Sự thật đời tôi – Trung Tướng Trần Văn Minh


Bài cũ, nhưng khi đọc lại vẫn thấy đau đớn

Để tôi kể bạn nghe về sự thật của tôi. Đó không phải là sự thật về bất cứ sĩ quan hay ông tướng ông tá người Việt nào. Nó không phải là sự thật về một chính khách người Việt nào. Nó chẳng là sự thật về gia đình tôi hay bạn bè tôi.
Nhưng nãy giờ tôi đang nói về sự thật của tôi. Đó là những gì tôi đã thấy và tôi đã tin. Đó là sự thật của tôi. Câu trả lời cho thảm kịch thất trận của miền Nam Việt Nam thật đơn giản. Nó có thể tóm gọn với hai chữ “không đủ”. Chúng tôi không có đủ tiếp liệu trong những tuần cuối cùng của cuộc chiến. Và chúng tôi không có đủ lính. Chỉ có thế. Đó là toàn bộ vấn đề. Không đủ.
Báo chí Mỹ nói là chúng tôi thất trận vì chúng tôi tham nhũng. Tôi không chối là đã có tham nhũng tại Việt Nam. Có. Có tham nhũng trên thị trường, trên chính trường và trong một vài đơn vị quân đội. Nhưng dứt khoát không có tham nhũng trong Không Quân. Những người lính không quân tin vào Tổ Quốc Không Gian, và họ tin cậy cấp chỉ huy. Không có chuyện tham nhũng nơi các sĩ quan quanh tôi.
Vấn đề sinh tử là chúng tôi không còn cơ phận và cũng không có nhiên liệu. Chúng tôi bị thiếu hụt nhiên liệu trong những ngày cuối cuộc chiến. Vì vậy mà chúng tôi không thể cất cánh. Không lực chúng tôi bị nằm ụ dưới đất. Thế mà người Mỹ, có computer với đầy đủ dữ kiện. Họ nói rằng chúng tôi có đủ. Họ cả quyết là chúng tôi có đủ nhiên liệu và đồ phụ tùng. Họ cả quyết trên cơ sở chính trị. Họ không cả quyết trên cơ sở thực tế.

Tất cả những gì chúng tôi cần đến là tiếp vận. Có tiếp liệu mới đánh đấm được. Khi mà hàng tiếp liệu không được chuyển giao, thì tinh thần chiến đấu của sĩ quan và binh lính chúng tôi sẽ xuống thấp. Ai cũng thấy là đồ tiếp liệu đang cạn kiệt. Họ biết chúng tôi sẽ hết sạch. Và khi họ thấy như vậy, họ sẽ biết là chúng tôi đang bị đồng minh thân thiết bỏ rơi. Và rồi họ sẽ mất sạch tinh thần chiến đấu. Tôi chưa bao giờ nghĩ là đồng minh sẽ lừa dối và bỏ rơi chúng tôi. Tôi nghĩ đến Bá Linh và Đại Hàn khi nghĩ đến các giải pháp của người Mỹ. Và tôi thấy người Mỹ đã bảo vệ họ. Tôi nghĩ là chúng tôi, là tiền đồn của thế giới tự do, rồi cũng được bảo vệ như thế. Đại sứ Graham Martin nói đi nói lại là Mỹ sẽ không bao giờ bỏ rơi chúng tôi. Ổng nói là chúng tôi nên tin như thế.

Những gì đã xảy ra vào phút cuối đã như một vài người Mỹ đã nói trước. Chúng tôi thua trận nhanh hơn Bắc quân có thể thắng. Đúng vậy. Tôi coi sách lược của Tổng Thống Thiệu là bỏ rơi vùng cao nguyên sau khi mất Ban Mê Thuột là một chiến thuật hay. Nhưng nếu chúng ta được tiếp vận hợp lý, thì tinh thần chiến đấu của chúng ta vẫn còn, và chúng ta có thể tái phối trí quân đội để tiếp tục chiến đấu.

Khi Tổng Thống Thiệu từ chức vào ngày 21 tháng Tư, tôi đã nghĩ đó là dấu hiệu lạc quan. Tôi nghĩ rằng chúng tôi sẽ có những thỏa ước mới, những chế độ mới. Phó Tổng Thống Hương trở thành Tổng Thống. Ông là một nhà giáo lão thành đáng kính. Ông là một người trung thực.

Nhưng rồi ông giao quyền Tổng Thống cho tướng Dương Văn Minh. Một vài người chúng tôi tin rằng tướng Minh có thể đạt được những thỏa ước hòa bình. Nhưng chúng tôi cũng nghĩ tình hình đang diễn ra là một bóng đen hắc ám. Chúng tôi tin rằng người Việt sẽ không còn tự quyết một điều gì. Bất cứ điều gì, chúng tôi tin chắc rằng, phải được quyết định sau bức màn siêu quyền lực. Người Mỹ, người Nga, người Tàu – chúng tôi tin chắc là thế – sẽ quyết định số phận của Việt Nam. Chúng tôi đã chờ đợi ngày này qua ngày khác mới thấy những điều họ đã âm mưu. Chúng tôi nghĩ một phần trong những âm mưu đó là người Mỹ sẽ ngưng cung cấp hàng tiếp liệu cho chúng tôi.

Trong những ngày cuối cùng của VNCH nhiều lần tôi đã có nói chuyện với tướng Nguyễn Cao Kỳ. Và nhiều lần ông đã yêu cầu tôi làm đảo chánh. Ông nói: “Hãy cẩn thận. Người Mỹ đang bảo vệ Tổng Thống Thiệu. Đừng để họ biết kế hoạch của các anh”. Rồi khi tôi gặp ổng vài ngày sau đó, ổng lại yêu cầu tôi: “Khi nào thì anh cầm đầu cuộc đảo chánh? Khi nào thì đảo chánh?”. Tôi nói với ổng là tôi không muốn cầm đầu đảo chánh. Tôi hỏi ông ấy là ông có muốn đảo chánh không? Và ổng nói không, không muốn. Ông nói là ông nghĩ tôi muốn. Ổng quá cẩn thận. Ông muốn tôi cầm đầu đảo chánh để ông trở thành lãnh đạo mới của đất nước. Nhưng điều mà tướng Kỳ không thể nào hiểu được là tôi và binh lính của tôi sẽ không trung thành với ai cả. Chúng tôi chỉ trung thành với Tổ Quốc. Chúng tôi trung thành với Việt Nam, Chúng tôi yêu Việt Nam. Rất nhiều người lính chúng tôi đã chết cho Việt Nam. Họ đã chiến đấu và chết không vì bất cứ ai, mà cho Việt Nam.

Trong một cuốn hồi ký tướng Kỳ nói là tôi đã đến nhà ổng và nói là tôi sẽ trung thành với ổng bằng bất cứ giá nào. Ông nói tôi đã nói với ổng là người của Tòa Đại Sứ Mỹ đang đút tiền cho tôi để thăm dò ông cho Mỹ. Không có điều nào đúng cả. Không hề có ai đưa tiền cho tôi cả – đặc biệt là người của Tòa Đại Sứ Mỹ. Và tôi không hề có chuyện đàm phán nào với tướng Kỳ. Đọc nó rất buồn cười. Tại sao ổng lại bịa ra những điều này trong cuốn hồi ký? Ông moi những chuyện này ở đâu ra vậy? Có thể là ông đang nhắm tới một ai đó chớ không phải tôi. Ông không được bịa chuyện về tôi.

Gần trưa ngày 29 tháng Tư, tôi nhận một cuộc điện gọi từ cơ quan DAO nói rằng sẽ có một cuộc họp giữa Mỹ và các cấp chỉ huy của VNAF. Tôi qua cơ quan DAO với nhiều người nữa. Chúng tôi được đưa vào một gian phòng. Rồi người ta để chúng tôi ngồi đó một lúc lâu. Chúng tôi nghĩ Đại Sứ Martin hoặc tướng Homer Smith (Tùy Viên Quân Sự) hoặc ai đó sẽ thuyết trình một kế hoạch đẩy lui Cộng quân. Nhưng chẳng có ai thuyết trình cả. Không có ai thuyết trình cho tới xế trưa. Sau khi chúng tôi đi vào khu vực cơ quan DAO thì một người lính gác đã tước vũ khí của chúng tôi. Điều này chưa bao giờ xảy ra trước đó. Rồi cuối cùng cũng có một người, mặc đồ sĩ quan, bước vào phòng và nói: “Đã kết thúc rồi, thưa tướng Minh. Một trực thăng đang đợi ngoài kia sẽ đưa ông đi”. Chúng tôi bước ra chiếc trực thăng. Nó đưa chúng tôi bay ra chiếc Blue Ridge ngoài biển Đông.

Một Đại Tá Không Quân Mỹ đang ngồi trên tàu với tôi. Ông ta ngồi kế bên tôi. Ổng khóc suốt chuyến bay. Ổng không nói được. Nhưng ông ấy đã viết gì đó lên một mảnh giấy rồi đưa cho tôi. Tôi đọc: “Thưa tướng quân, tôi rất tiếc”. Tôi vẫn còn giữ mảnh giấy đó cho tới ngày hôm nay. Tôi sẽ giữ mảnh giấy đó suốt đời. Tôi sẽ luôn nhớ tới chuyến bay buồn thảm ra chiến hạm Blue Ridge.

Đối với những người theo đạo Phật như chúng tôi, chúng tôi tin rằng thượng đế đã an bài mọi sự. Chúng tôi tin rằng chúng tôi phải chịu nhiều đau khổ trong cuộc đời này bởi vì kiếp trước chúng tôi đã tạo nhiều ác nghiệp. Tôi tin rằng trong cái kiếp trước mà tôi không nhớ nổi chắc là tôi đã phạm nhiều điều sai quấy. Đó là lý do tại sao chuyện ác lai này lại báo ứng với tôi và với quê hương tôi. Đôi khi chúng ta có thể cưỡng lại số phận nếu chúng ta hành thiện và chỉ làm những điều lương tâm sai bảo. Đó là những gì tôi đang cố tu thân. Tôi phải cố tu thân và làm những gì hợp với lương tâm.

