [Am] người, cùng [G7] nhặt lá vàng [C] rơi

Mùa [C] thu mây trắng lững [Em] lờ, [Am] không gian [G7] mờ mơ người đẹp đi bơ [C]

Ngày [F] xưa nhặt lá rụng [Dm] tàn, [Em] nào có hay [Am] rằng giờ [D7] nàng khóc thu [G7] sang

Mùa [C] thu tang trắng buồn [Em] dài, [Am] chim bay lạc [G7] loài một người đi hôm [C] nay

Người [F] đi là hết mộng rồi [Em] là tắt môi [Am] cười, lạnh [G7] lùng lá vàng [C] rơi

Người [F] về nơi hư vô có [Dm] bao giờ hồn [G7] tìm đến dĩ vãng, khóc [C] trong mơ

[Dm] Thương trăng ai vẫn ngóng [G7] chờ hình dáng xa [Em] xưa [D7] kề vai thương [G7] nhớ

Người [C] yêu xoả tóc bên [Em] mồ, [Am] thu xưa hẹn [G7] hò mà giờ đây bơ [C]

Mùa [F] thu này khóc một mình [Em] mộng ước không [Am] thành, để [G7] buồn những ngày[C] xanh

NLV

Mai Hân – Nhặt Lá Vàng (Hoàng Trọng)

Hoàng Trọng (1922 – 1998) là một nhạc sĩ nổi tiếng, được mệnh danh là Vua Tango của âm nhạc Việt Nam.

Hoàng Trọng tên thật là Hoàng Trung Trọng, sinh năm 1922 tại Hải Dương. Năm 1927 gia đình ông chuyển về sống tại Nam Định.

Hoàng Trọng bắt đầu học nhạc từ năm 1933 qua người anh trai là Hoàng Trung Quý. Từ năm 1937, Hoàng Trọng học nhạc tại trường Thày Dòng Saint Thomas Nam Định. Đến năm 1941, ông tiếp tục nghiên cứu âm nhạc qua sách vở và học hàm thụ từ một trường ở Paris. Cũng thời gian ở Nam Định, khoảng 1940 Hoàng Trọng có mở một lớp dạy nhạc.

Năm 15 tuổi, Hoàng Trọng cùng các anh em trong gia đình Hoàng Trung An, Hoàng Trung Vinh và một số bạn bè như Đan Thọ, Đặng Thế Phong, Bùi Công Kỳ… lập một ban nhạc. Ban đầu ban nhạc không có tên và gần như chỉ để giải trí. Năm 1945 Hoàng Trọng mở phòng trà Thiên Thai ở Thái Bình, và bạn nhạc từ ấy mang tên Thiên Thai. Thiên Thai trình diễn ở đó mỗi tối và hoạt động tới năm 1946, khi chiến tranh Việt – Pháp bùng nổ.

Cuối thập niên 1930, tân nhạc Việt Nam bắt đầu hình thành, Hoàng Trọng cũng có sáng tác đầu tay Đêm trăng được viết năm1938, khi ông mới 16 tuổi. Một số bản nhạc tiếp theo của ông đã được Phạm Duy trình bày trên sân khấu của gánh hát Đức Huy, trong đó có Tiếng đàn tôi, một trong những bản Tango đầu tiên của Việt Nam. Một bản nhạc tiền chiến nổi tiếng khác của Hoàng Trọng thời gian đó là Một thuở yêu đàn.

Vì chiến tranh, ông di chuyển khỏi Nam Định, qua phủ Nho Quan, Phát Diệm và cuối cùng định cư tại Hà Nội năm 1947. Thời gian đó ông đã viết bản Phút chia ly, một nhạc phẩm tango giá trị, do Nguyễn Túc đặt lời. Cũng trong khoảng thời gian ở Hà Nội, Hoàng Trọng liên hệ với những nghệ sĩ của đài phát thanh như Mộc Lan, Minh Diệu, Mạnh Phát, Châu Kỳ… nhờ đó các nhạc phẩm của ông được phổ biến. Hoàng Trọng cũng viết cuốn Tự học Hạ Uy cầm, tích lũy từ những kinh nghiệm dạy đàn trước đó, và được nhà xuất bản Thế Giới phát hành.