Nhưng từ khi đất nước tôi sụp đổ, tâm hồn tôi đã hóa ra tan nát. Trong 20 năm qua thâm tâm tôi đã cảm thấy trĩu nặng nỗi buồn đau và trống vắng. Nó vẫn không phai đi. Tôi cảm thấy nó hằng ngày. Không một ngày nào trôi qua trong đời mà tôi không nhớ về ViệtNam.

Trung Tướng Trần Văn Minh

Posted by: lpk 116


Trần Văn Minh
Born
21 July 1932
Bạc LiêuFrench Indochina
Died
27 August 1997 (aged 65)
Los Gatos, California, U.S.
Allegiance
 South Vietnam
Service/branch
 Republic of Vietnam Air Force
Rank
 Lieutenant general (Trung Tướng)


In 1956 Minh was promoted to Captain. In 1958 he received jet-training on the Cessna T-37 and was promoted to Major. In 1960 he attended the Air Command and Staff School at Maxwell Air Force BaseMontgomery, AlabamaUnited States. On his return to Vietnam he served as deputy base commander of Nha Trang Air Base, then deputy commander Bien Hoa Air Base, then Command Assistant Deputy at Danang Air Base. In 1964 he was appointed commander of the 62nd Tactical Wing at Pleiku Air Base.
In November 1967 Minh was promoted to Brigadier-General and commander of the VNAF, succeeding Nguyễn Cao Kỳ who was elected as Vice-President of the Republic of Vietnam. Minh would be the longest-serving commander of the VNAF holding command from 1967 until the Fall of Saigon in April 1975. In 1968 he was promoted to Major-General (Thiếu Tướng).
At 08:00 on 29 April 1975, Minh and 30 of his staff arrived at the Defense Attaché Office (DAO) compound demanding evacuation, signifying the complete loss of VNAF command and control.


 Tobin, Thomas (1978). USAF Southeast Asia Monograph Series Volume IV Monograph 6: Last Flight from Saigon. US Government Printing Office. pp. 85–7. ISBN 978-1-4102-0571-1.


Trần Văn Minh
Tiểu sử
Biệt danh
-Minh Đen
-Trần Văn Minh (KQ)

Sinh
21 tháng 7 năm 1932
Bạc LiêuViệt Nam
Mất
27 tháng 8, 1997 (65 tuổi)
CaliforniaHoa Kỳ
Binh nghiệp
Phục vụ
 Việt Nam Cộng hòa
Thuộc
 Quân lực VNCH
Năm tại ngũ
19511975
Cấp bậc
 Trung tướng
Đơn vị
 Không Quân
Chỉ huy
 Quân đội Quốc gia
 Quân lực VNCH
Tham chiến
Chiến tranh Việt Nam
1 Tiểu sứ & Binh nghiệp

1.1 Quân đội Quốc gia Việt Nam

1.2 Quân đội Việt Nam Cộng hòa

2 1975 và Cuộc sống lưu vong

3 Gia đình

4 Chú thích

5 Tham khảo

Hai cuộc vượt ngục lịch sử tưởng như chỉ có trong phim tại trại giam Chí Hòa

Trại giam Chí Hòa (Sài Gòn) được mệnh danh là ‘trận đồ bát quái’ giữa lòng Sài Gòn, nhưng 2 gã giang hồ khét tiếng Phước ‘Tám ngón’ và Điền Khắc Kim đã có cuộc đào tẩu lịch sử thoát khỏi trạm giam này.

TRẠI GIAM CHÍ HÒA ĐƯỢC VÍ NHƯ ‘TRẬN ĐỒ BÁT QUÁI’ GIỮA LÒNG SÀI GÒN.

Được mệnh danh là ‘trận đồ bát quái’ giữa lòng Sài Gòn, trại giam Chí Hòa được các phạm nhân truyền tai nhau:

“Hoặc là có cánh, hoặc biết độn thổ mới thoát khỏi nơi này”. Sau 70 năm hình thành chỉ có 2 cuộc vượt ngục thành công ở trại giam này.

Cuộc đào tẩu của tướng cướp khét tiếng Điền Khắc Kim

Điền Khắc Kim tên thật là Lê Văn Minh, sinh năm 1947 tại Sài Gòn trong gia đình nghèo, đông con. Biến cố khiến hắn thành tay giang hồ khét tiếng từ sau khi người hắn yêu – một cô gái quán bar Helen Diễm bị lính Mỹ cưỡng bức, sát hại rồi quăng xác ra đường.

Hận thù, Kim quyết “ăn miếng trả miếng”, nhiều lần đột nhập dinh thự cướp của, cưỡng bức vợ các quan chức Mỹ. Sau mỗi phi vụ, hắn đều để lại biệt danh ĐKK (tức Điền Khắc Kim) tại hiện trường. Khác với các tay đại ca thường quy tụ nhiều đàn em, Kim chỉ đơn phương độc mã nhưng lại nổi tiếng với những vụ xuất quỷ nhập thần.

Tháng 5/1970, Kim đột nhập vào nhà Giám đốc Hội cha mẹ nuôi quốc tế trên đường Trần Quý Cáp (nay là Võ Văn Tần). Sau khi dùng súng khống chế, hắn bắt trói người chồng, nhét giẻ vào miệng rồi đem nhốt vào nhà tắm. Trước khi tẩu thoát với mớ của cải gom được, Kim cưỡng bức bà vợ. Tuy nhiên, giám đốc cởi được dây trói, bí mật gọi cảnh sát.

TƯỚNG CƯỚP ĐIỀN KHẮC KIM VỚI BIỆT DANH ĐKK.

Kim bị bắt, thụ án 20 năm ở trại giam Chí Hòa. Trong trại, hắn liên lạc với một số phạm nhân ở buồng giam tội hình sự nằm sát khu hỏa thực nhờ hỗ trợ kế hoạch vượt trại.

Đêm 23/4/1972, lợi dụng lúc trại giam đang chiếu phim cho phạm nhân, hắn lẻn ra xe Jeep của trung tá cai ngục, bò xuống gầm rồi bám vào càng xe như con thằn lằn bám trên trần nhà. Ít phút sau, viên trung tá đánh xe rời trại về nhà, xe Jeep vừa ra khỏi cổng lập tức phạm nhân ở một số buồng đồng loạt la ó phản đối, đòi yêu sách cải tiến chế độ ăn uống.

Toàn bộ binh sĩ trực gác đổ về hiện trường lo giải quyết sự cố bất ngờ. Bên ngoài cổng trại, trung tá nghe cấp báo qua máy bộ đàm liền dừng xe để chạy vào chỉ huy dẹp bạo loạn. Đúng kịch bản đã vạch sẵn, Kim nhẹ nhàng tiếp đất, tẩu thoát dễ dàng.

Cuộc vượt ngục lịch sử của tử tù Phước ‘Tám ngón’

Phước “Tám Ngón” tên thật là Nguyễn Hữu Thành, sở dĩ có biệt danh trên là do một bàn tay bị cụt mất 2 ngón. Hắn sinh năm 1971 trong một gia đình nghèo ở Dĩ An, Thuận An, tỉnh Sông Bé cũ (nay là Bình Dương). Chưa thành niên, Phước bỏ nhà đi bụi, sống bằng cờ bạc, trộm cắp, cướp bóc.

Năm 17 tuổi, Phước phải bước vào nhà giam với bản án tù 36 tháng về tội trộm cắp. Sau đó, Phước lại tiếp tục bị Công an TP HCM bắt rồi di lý cho Công an Vũng Tàu đưa đi cưỡng bức lao động.

Không chịu cải tạo, Phước trốn trại rồi mua súng lập băng cướp. Đây cũng là thời kỳ mà tên tuổi của Phước “Tám Ngón” nổi lên trong giới giang hồ như một ông trùm giết người máu lạnh.

Đầu năm 1991, tại khu vực Thủy điện Trị An, Đồng Nai, băng cướp của Phước “Tám Ngón” hoành hành. Chúng dùng súng uy hiếp để cướp xe máy của một người đi đường. Khi bị nạn nhân chống cự, chúng đã rút súng bắn trọng thương. Tiếp đó, chỉ trong vòng nửa tháng, bọn chúng liên tiếp gây ra 2 vụ cướp, một vụ trộm và bắn chết một nạn nhân tại Thủ Đức.

Ngày 24/6/1994, Phước “Tám Ngón” bị TAND TP HCM tuyên án tử hình về các tội giết người, cướp tài sản công dân và sau đó gây ra vụ vượt ngục như trong phim đêm 26/3/1995 tại trại giam Chí Hòa.

CUỘC ĐÀO TẨU LỊCH SỬ CỦA TỬ TÙ KHÉT TIẾNG TRONG GIỚI GIANG HỒ – PHƯỚC ‘TÁM NGÓN’.

Đây là vụ vượt ngục duy nhất trong lịch sử khám Chí Hòa thời hiện đại mà sau này khi điều tra về diễn biến của nó qua lời khai của Phước “Tám Ngón”, qua những thực nghiệm điều tra nghiêm túc, khoa học, nhiều người vẫn cứ ngỡ tất cả như chỉ có trong phim.

Sau khi đã bẻ gãy đôi chiếc cùm chân, Phước nghĩ ra kế để tránh sự phát hiện của quản giáo. Lúc này chiếc hộp quẹt ga xin được từ lâu mới phát huy tác dụng. Phước lấy vải khéo léo quấn xung quanh vết cưa rồi bên ngoài lớp vải ngụy trang đó, Phước lại dùng hộp quẹt gas tỉ mẩn đốt nhựa chảy phủ kín lên trên.

Trước đó, do có âm mưu trốn trại nên Phước “Tám Ngón” luôn luôn dòm ngó mọi thứ bên trong phòng giam để tìm cơ hội. Trong một lần đi vệ sinh, Phước phát hiện thấy vách tường nhà vệ sinh bị mục. Âm mưu khoét tường để đào thoát hình thành từ đó.

Sau 5 ngày cưa xong cùm, đêm 26/3/1995 là thời điểm Phước chọn để trốn khỏi xà lim. Phần vì trời tối thuận lợi, phần vì đây là quãng thời gian các phạm nhân đều đã đi ngủ, trại vắng vẻ.

Khoảng 21 giờ, Phước bắt đầu tháo cùm chui vào nhà vệ sinh. Tại đây, hắn dùng chiếc dùi sắt tự chế tạo được từ một khoen sắt tròn trong nhà vệ sinh, để khoét vách tường, chỗ mà Phước nhìn thấy bị mục từ trước thành một lỗ hổng vừa đủ lọt người qua.

Số xi măng và cát vụn khoét từ tường ra, Phước trút vào lỗ cầu vệ sinh rồi đổ nước cho trôi đi, số gạch thì Phước bê vào trong chỗ ngủ, sắp xếp thành một hình trông giống như hình người đang nằm. Sau đó, hắn lấy mền phủ kín lên trên để ngụy trang, đề phòng trường hợp quản giáo bất ngờ đi kiểm tra nhìn thấy thế vẫn tưởng là phạm nhân đang nằm ngủ.

Khoét tường xong, Phước bắt đầu khom người luồn qua lỗ hổng để chui ra phía cầu thang lầu bên ngoài buồng giam số 15 rồi leo xuống cầu thang tường thì giật thót mình khi nghe thấy tiếng bước chân tuần tra đêm của cán bộ quản giáo. Hoảng hốt, sợ bị phát hiện, Phước bèn vội vã leo ngược trở lên rồi cứ thế đi trên nóc nhà để sang khu AH.

Tại đây, Phước dùng quần áo và khăn nối lại thành một sợi dây rồi cột một đầu vào kèo nhà còn đầu kia thả để theo dây mà đu xuống. Nhưng, đang đu thì dây đứt nên Phước bị té sấp xuống mặt đất, bất tỉnh. Chừng hơn một tiếng sau thì Phước mới tỉnh lại, biết mình vẫn còn ở trong khu giam, Phước cố nén đau vùng dậy vội vàng lết đến cây cột điện ở gần đó.

Giữa sự sống và cái chết, giữa hoảng sợ và đau đớn, như một thứ bản năng, con người bỗng trở nên có sức mạnh ghê gớm. Thế nên, mặc dù cả chân lẫn cột sống đều bị chấn thương nhưng Phước vẫn trèo lên được cột điện khá cao để rồi từ đó leo qua hàng rào tụt xuống đất. Đây là địa phận khu tập thể của gia đình cán bộ quản giáo nằm kề trại.

Lúc này đã là tờ mờ sáng. Phước lết vào trong sân, thấy có một bộ đồ cảnh sát đang phơi, một chiếc xe đạp và một đôi dép. Chỉ trong chớp mắt, hắn bèn nghĩ ra cách ngụy trang. Phước vớ lấy bộ đồ cảnh sát mặc vào người, xỏ dép, dắt xe đạp rồi cố bình tĩnh, nén đau đường hoàng dắt xe ra cổng chính của trại Chí Hòa.

Qua phòng trực cổng trại, Phước vào xin cảnh sát trực cổng được ra ngoài uống cà phê. Thấy người mặc quân phục đàng hoàng lại dắt xe đạp đi ra từ khu gia đình cán bộ, nên cảnh sát trực trại ngỡ đó là anh em cán bộ, chiến sĩ trong trại. Vì vậy, anh đã mở cổng cho Phước dắt xe ra ngoài.

Vậy là sáng sớm 27/3/1995, Phước “Tám ngón” – tử tù nguy hiểm đã đào thoát được ra khỏi trại Chí Hòa.

Theo VnExpress, ANTG

Đọc thêm  Chùm ảnh siêu hiếm về thời thơ ấu của Hoàng đế Bảo Đại

Đọc thêm  Cụ ông 90 tuổi mở quán phở Hà Nội ở Sài Gòn

 

Tư tưởng HCM góp nhặt, ăn cắp của người

Subject: Fwd: [ChinhNghia] Tư tưởng HCM góp nhặt, ăn cắp của người khác”xuanthai1@gmail.com” ,

 

Luôn-luôn hãy nhớ câu nầy

Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan.

Ngày đi: Ðảng gọi Việt gian

Ngày về: Ðảng lại chuyển sang Việt kiều

Chưa đi: phản động trăm chiều

Ði rồi: thành khúc ruột yêu ngàn trùng

Trốn đi: Ðảng bắt đến cùng

Trở về: Đảng đến, săn lùng Đô la

 

Nhà ai giàu bằng nhà cán bộ?

Hộ nào sang bằng hộ đảng viên?

Dân tình thất đảo bát điên

Đảng viên mặc sức vung tiền vui chơi.

=

Tư tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng góp nhặt, ăn cắp của người khác

=

1965: CSVN đánh cho Mỹ cút – 1973: Mỹ đã cút rồi

2015: 71% dân VN muốn Quân Mỹ trở lại VN

=

Thị Trưởng Garden Grove, CA, Bảo Nguyễn:  40 năm mà còn hận thù gì nữa?

   

01: Hậu thù CS từ đảng CSVN – Lãnh sự Đặng Xương Hùng – xin tỵ nạn, Thụy Sỹ

02: Phát biểu của giới trẻ trong nước VN về Việt Nam Cộng Hòa

03: Hận thù CS từ tuổi trẻ VN – Lisa Phạm, cháu của tướng Trần Độ, chửi cộng phỉ

04: Hận thù CS từ đảng CSVN: Đại tá Đào Văn Nghệ chửi đảng chó đẻ CSVN

05: Hận thù CS từ tuổi trẻ VN – Nguyễn Vũ Sơn – ĐMCS – Họ Không Còn Sợ Hãi

06: Hận thù CS từ đảng CSVN: nghệ sĩ Tạ Trí Hải: Cộng Sản có mắt như mù

07: Hận thù CS từ tuổi trẻ VN – Việt Khang, Việt Nam tôi đâu? – Anh là ai?

08: Hận thù CS từ công dân VN – Chó ỉa lên mặt Hồ Chí Minh

09: Hận thù CS từ công dân VN – Cộng phỉ cuớp đất – Cộng phỉ cướp xe

10: Hận thù CS: súc sinh Hồ Chí Minh – CSVN: chế độ giết người

11: Hận thù CS từ người Mỹ – Jane Fonda phản chiến, thân cộng, trước 1975

12: Jane Fonda – Xin lỗi – Tôi đã lầm – Sai lầm to lớn – Tất cả bị CS lừa

=

=

Ngoại Trưởng Mỹ, súc vật Henry Kissinger, đã giết VNCH để làm quà cho Mao

Mắt đền mắt, răng đền răng.  Nợ máu phải trả bằng máu

Thế kỷ 1, Israel đã bị tiêu diệt.  Israel sẽ bị Iran tiêu diệt, để trả thù cho VNCH

 

Thắng là vua, thua là giặc?  Thua là tội phạm, phản loạn, phản quốc?

Luật pháp do người làm ra.  Trộm, cướp, hiếp dâm, ở xã hội nào cũng là tội phạm

Bất đồng chính kiến không phải là tội phạm.  Âu, Mỹ, Úc không có tù chính trị.

Các nước độc tài, đần độn, có tù chính tri.

Nước Đức chia đôi.  Nước Đức thống nhất.  Không ai phản loạn, phản quốc.

Nam bắc Mỹ đánh nhau.  Nam Mỹ thua.  Nam Mỹ vẫn ở trong Liên Bang Mỹ.

 

Cả 2 miền nam bắc VN, chỉ là con cờ trong âm mưu của các cường quốc.

Cả 2 miền nam bắc VN, không làm được 1 cây súng, một viên đạn.

Thế mà họ đánh nhau bằng phản lực, hoả tiễn, đại pháo, và tank của ngoại bang.

VNCH nhận tiền, vũ khí của Mỹ.  Cộng phỉ nhận tiền, vũ khí của Liên Xô và Chệt.

 

Cộng phỉ chống Mỹ cứu nước?  Lê Duẫn nói: ta đánh Mỹ, là đánh cho Liên Xô, Chệt.

CS thắng? – Cộng phỉ đầu hàng 1973 – Kissinger giết VNCH để làm quà cho Mao

Sau 40 năm, khắp thế giới, cờ cộng phỉ chỉ treo trong các Lãnh Sự quán, Đại Sứ quán

Cộng phỉ chiếm miền nam.  Cộng phỉ bị văn hoá miền nam đồng hóa.

CS chê nhạc VNCH là Sến.  Ca sĩ hải ngoại về VN hát nhạc Sến cho cộng phỉ nghe

 

VNCH thua?  Mỹ bại? – Bề ngoài là thế.  Mỹ bỏ VNCH, thì VNCH ngưng chiến đấu

VNCH là tội phạm, phản quốc, bán nước?  VNCH không bán đất, bán biển cho Chệt.

Bây giờ, cộng phỉ chiến thắng van lạy Mỹ bại trận giúp cộng phỉ chống lại Chệt.

 

Cộng phỉ lừa bịp, ngụy trang các nhà tù chung thân khổ sai là học tập cải tạo.

Những tên bị tù, được Mỹ cho qua Mỹ sống nhân đạo (HO) mà vẫn nói đi “học tập

Ai gọi súc vật Hồ chí Minh là “bác hồ”, đó là lũ súc sinh, u mêđần độn.

NKỳ, TKhiêm, VÁnh, VThúc, LKhoa, TTrường, NLập, NHùng, PVịnh, bợ đít cộng phỉ

=

Cộng phỉ Trường Chinh đấu tố mẹ

Đảng viên cộng phỉ Trường Chinh đấu tố cha mẹ đến chết.