Năm 1950, nhạc sĩ Hoàng Trọng gia nhập quân đội. Ông là trưởng ban Quân nhạc Bảo Chính Đoàn trình diễn mỗi tuần tại một vườn hoa cạnh Bưu Điện Hà Nội (vườn hoa Indra Gandi?) và trong chương trình Tiếng nói Bảo Chính Đoãn của đài phát thanh Hà Nội. Khoảng thời gian này, ông viết nhiều bài hát, trong đó có Gió mùa xuân tới. Năm 1953 tên tuổi Hoàng Trọng thực sự nổi tiếng với Nhạc sầu tương tư, ca khúc đó được trình diễn thường xuyên trên đài phát thanh khi ấy. Năm đó ông còn viết một bản tango khác là Dừng bước giang hồ.

Năm 1954, Hoàng Trọng di cư vào miền Nam, sống trong hoàn cảnh gà trống nuôi 3 con: Hoàng Nhạc Đô, Hoàng Cung Fa, Hoàng Bạch La. Tại Sài Gòn, ông thành lập những ban nhạc trình diễn trên đài phát thanh Sài Gòn, đài Quân Đội, đài Tiếng Nói Tự Do và đài Truyền hình Việt Nam. Những ban nhạc của ông hoạt động đến tận 1975, từng mang nhiều tên khác nhau như Hoàng Trọng, Tây Hồ, Đất Nước Mến Yêu… đặc biệt từ năm 1967 với tên Tiếng Tơ Đồng. Ban hợp xướng Tiếng Tơ Đồng, với các ca sĩ, nhạc sĩ danh tiếng của Sài Gòn khi đó, đã trình bày nhiều ca khúc tiền chiến giá trị.

Khoảng thời gian ở Sài Gòn, Hoàng Trọng sáng tác rất mạnh mẽ, nhiều ca khúc nổi tiếng như Ngàn thu áo tím, Lạnh lùng, Bạn lòng, Mộng lành, Tiễn bước sang ngang, Ngỡ ngàng… Trong khoảng 200 nhạc phẩm của Hoàng Trọng, ông chỉ tự đặt lời khoảng 40 bài. Số còn lại được sự giúp đỡ của nhiều nhạc sĩ khác như Hồ Đình Phương, Hoàng Dương, Nguyễn Túc, Quách Đàm, Vĩnh Phúc… Trong giới nhạc sĩ Việt Nam, Hoàng Trọng viết tango nhiều và được xem như người thành công nhất với danh hiệu Vua Tango.

Ông cũng tham gia viết nhạc phim, một vài phim có tiếng như Xin nhận nơi này làm quê hương, Giã từ bóng tối, Người tình không chân dung, Sau giờ giới nghiêm, Bão tình. Với nhạc trong bộ phim Triệu phú bất đắc dĩ, Hoàng Trọng đã được giải thưởng Văn học Nghệ thuật của Việt Nam Cộng hòa trong năm 1972 – 1973.

Sau 1975, Hoàng Trọng chỉ sáng tác một vài ca khúc và không phổ biến. Bản cuối cùng của ông là Chiều rơi đó em. Năm 1992 Hoàng Trọng sang định cư tại Hoa Kỳ và qua đời ngày 16 tháng 7 năm 1998.

Theo wikipedia.org

Sơn nữ ca – Trần Hoàn

Chúc xuân – Đinh Trung Chính

Dòng sông lơ đãng – Việt Anh

Người đi qua đời tôi – Phạm Đình Chương

Có đôi khi – Lã Văn Cường

Cõi vắng – Diệu Hương

Câu chuyện nhỏ của tôi – Thanh Tùng

Chỉ còn là kỷ niệm – Lam Phương

Chuông chiều – Lm. Thành Tâm

Mình mất nhau bao giờ – Lam Phương

Vết thù trên lưng ngựa hoang – Ngọc Chánh & Phạm Duy

Ước nguyện đầu xuân – Hoàng Trang

Chỉ có ta trong đời – Trịnh Công Sơn

Dạ khúc – Quốc Bảo

Biển hát chiều nay – Hồng Đăng