“Tao với mi không mẹ không con mà chỉ là kẻ thù giai cấp của nhau”

Trường Chinh tên thật là Đặng Xuân Khu sinh ngày 9/2/1907 tại làng

Hành Thiện, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định, chết 1988 tại Hà Nội.

=

1975, tàu VN Thương Tín từ Guam về VN.  Đã bị bắt vào tù, bị lưu đày ra bắc

2015, tàu chiến của cộng phỉ đến Australia – Tất cả có 46 cộng phỉ xin tỵ nạn.

Australia đuổi họ quay trở về Việt Nam – Có lẽ đã vào tù, giống VN Thương Tín

=

Cộng phỉ đầu hàng 1973 – Bắc Việt đầu hàng – CSVN đầu hàng – Sự Thật

Chiến thắng rỗng tuếch của CSVN – Communism’s hollow victory in Vietnam

Hòa giải hòa hợp kiểu giả cầy

Vết thương 40 năm còn ra mủ – 40 years after Vietnam War, wounds still fester

=

Miệng lưỡi của cộng phỉ: tráo trở, lật lọng, bịp bợm

 

01: Hồ tặc xuống tầu làm bồi bếp cho Tây, cộng phỉ gọi  “tìm đường cứu nước”

02: Giật mìn, pháo kích, bắt cóc, khủng bố, cộng phỉ gọi  “hoạt động cách mạng”

03: Dùng  lực súng đạn giết dân, cộng phỉ gọi  “giải phóng nhân dân”

04: Cướp đất của các điền chủ, cộng phỉ gọi  “Cải cách ruộng đất”

05: Cướp đất toàn dân, cộng phỉ gọi  “Khu Quy Hoạch”

06: Đập phá nhà dân oan, cộng phỉ gọi  “giải phóng mặt bằng”

07: Cướp tài sản của các thương gia, cộng phỉ gọi  “Đánh  sản”

08: Cấm người dân buôn bán, cộng phỉ gọi  “Cải tạo thương nghiệp”

09: Bỏ  quân nhân, công chức của VNCH, cộng phỉ gọi  “Học tập Cải tạo”

10: Vượt biên bị bắt, cộng phỉ gọi  “Thằng phạm, Con phạm”

11: Vượt biên thành công, cộng phỉ bợ đở, âu yếm gọi họ  “Khúc ruột ngàn dặm”

12: Để sống sót cộng phỉ trở lại với nền kinh tế  bản, cộng phỉ gọi  “Đổi mới”

13: Độc tài, bóc lột, cộng phỉ gọi  “kinh tế thị trường theo định hướng XHCN”

14: Bỏ  người tranh đấu cho tự do, dân chủ, cộng phỉ gọi họ  “Phản động”

15: Sách báo về Dân chủ, Tự do, cộng phỉ gọi  “tài liệu phản động, công cụ khủng bố”.

16: Biểu tình đả đảo Chệt, cộng phỉ nói: “có sai phạm về  tưởng  nhận thức chính trị”

17: Biểu hiện lòng yêu nước, cộng phỉ nói: “kích động, gây hận thù các dân tộc anh em’’

18: Ra trát đòi một người nào đó để điều tra  giam cầm, cộng phỉ gọi  “Giấy mời”.

19: Quốc Hội cộng phỉ:   hèn hạ, chỉ biết gật gù, cúi đầu, dạdạ, vângvâng.

20: Công An cộng phỉ: trung thành như chó, được dùng để cướp bóc, đàn áp, khủng bố

21: Cộng phỉ gọi “quần chúng tự phát”  các hoạt động trong bóng tối như:

… Ném chất  vào nhà dân, khiêu khích để gây chuyện tại các nhà thờ, chùa chiền.

… Phương tiện thủ tiêu bằng tai nạn xe cộ, ngộ độc ăn uống, tiêm thuốc quá liều, tự sát.

22: Đánh nguời, khổ hình, cộng phỉ gọi  “điều tra”

23: Hối lộ, cộng phỉ gọi  “trao, nhận quà trên mức tình cảm”

24: Kinh tế thê thảm, cộng phỉ gọi  “quá độ lên XHCN”

25: Thời chiến, các  đần độn nuôi phiến loạn, cộng phỉ tâng bốc  mẹ chiến sĩ

… Bây giờ, cộng phỉ cướp ruộng của mẹ chiến sĩmẹ chiến sĩ sáng mắt chưa?

26: Thái Lan: CS móc túi – Singapore: CS móc túi – Malaysia: CS móc túi

27: Con cháu Hồ tặc móc túi – CS móc túi – Khi nào Cộng phỉ hết móc túi? – 2014

=

__._,_.___

Quốc Gia Tộc Kinh

 

Chào quí anh,

Tưởng cần nên làm sáng tỏ vấn đề : Nếu nhóm Tàu + vài người Việt mà tôi tình cờ quen biết xin đất ở BSG (35-85 hectares) để làm kinh doanh và lập đặc khu riêng cho họ thôi và cho thiểu số 22 000 tộc Kinh nam Quảng tây thì không thành chuyện.

Thế nhưng nhóm nầy (có thể có tình báo Hoa Nam sau lưng ?.) lại công khai tuyên báo cho TP BSG và Epamarne là họ dành một khoảng đất lớn trong đặc khu nầy để thừa “LỆNH ” nhận từ nước Mẹ Trung Hoa mà ?! “lâp quốc ” với chính phủ…cho Tộc Kinh mà theo họ bao trùm 3 triệu người Việt ở rải rác khắp nơi trên thế giới ? và nhóm Ôn văn Thanh -+ Nguyễn Thế Tâ + sư Thảo chân đệ tử cố HT Thích Tịnh hạnh, GHPG Linh sơn thế giới mà tôi quen thân từ lâu) có sứ mạng tập họp người Việt (họ lập luận trắng đen là thuộc Tộc Kinh ?) về Vương quốc Tộc Kinh tại BSG ! (rỏ rành rành theo Video cuộc họp của họ với TP BSG tháng năm 2018.

Dĩ nhiên là CĐ người Việt ở ngoài nước bị lợi dụng danh nghĩa ! vì vậy CĐ có quyền chính đáng và cần quan tâm phản hồi với các đương sự : TP BSG, Epamarne,nhóm người Tàu chủ trương và với công luận để làm sáng tỏ vụ việc.

Anh PNQ hoàn toàn có lý.

Riêng bản thân đã đóng góp tin tức cho CĐ Việt ở Pháp, Mỹ, Đức, Thuỵ sĩ…để mời họ phản hồi.Tôi cũng đã báo cho Hội Ái hữu VN tại BSG ( Thanh và nhóm bạn, liên quan trực tiếp, để có hành động tích cực ngay tại địa phương.

Đống bào đang phản ứng mãnh liệt và hôm thứ 3 tới 6.11.2018 sẽ đông đủ đến tham dự cuộc họp của HĐ TP BSG để phe đối lập và cư dân và đồng bào Việt nam chất vấn.

Kỳ vọng sự thật sẽ thắng !

Kính thư.

Le dim. 4 nov. 2018 à 07:33, Kinh VQ <kinhvuqg@gmail.com> a écrit :

Il y a 3 sujets séparés

* Quốc Gia Tộc Kinh

Si ce mouvement désigne la minorité des Kinh chinois (“opprimés” ), c’est le pb chinois. Les VK et les Vnms n’y sont pas concernés

* Le manque de civilité de certains franco-chinois en France, c’est aux autorités françaises de s’en occuper (+)

Les franco-vietnamiens peuvent en être contrariés, peuvent commenter et informer pour éviter la confusion.

Mais s’il y avait des abus et des excès, c’est encore aux autorités de régler les différends.

(+) La presse donne de temps à autres des irrégularités “asiatiques” dans Paris 13e (ou à Belleville) constatées par la police – et ensuite jugées par le tribunal.

* Les “dac khu” sont d’un autre sujet avec des pbs variés et spécifiques à chaque pays.

Subject: Re: Quốc Gia Tộc Kinh

Le danger vient du fait que dans cet article, les Vietnamiens vivant en France sont assimile a des Kinh, en quelque sorte un peuple venant de Chine. Les VK ( Vietnamiens vivant en France) sont bien assimiles au peuple Francais, et ont une bonne reputation. Ils sont bien acceptes partout. Les medicins, les ingenieurs, les cadres d origine Vietnamienne sont legion en France.Au contraire, les Chinois vivant en France ont une mauvaise reputation . Ils s assemblent dans des quartiers comme Belle Ville, Avenue de Choisie..etc La plupart du temps, ils ouvrent les restaurants, les super marches etc..Ils vivent a plusieurs ( 10) dans un petit appartement, font de la cuisine qui puent les couloirs…Passent la journee a monter et descendre les escalier ( les charges des habitants de ces immeubles montent en fleche du a la reparation de ces ascenseurs etc..).Il transforment parfois les immeubles en bordel ( ex Tour Tokyo }. Les immeubles ou il y a des chinois ne valent plus rien et les habitants les fuient Ces immeubles deviennent immeubles Chinois, car il y a que les chinois qui y habitent. Les putes chinois innondent l avenue de Choisy ,pres de l entre du super marche Geant…

Les Chinois vont faire un quartier special ( Dac Khu) en France, pour les “Kinh”. en quelque sorte, les Vietnamiens vivant en France. Grace a la bonne reputation des VK et non des Chinois vivant en France, ce projet sera facilement accepte. Avec un DAC KHU accepte par les VK, les Dac Khu aux VN paraissent normaux et accepte plus facilement par les autorite Vietnamiennes alors que c est la menace de l invasion Chinoise au VN se precise.

Le VN est un pays independant et souverain. Que les Chinois nous laissent tranquille. Que pensent les Francais si on leur dit que Rome il y a des siecles, ont conquis la Gaule, que le latin est encore present dans la literature Francaise etc Donc, la France appartint a L Italie…. On vous prendrait pour un fou…. QUE LES CHINOIS NOUS LAISSE TRANQUILLE NOUS NE SOMMES PAS CHINOIS. ON NE LES LAISSERONS PAS UTILISER NOS NOMS ET NOS REPUTATIONS POUR LEUR SERVICE . POURQUOI N UTILISENT ILS PAS LEUR NOM CHINOIS, ONT ILS HONTES D ETRE CHINOIS?

Amicalement

Quy PHAM NGOC

 

Người Việt, ai cũng phải khai là dân tộc Kinh một cách vô lý. “Kinh” nghĩa…

http://www.chungta.com/nd/tu-lieu-tra-cuu/khong-co-dan-toc-kinh.html

Tham khảo:

Wikipedia mục “Người Việt“/ “Người Kinh tại Việt Nam”:

    Người Việt hay người Kinh là một dân tộc hình thành tại khu vực địa lý mà ngày nay là miền Bắc Việt Nam và miền nam Trung Quốc.

Đây là dân tộc chính, chiếm khoảng 86,2% dân số Việt Nam và được gọi chính thức là dân tộc Kinh để phân biệt với những dân tộc thiểu số tại Việt Nam. Ngôn ngữ chính sử dụng là tiếng Việt theo nhóm Việt-Mường.

Người Kinh sinh sống trên khắp toàn thể nước Việt Nam và một số nước khác nhưng đông nhất vẫn là các vùng đồng bằng và thành thị trong nước. Còn nếu tính cả người Việt hải ngoại thì họ định cư ở Hoa Kỳ là đông nhất.

 

Wikipedia mục “Người Kinh (Trung Quốc)”:

Người Kinh, hay dân tộc Kinh (chữ Hán: 京族bính âm: jīngzú, Hán-Việt: Kinh tộc) là một trong số 56 dân tộc được công nhận tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

Vào khoảng thế kỷ 16, có một số người Việt di cư lên phía bắc lập nghiệp ở vùng Trường Bình – Bạch Long. Vùng đất đó bấy giờ thuộc Đại Việt nhưng theo Công ước Pháp-Thanh ký năm 1887 giữa Pháp và nhà Thanh thì Trường Bình bị sáp nhập vào nước Trung Hoa[1][2].

Thời gian trôi qua, nhóm người Việt này đã bị ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa. Tuy vậy họ vẫn nói tiếng Việt và được công nhận là một dân tộc thiểu số tại Trung Quốc. Họ tạo thành một trong số 56 dân tộcđược chính thức công nhận tại Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Họ sinh sống chủ yếu trên 3 đảo (Vạn Vĩ, Sơn Tâm và Vu Đầu), nay gọi chung là Kinh Đảo hay Kinh tộc Tam Đảo, thuộc thị xã Đông Hưng, khu tự trị người ChoangQuảng Tây, nhưng tiếng Việt của họ đã pha trộn nhiều với tiếng Hoa kèm với nhiều từ cổ của tiếng Việt. Về chữ viết, ngày nay họ sử dụng chữ Hán. Năm 2000 ước tính có khoảng 22.000 người Kinh tại Trung Quốc.

 

———————

 

Nguồn:Người Đô Thị

Sau khi lên ngôi, Gia Long đã cho tuyển chọn và bổ nhiệm người thân thích, họ hàng tỏa đi khắp nới nắm giữ các chức vụ từ làng xã cho đến huyện, phủ… Hết bà con thì lấy người đồng hương Phú Xuân, kinh đô nhà Nguyễn, đất tổ của Nguyễn Hoàng, Nguyễn Kim.

Người Kinh có nghĩa là người Kinh đô. Dần dà, khái niệm “người Kinh” được mở rộng thành người miền xuôi, bao gồm cả người Hoa, người Chăm…

Ngược lại là “người Thượng” nghĩa là người miền núi, người vùng cao.

Nếu mình khai là dân tộc Kinh, chẳng lẽ các dân tộc thiểu số vùng cao sẽ khai chung là dân tộc “Thượng”? Khi đó người Việt chỉ có 2 dân tộc là “Kinh” và “Thượng”, chứ không phải 54 dân tộc như hiện nay.

Người Việt phải khai là “Dân tộc Việt” trong cộng đồng “Người Việt Nam” gồm 54 dân tộc anh em mà dân tộc Việt là đông nhất.

 

————————————

 

thành lập Quốc Gia Tộc Kinh ở một quận của Pháp.

Tôn-thất Sơn

__________________________

From: Bác sĩ Nguyễn Quyền Tài
Date: ons. 31. okt. 2018 kl. 04:01
Subject: [LIÊN MẠNG] Fwd: Có Anh Đức Tùng (Vọng) đứng ra tổ chức
To: DIỄN ĐÀN LM <lienmang-nguoiviettudo-toancau@googlegroups.com>

 

Thưa Chị Hoàng Thị Mỹ Lâm và quí Anh/Chị/Em trong LM,

 

Tôi xin gởi chuyển tiếp thư của Cậu Phạm Dương Đức Tùng (Vọng Trấn Quốc) về kế hoạch phản đối vụ Bussy St Georges ở Pháp.

 

Nguyễn Quyền Tài

 

 

Le 30/10/2018 à 17:19, Vọng Trấn Quốc a écrit :

Kính thưa quý cô bác và các anh chị,

Trước hết thay mặt BTC, chúng tôi xin cảm ơn tất cả đã bỏ cả buổi chiều chủ nhật để đến tham dự buổi chiếu vidéo “Tộc Kinh” ngày 28/10 tại Paris vừa qua, để đóng góp ý kiến và bày tỏ sự quan tâm trước vụ việc.

Cũng xin thưa là cuối buổi họp đã có một số cô bác và anh chị đã ngồi lại để cùng nhau lên kế hoạch hành động cụ thể hầu chặn đứng dự án “Kinh” này của Trung cộng. Nhóm mang tên “Collectif Transparence” đã được thành hình cấp tốc.

Với những công việc cụ thể sau đây :

– Phổ biến rộng rãi video bằng tiếng Pháp https://www.youtube.com/watch?v=Gm7JnvTo4Yo

và video có phụ đề Việt ngữ https://www.youtube.com/watch?v=UM-kYrXOotQ

– Soạn thảo những lá thư hay bài viết bằng tiếng Pháp để phân tích sự việc và bày tỏ quan điểm phản đối dự án quái thai này. Mục đích là tập trung tất cả các tiếng nói phản kháng này để giải thích sự việc cho người Pháp biết và để lôi chính giới và báo chí Pháp vào cuộc.

Con cảm ơn chú Nguyễn Cao Đường đã nhanh chóng viết bài đầu tiên và rất mong nhận được những bài viết khác sắp tới từ quý vị.

– Phe đối lập của Conseil Municipal (hội đồng thành phố Bussy) vừa cho hay sẽ lên tiếng chất vấn ông Thị trưởng về vấn đề này vào buổi họp Conseil Municipal ngày thứ Ba 6/11/2018 vào lúc 19h30. Rất cần sự hiện diện đông đảo của người Việt mình trong buổi họp này. Không bắt buộc phải là cư dân Bussy, tất cả chúng ta có thể huy động bạn bè và người thân đến tham dự thật đông, để bày tỏ sự quan tâm của mình về vụ việc và dẫu rằng chúng ta không có quyền lên tiếng la ó, biểu tình, nhưng chỉ với sự có mặt thật đông chúng ta có thể lấn áp tinh thần ông thị trưởng và bè nhóm, song song với việc hỗ trợ nhóm đối lập. Và quan trọng nhất là chúng ta có quyền quay phim khi bà Chantal Brunel – cựu thị trưởng Bussy – đặt câu hỏi và khi ông Yann Dubosc – đương kim thị trưởng – trả lời.

– Sau buổi họp 6/11, chúng ta có thể làm một pétition trên change.org để yêu cầu hủy bỏ dự án “Kinh” và nếu cần thiết yêu cầu ông thị trưởng từ chức

Để tiện việc tổ chức, xin cô bác và các anh chị cho chúng tôi biết trong thời gian sớm nhất có thể ai có thể đến tham dự ngày 6/11 và bao nhiêu người, đến bằng xe riêng hay phương tiện công cộng để sắp xếp việc đưa đón.

Mairie de http://www.bussysaintgeorges.fr/

Place de la Mairie

(cách RER A Bussy Saint Georges 1,5 km)

Trân trọng

Đức Tùng

Mail : vongtranquoc@gmail.com

Tél : 0695961218


Bạn nhận được thư này vì bạn đã đăng ký vào nhóm Google Groups “DIỄN ĐÀN LIÊN MẠNG NGƯỜI VIỆT TỰ DO TOÀN CẦU”.
Để hủy đăng ký khỏi nhóm này và ngừng nhận email từ nhóm, hãy gửi email đến lienmang-nguoiviettudo-toancau+unsubscribe@googlegroups.com.
Để có thêm tùy chọn, hãy truy cập https://groups.google.com/d/optout.

To unsubscribe from this group and stop receiving emails from it, send an email to noiketbanhuu+unsubscribe@googlegroups.com.
To post to this group, send email to noiketbanhuu@googlegroups.com.
To view this discussion on the web, visit https://groups.google.com/d/msgid/noiketbanhuu/CAFDCoMHtPQTgAftCWghYGh30oKJHg6afse%3DUnFq75gjFHBfRMw%40mail.gmail.com.
For more options, visit https://groups.google.com/d/optout.

From: Thaison Nguyen <jthaison.nguyen@gmail.com>
Sent: Sunday, November 4, 2018 7:05 AM
To: kinhvuqg@gmail.com
Cc: phamngocguy@aol.com; quynhvungoc24@gmail.com
Subject: Re: 3 sujets

Chào quí anh,

Tưởng cần nên làm sáng tỏ vấn đề : Nếu nhóm Tàu + vài người Việt mà tôi tình cờ quen biết xin đất ở BSG (35-85 hectares)để làm kinh doanh và lập đặc khu riêng cho họ thôi và cho thiểu số 22 000 tộc Kinh nam Quảng tây thì không thành chuyện.

Thế nhưng nhóm nầy (có thể có tình báo Hoa Nam sau lưng ?.) lại công khai tuyên báo cho TP BSG và Epamarne là họ dành một khoảng đất lớn trong đặc khu nầy để thừa “LỆNH ” nhận từ nước Mẹ Trung Hoa mà ?!  “lâp quốc ” với chính phủ…cho Tộc Kinh mà theo họ bao trùm 3 triệu người Việt ở rải rác khắp nơi trên thế giới ? và nhóm Ôn văn Thanh -+ Nguyễn Thế Tâ + sư Thảo chân đệ tử cố HT Thích Tịnh hạnh, GHPG Linh sơn thế giới mà tôi quen thân từ lâu) có sứ mạng tập họp người Việt (họ lập luận trắng đen là thuộc Tộc Kinh ?) về Vương quốc Tộc Kinh tại BSG ! (rỏ rành rành theo Video cuộc họp của họ với TP BSG tháng năm 2018.

Dĩ nhiên là CĐ người Việt ở ngoài nước bị lợi dụng danh nghĩa ! vì vậy CĐ  có quyền chính đáng và cần quan tâm phản hồi với các đương sự : TP BSG, Epamarne,nhóm người Tàu chủ trương và với công luận để làm sáng tỏ vụ việc.

Anh PNQ hoàn toàn có lý.

Riêng bản thân đã đóng góp tin tức cho CĐ Việt ở Pháp, Mỹ, Đức, Thuỵ sĩ…để mời họ phản hồi.Tôi cũng đã báo cho Hội Ái hữu VN tại BSG ( Thanh và nhóm bạn, liên quan trực tiếp, để có hành động tích cực ngay tại địa phương.

Đống bào đang phản ứng mãnh liệt và hôm thứ 3 tới 6.11.2018 sẽ đông đủ đến tham dự cuộc họp của HĐ TP BSG để phe đối lập và cư dân và đồng bào Việt nam chất vấn.

Kỳ vọng sự thật sẽ thắng !

Kính thư.    

 

Le dim. 4 nov. 2018 à 07:33, Kinh VQ <kinhvuqg@gmail.com> a écrit :

Il y a 3 sujets séparés

*  Quốc Gia Tộc Kinh

Si ce mouvement désigne la minorité des Kinh chinois (“opprimés” ), c’est le pb chinois.  Les VK et les Vnms n’y sont pas concernés

* Le manque de civilité de certains franco-chinois en France, c’est aux autorités françaises de s’en occuper (+)

Les franco-vietnamiens peuvent en être contrariés, peuvent commenter et informer pour éviter la confusion.

Mais s’il y avait des abus et des excès, c’est encore aux autorités de régler les différends.

(+) La presse donne de temps à autres des irrégularités “asiatiques” dans Paris 13e (ou à Belleville) constatées par la police – et ensuite jugées par le tribunal.

*  Les “dac khu” sont d’un autre sujet avec des pbs variés et spécifiques à chaque pays.

 

From: phamngocguy@aol.com

Sent: Sunday, November 04, 2018 2:55 AM

To: kinhvuqg@gmail.com ; quynhvungoc24@gmail.com ; Jthaison.nguyen@gmail.com

Subject: Re: Quốc Gia Tộc Kinh

Le danger vient du fait que dans cet article, les Vietnamiens vivant en France sont assimile a des Kinh, en quelque sorte un peuple venant de Chine. Les VK ( Vietnamiens vivant en France) sont bien assimiles au peuple Francais, et ont une bonne reputation. Ils sont bien acceptes partout. Les medicins, les ingenieurs, les cadres d origine Vietnamienne sont legion en France.Au contraire, les Chinois vivant en France ont une mauvaise reputation . Ils s assemblent dans des quartiers  comme Belle Ville, Avenue de Choisie..etc La plupart du temps, ils ouvrent les restaurants, les super marches etc..Ils vivent a plusieurs  ( 10) dans un petit appartement, font de la cuisine qui puent les couloirs…Passent la journee a monter et descendre les escalier ( les charges des habitants de ces immeubles montent en fleche du a la reparation de ces ascenseurs etc..).Il transforment parfois les immeubles en bordel ( ex Tour Tokyo }. Les immeubles ou il y a des chinois ne valent plus rien et les habitants les fuient  Ces immeubles deviennent immeubles Chinois, car il y a que les chinois qui y habitent. Les putes chinois innondent  l avenue de Choisy ,pres de l entre du super marche Geant…

Les Chinois vont faire un quartier special ( Dac Khu) en France, pour les “Kimh”. en quelque sorte, les Vietnamiens vivant en France. Grace a la bonne reputation des VK et non des Chinois vivant en France, ce projet sera facilement accepte. Avec un DAC KHU accepte par les VK, les Dac Khu aux VN paraissent normaux et accepte plus facilement par les autorite Vietnamiennes  alors que c est la menace de l invasion Chinoise au VN se precise.

Le VN est un pays independant et souverain. Que les Chinois nous laissent tranquille. Que pensent les Francais si on leur dit que Rome il y a des siecles, ont conquis la Gaule, que le latin est encore present dans la literature Francaise etc Donc, la France appartint a L Italie…. On vous prendrait pour un fou….   QUE LES CHINOIS NOUS LAISSE TRANQUILLE NOUS NE SOMMES PAS CHINOIS. ON NE LES LAISSERONS PAS UTILISER NOS NOMS ET NOS REPUTATIONS POUR LEUR SERVICE . POURQUOI N UTILISENT ILS PAS LEUR NOM CHINOIS, ONT ILS HONTES D ETRE CHINOIS?

Amicalement

Quy PHAM NGOC

—–Original Message—–
From: Kinh VQ <kinhvuqg@gmail.com>
To: 1 Quynh 24 <quynhvungoc24@gmail.com>
Sent: Sat, Nov 3, 2018 10:28 pm
Subject: Quốc Gia Tộc Kinh

Selon l’article ci-dessous, je ne vois pas bien l’intérêt socio politique de la création d’une “Nation des Kinh” en France

        Si je comprends bien, les Kinh au Vietnam vivaient sans problème avec les autres peuples “thiểu số”

En Chine, les Kinh sont une petite minorité. Auraient-ils eu quelques problèmes ?

Mais alors, ils ne concernent pas les Vietnamiens
================
Người Việt và người Kinh là một dân tộc hình thành tại khu vực địa lý mà ngày nay là miền Bắc Việt Nam và miền nam Trung Quốc. Đây là dân tộc chính, chiếm khoảng 86,2% dân số Việt Nam và được gọi chính thức là dân tộc Kinh để phân biệt với những dân tộc thiểu số tại Việt Nam. Ngôn ngữ chính sử dụng là tiếng Việt theo nhóm Việt-Mường. Người Kinh sinh sống trên khắp toàn thể nước Việt Nam và một số nước khác nhưng đông nhất vẫn là các vùng đồng bằng và thành thị trong nước. Còn nếu tính cả người Việt hải ngoại thì họ định cư ở Hoa Kỳ là đông nhất.

Lieu Quach
Nhìn chung “người Việt “hay “người Việt nam” để chỉ con dân nước Việt (trong đó có người Kinh và 53 dân tộc khác). Từ xa xưa (khoảng thế kỷ 15), người Việt sang cư trú tại Trung Quốc, nói tiếng Việt cũng được quốc gia này gọi là dân tộc Kinh, được công nhận là một trong 56 dân tộc của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Không phải thời Nguyễn dân tộc Kinh mới xuất hiện. Nếu tác giả sang điều tra ở Khu tự trị dân tộc Choang tỉnh Quảng Tây (TQ), nơi có nhiều người Kinh sinh sống, sẽ thấy rõ điều này.

Web Results
  1. https://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BA%A3ng_T%C3%A2yBài viết này cần thêm chú thích nguồn gốc để kiểm chứng thông tin. … bính âm: Guǎngxī), tên đầy đủ Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây (Tiếng Tráng: … Trong sáu thế kỷ tiếp theo, Quảng Tây vẫn là một tỉnh của Trung Quốc cho đến khi … Vào năm 1958, Quảng Tây được chuyển đổi thành Khu tự trị dân tộc Tráng theo đề …

  2. https://vi.wikipedia.org/wiki/Danh_s%C3%A1ch_%C4%91%C6%A1n_v%E1%BB%8B_h%C3%A0nh_ch%C3%ADnh_Qu%E1%BA%A3ng_T%C3%A2yKhu tự trị dân tộc ChoangQuảng TâyTrung Quốc được chia ra: 14 thành phố thuộc tỉnh (địa cấp thị); 56 huyện; 34 khu (quận); 12 huyện tự trị; 7 thị xã (huyện …

  3. https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%A1c_khu_v%E1%BB%B1c_t%E1%BB%B1_tr%E1%BB%8B_t%E1%BA%A1i_Trung_Qu%E1%BB%91cTrong hệ thống Phân cấp hành chính Trung Quốc, có 3 cấp hành chính tự trị: … Trong số năm khu tự trị, chỉ có Khu tự trị Tây Tạng là có một dân tộc chiếm đa số … Tân Cương được chuyển đổi từ một tỉnh thành một khu tự trị vào năm 1955. Quảng Tây và Ninh Hạ vào năm 1957, và Khu tự trị Tây Tạng chính thức thành lập …

  4. https://www.youtube.com/watch?v=ipUB9waVwag23 Tháng Mười Một 2012  Người Kinh (Việt), hay dân tộc Kinh (chữ Hán: 京族, bính âm: jīngzú, Hán-Việt: Kinh tộc) là một trong số 56 dân tộc được công nhận tại Cộng …

  5. http://www.mofahcm.gov.vn/vi/tintuc_sk/tulieu/nr051205111332/nr051206152531/ns06041913573019 Tháng 4 2006  Quảng Tây là một trong năm khu tự trị dân tộc của Trung Quốc, bao gồm …. Thủ phủ tỉnh trong phần lớn thời gian được đặt tại Quế Lâm, chỉ …

  6. https://bnews.vn/hop-tac-4-tinh-bien-gioi-viet-nam-voi-tinh-quang-tay-trung-quoc-ngay-cang-hieu-qua/77216.html26 Tháng 2 2018  Từ 23 -24/2, tại Quảng TâyTrung Quốc đã diễn ra cuộc gặp gỡ đầu xuân lần … biên giới của Việt Nam với Bí thư Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây. … thúc đẩy khu vực biên giới phát triển ổn định, làm phong phú thêm nội …

  7. https://www.facebook.com/notes/nh%C3%A2n-tu%E1%BA%A5n-tr%C6%B0%C6%A1ng/v%E1%BB%81-t%C3%A0i-li%E1%BB%87u-d%C3%A2n-t%E1%BB%99c-kinh-%E1%BB%9F-qu%E1%BA%A3ng-t%C3%A2y-/902963586410651/Người Kinh từ Đồ Sơn, Việt Nam sang Trung Quốc vào khoảng đời Minh. … tự trị dân tộc Choang [36] Quảng Tây, thấy làng xóm vắng vẻ không người ở, … Bản đồ này ghi chú bằng tiếng Pháp và tiếng Hán, là bản đồ gốc được hai … Thôn thuộc huyện Giang Bình, thành phố Đông Hưng, khu tự trị Choang tỉnh Quảng Tây.

  8. http://baochinhphu.vn/Doi-ngoai/Thu-tuong-tiep-Chu-tich-Khu-tu-tri-dan-toc-Choang-Quang-Tay/334665.vgp20 Tháng 4 2018  Thủ tướng tiếp Chủ tịch Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây … Thay mặt Đảng bộ, chính quyền và 56 triệu nhân dân các dân tộc tỉnh Quảng Tây, ông … thăm chính thức Trung Quốc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và …

  9. https://vnconsulate-shanghai.mofa.gov.vn/vi-vn/News/EmbassyNews/Trang/T%E1%BB%95ng-B%C3%AD-th%C6%B0-ti%E1%BA%BFp-B%C3%AD-th%C6%B0-%C4%90%E1%BA%A3ng-%E1%BB%A7y-Khu-t%E1%BB%B1-tr%E1%BB%8B-d%C3%A2n-t%E1%BB%99c-Choang-Qu%E1%BA%A3ng-T%C3%A2y.aspxTổng Bí thư tiếp Bí thư Đảng ủy Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây. Chiều 27/ 4, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã tiếp ông … nhân dân Trung Quốc; nhấn mạnh vị trí hết sức quan trọng của Quảng Tây trong … hữu nghị truyền thống với Việt Nam, mong muốn cùng với các tỉnh biên giới của …

  10. https://vov.vn/chinh-tri/thu-tuong-tiep-chu-tich-khu-tu-tri-dan-toc-choang-trung-quoc-753711.vov20 Tháng 4 2018  Chủ tịch Khu tự trị dân tộc Choangtỉnh Quảng Tây Trần Vũ trân trọng … VN – Chuyến thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là …

 

Về tài liệu « Dân tộc Kinh ở Quảng Tây ».

Một đoạn trong bài dịch có tựa đề « Dân tộc Kinh ở Quảng Tây » của ông Phạm Hoàng Quân, dẫn lại nguyên văn :

 

« Người Kinh từ Đồ Sơn, Việt Nam sang Trung Quốc vào khoảng đời Minh. Khoảng những năm triều Thanh, người Kinh ở thôn Hà Vĩ [34] có lập hương ước để làm phép tắc cho dân trong thôn, trong hương ước từng minh xác rằng họ đến đây từ thời Hậu Lê (Đại Việt) niên hiệu Hồng Thuận năm thứ 3 tức triều Minh đời vua Võ Tông niên hiệu Chính Đức năm thứ 6 (1511), tức cách nay hơn 400 năm [35] . Người Kinh ở đây đa số mang họ Lưu, họ Nguyễn, tổ tiên họ nguyên cư trú vùng Cát Bà, sau dời đến dùng duyên hải Đồ Sơn, sống bằng nghề đánh cá. Có một dịp, họ đuổi theo đàn cá ở vùng vịnh Bắc Bộ mà lạc đến đảo Vu Đầu, nay thuộc thành phố Phòng Thành, khu tự trị dân tộc Choang [36] Quảng Tây, thấy làng xóm vắng vẻ không người ở, lại thấy nơi này thuận tiện trong việc đánh bắt cá, họ bèn định cư hẳn mà không về nữa, đến nay đã qua 16, 17 đời, nếu tính mỗi đời là 25 năm thì đến nay đã hơn 400 năm, đối chiếu với bản hương ước nói trên thì thấy rất hợp lý.

Người Kinh hiện phân bố chủ yếu ở 3 khu: Sơn Tâm, Hà Vĩ, Vu Đầu và một số nơi khác như Hoàn Vọng, Đàm Cát, Hồng Khảm, Trúc Sơn… thuộc Phòng Thành, Quảng Tây. »

 

http://nghiencuulichsu.com/2013/05/30/dan-toc-kinh-o-quang-tay/

 

Bản dịch của ông Phạm Hoàng Quân là một phần (nói về Dân Tộc Kinh) trong « công trình nghiên cứu » mang tên « Trung Quốc Nam phương dân tộc sử » của Tiến sĩ Sử học Vương Văn Quang, Giáo sư chuyên ngành Lịch sử dân tộc Đại học Vân Nam, Trung Quốc[1].

 

Đoạn trích dẫn trên có một số dữ kiện lịch sử cần phải kiểm chứng lại, (hay ít ra chúng cần được nhìn lại, so sánh, đối chiếu lại từ nhiều nguồn sử liệu khác nhau).

 

Đó là :

 

Có đúng là người Việt ở vùng ba đảo (Sơn Tâm, Hà Vĩ, Vu Đầu) có nguồn gốc ở Đồ Sơn ?

 

Có đúng là họ sang đó vào thời Minh ?

 

Quan trọng hơn hết là « người Kinh từ Đồ Sơn, Việt Nam sang Trung Quốc… ». Dựa vào đâu tác giả nói rằng đất đó (trước khi ngươi Kinh di cư sang) là của Trung Quốc ?

 

Bài viết này, với những dữ kiện lịch sử[2] lấy từ Trung Tâm Văn Khố Hải Ngoại của Pháp, (Centre des Archives d’Outre-Mer), tại tỉnh Aix-En-Provence, sẽ bàn lại về lịch sử chủ quyền ở các vùng đất (hiện nay thuộc lãnh thổ TQ) có người Việt sinh sống từ lâu đời, điển hình là khu vực ba đảo Sơn Tâm, Hà Vĩ và Vu Đầu.

 

1.  Mũi đất Bạch Long Vĩ (cap Paklung).

 

Như mọi người đều biết, đường biên giới hiện nay giữa tỉnh Quảng Ninh của Việt Nam với tỉnh Quảng Tây thuộc Trung Quốc là sông Bắc Luân (còn gọi là sông Ka Long hay Gia Long). Đó là kết quả của việc phân định biên giới giữa Pháp và nhà Thanh trong thời kỳ 1885-1897, được hai bên VN và TQ khẳng định lại qua Hiệp ước phân định Biên giới trên đất liền ký vào tháng 12 năm 1999.

 

Bên bờ hữu ngạn sông Ka Long là thị xã Móng Cái (thuộc tỉnh Quảng Ninh), bờ tả ngạn là thành phố Đông Hưng của Trung Quốc. Ngày xưa, người Hoa gọi Đông Hưng là Đông Hưng Nhai và Móng Cái là Mang Nhai. Nhai có nghĩa là « bờ sông ». Móng Cái, nguyên thủy tên do người Pháp đặt (gọi trại đi từ Mang Nhai), thực ra có tên Việt là Hòa Lạc[3].

 

Xét bản đồ phân định biên giới Pháp-Thanh 1887, từ nay gọi là bản đồ 1. Bản đồ này ghi chú bằng tiếng Pháp và tiếng Hán, là bản đồ gốc được hai bên Pháp-Thanh sử dụng để phân định biên giới.

 

 

Bản đồ 1

 

Trên bản đồ 1 có một mũi đất mang tên (bằng chữ Hán) Bạch Long Vĩ. Người Pháp thời đó gọi là « Cap Paklung ». Đây là một doi đất ở về phía bắc Móng Cái, nhô ra biển theo hướng nam, sau đó cong lại về phía tây nam, tương tự mũi két. Theo các nhà địa lý thì đây là phần chót của rặng núi Thập Vạn Đại Sơn. Doi đất bao quanh lấy biển, tạo thành vịnh, tên Vạn Xuân. Trên doi đất này có một số làng mạc trước kia chỉ toàn người VN sinh sống.

 

 

Bản đồ 2

 

Trong vịnh Vạn Xuân, (bản đồ 1), hay các bản đồ do Sở Địa Dư Đông dương (SGI) ấn hành trước năm 1948 (bản đồ 2), từ bờ ra đến giữa vịnh có bốn đảo, kế cận nhau, có ghi các tên (chữ Hán): Tham Cát Thôn, Sơn Tâm, Mao Sơn và Vạn Vĩ. Đó là các đảo mà trong tài liệu (của Vương Văn Quang) ghi qua các tên (khác) là Sơn Tâm, Hà Vĩ và Vu Đầu. Theo các tài liệu đã dẫn (ghi chú 2), vịnh Vạn Xuân là một vịnh cạn, có nhiều bãi cát, có cây tràm, đước mọc.

 

 

Bản đồ Google

 

Xét bản đồ Google, trong khung màu đỏ, bốn đảo này hiện nay hầu như đã dính liền lại với nhau. Phù sa, cát bồi đắp nên các đảo nối với đất liền trở thành bán đảo. Bán đảo này TQ đặt tên là An Nam Thôn, còn gọi là Kinh Đảo, ở tọa độ (kinh độ 108°08’ Đông, vĩ độ 21°32’5 Bắc). Thôn thuộc huyện Giang Bình, thành phố Đông Hưng, khu tự trị Choang tỉnh Quảng Tây. Dân số ở đây đều có gốc Việt khoảng trên 20.000 người, được Trung Quốc gọi là tộc Kinh (vì thế gọi nơi này là Kinh Đảo), một trong số 55 chủng tộc của Trung Quốc.

 

Toàn khu vực, xưa cũng như hiện nay, thuộc huyện mang tên Giang Bình, ngày trước trực thuộc tỉnh Quảng Đông chứ không phải tỉnh Quảng Tây. Tỉnh Quảng Tây ngày trước không giáp biển.

 

2.  Biên giới khu vực Móng Cái theo công ước Pháp-Thanh 1887.

 

Theo tài liệu của đô đốc Rieunier, chỉ huy hải quân Pháp gởi Toàn quyền Pháp năm 1886 (hồ sơ đính kèm bản đồ 3) về tình hình quân Trung hoa chiếm đóng các địa điểm trong khu vực huyện Giang Bình. Sau khi chiếm đóng các địa điểm thuộc khu vực này (các ô vuông màu đỏ trên bản đồ 3) tháng 7 năm 1886, quân Trung Hoa khủng bố dân VN sinh sống tại đây và đuổi những người dân này đi nơi khác.

 

 

Bản đồ 3

 

Hồ sơ cũng ghi chú ý kiến của linh mục Grand Pièrre, nhà truyền giáo ở Trúc Sơn. (Trúc Sơn ở phía bắc Móng Cái, bên kia sông Bắc Luân, nay thuộc TQ). Ông này kể rằng những người dân Việt này do bị quân Hoa truy bức nên phải trốn ra sống ở các đảo trong vịnh.

 

Cũng theo ý kiến của nhà truyền giáo Grand Pièrre, năm 1885, khu vực huyện Giang Bình gồm có nhiều xã toàn người Việt, không có một người Hoa nào sinh sống. Khu vực ở phía ngoài huyện giang Bình, dân Nùng (tức Choang) sống đa số. Khi quân Hoa đến đây chiếm đóng họ đuổi những người dân Choang này đi (lên núi), lấy đất cho người Hoa đến ở, tương tự như số phận người Việt. Thành phố Đông Hưng trước 1885 chưa hiện hữu. Chỉ sau chiến tranh với Pháp 1885, người Hoa dựng ở địa điểm Đông Hưng (hiện nay) một đồn lính. Dầu vậy, tại Móng Cái (Mang Nhai), chợ búa ở đây đông đảo các đảng cướp biển người Hoa.

 

Tài liệu khác trong hồ sơ phân định biên giới cho biết, trong thời kỳ 1886-1887, những người dân VN nào ra làm chứng, trả lời các cuộc điều tra của các ủy viên Pháp phụ trách phân định biên giới, đều bị quân Trung Hoa trừng phạt nặng nề, hoặc chém đầu. Các câu hỏi của các ủy viên phân định biên giới Pháp tựu trung ở việc : những người sống trên đất này đóng thuế cho ai ?

 

Theo quan điểm quốc tế công pháp thời đó (và bây giờ cũng vậy), để chứng minh một vùng đất thuộc quốc gia nào thì vấn đề đóng thuế của người dân là yếu tố quyết định. Dân đóng thuế cho bên nào thì đất đó thuộc (chủ quyền) bên đó.

 

Tài liệu sau đây của ông Dillon, chủ tịch Ủy Ban Phân Ðịnh Biên Giới, trình bày trong hồ sơ gởi ông Constans, Ðặc Sứ Toàn Quyền Pháp tại Bắc Kinh ngày 23 Mars 1887, (Constans là người phụ trách thuơng lượng với Trung Hoa về Công ước phân định biên giới 1887).

 

Tài liệu có các điểm quan trọng sau đây :

 

a)    Theo kết quả nghiên cứu địa chí của Trung Hoa, lãnh thổ An Nam mở rộng đến Long Môn.

 

Ta thấy ngay trên bản đồ Google rằng Long Môn ở phía bắc Phòng Thành. Vấn đề này sẽ đề cập ở phần dưới : biên giới VN-TQ theo sử liệu của TQ. Điều này chứng minh huyện Giang Bình, doi đất Bạch Long Vĩ, các đảo Tham Cát Thôn, Sơn Tâm, Mao Sơn và Vạn Vĩ trong vịnh Vạn Xuân đều thuộc An Nam.

 

Tài liệu của ông Dillon viết rằng khoảng từ 20 năm nay, bọn cướp biển người Tàu đã chiếm mũi Bạch Long cũng như Long Môn để làm sào huyệt. Theo ông, đó là lý do duy nhất mà vùng đất này đã ra ngoài tầm kiểm soát của triều đình An Nam. Tài liệu cũng cho biết, trên thực địa, đường biên giới thực sự được cụ thể hoá qua những đồn canh (cửa ải) của Trung Hoa. Ðường nối các công sự, cửa ải đã chừa ra vùng Giang Bình (bao gồm Packlung – Bạch Long).

 

Bằng chứng khác cũng rất quan trọng : huyện Giang Bình đã được triều đình Huế bổ một vị quan cùng gia đình về quản trị, thâu thuế dân chúng từ mấy chục năm trước.

 

Tức là, trên quan điểm luật quốc tế, vùng lãnh thổ này thuộc về VN.

 

Tài liệu viết, người hậu duệ cuối cùng của viên quan VN đã bị quân cướp Tàu giết, thân xác bị chặt làm nhiều khúc qua biến cố tháng 11 năm 1886. Biến cố nầy làm thiệt mạng một số quân đội Pháp và ông Haitce, nhân viên của Ủy Ban Phân Ðịnh Biên Giới. Lý do bị giết vì ông đã « thực thà » khai với các ủy viên Pháp rằng đất đó (Giang Bình) là của VN.

 

b)   Là những nhân chứng sống, những người dân địa phương, người Hoa cũng như người Việt.

 

Những người dân này đã hướng dẫn ông Bohin, vào tháng 11 năm 1886, và đội quân của Ông Dugenne vào tháng 1 năm 1887, giúp các ông này làm công tác trắc địa, phân định biên giới. Kết quả đo đạc phù hợp với những các cuộc điều tra trong dân chúng thuộc vùng Móng Cái. Vì cuộc điều tra này, như tài liệu của các nhà truyền giáo  đã viết trên, nhiều người dân VN bị quân Hoa chém đầu.

 

c)    Những chi tiết từ sổ bạ điền địa từ các huyện, phủ trong vùng.

 

d)   Bản đồ chính thức của An Nam.

 

e)    Giấy chứng nhận của nha Kinh Lược từ triều đình Huế[4].

 

Tức là, theo các tài liệu đã dẫn, khu vực huyện Giang Bình, bao gồm mũi đất mang tên Bạch Long Vĩ, các đảo trong vịnh Vạn Xuân… thuộc chủ quyền của VN.

 

Hai chi tiết khác cần làm sáng tỏ thêm : theo « công trình nghiên cứu » của TS Vương Văn Quang thì dân chúng ở các đảo « Sơn Tâm, Hà Vĩ và Vu Đầu đến từ Đồ Sơn, VN ».

 

Đồ Sơn là một địa điểm tắm biển do người Pháp thành lập cuối thế kỷ 19, tức là chỉ mới đây, tên là Doson. Như vậy những người Việt này không thể xuất thân từ « Đồ Sơn » rồi !

 

Mặt khác, lý do mà nhóm dân này ra các đảo sinh sống, như các tài liệu đã dẫn, là để trốn sự khủng bố của quân Hoa, chứ không phải là « đuổi theo đàn cá ở vùng vịnh Bắc Bộ mà lạc đến đảo Vu Đầu » (sic !)

 

Câu hỏi đặt ra, vì sao người Pháp đã chứng minh được đất (Giang Bình) thuộc chủ quyền của Việt Nam, bằng sử liệu của chính người Hoa, cũng như những điều tra trên thực địa, là những bằng chứng không thể phản biện, tại sao bây giờ nó lại thuộc về TQ ?

 

Câu hỏi khác, lúc đó quân Pháp mạnh mẽ, đối diện với một nước Trung Hoa đang rệu rã. Ở thế mạnh, Pháp muốn ép TQ thế nào lại không được ?

 

Câu trả lời là do sự trao đổi quyền lợi giữa Pháp và Thanh triều. Pháp nhượng các vùng lãnh thổ của VN để đổi lấy quyền lợi kinh tế[5]. Phần tóm tắt « hiệp ước Thiên Tân 1885 » dưới đây trả lời câu hỏi này.

 

Số phận vùng đất Giang Bình được giải quyết ở Bắc Kinh ngày 26 tháng 6 năm 1887, cũng là nội dung Công Ước 1887. Nguyên văn tiếng Pháp, như sau :

 

« Au Kouang-tong, il est entendu que les points contestés qui sont situés à l’est et au nord-est de Monkaï, au delà de la frontière telle qu’elle a été fixée par la Commission de la délimitation, sont attribués à la Chine. »

 

Tạm dịch sang tiếng Việt : Tại Quảng Đông, các bên đồng thuận rằng các điểm tranh chấp ở phía đông bắc của Móng Cái, ở phía bên kia đường biên giới đã được Ủy Ban Phân Định xác định, thì chúng được giao cho Trung Hoa.

 

Cực kỳ đơn giản, « các vùng đất tranh chấp ở phía bắc Móng Cái được giao cho Trung Hoa ».

 

« Các vùng đất phía bắc Móng Cái » là huyện Giang Bình, bao gồm mũi Bạch Long Vĩ (trên đó có nhiều xã) cùng các đảo Tham Cát, Sơn Tâm, Mao Sơn và Vạn Vĩ nơi nhiều người Việt sinh sống từ bao nhiêu đời.

 

Hậu quả cuộc phân định biên giới 1887, ngoài huyện Giang Bình (bao gồm mũi Bạch Long và các đảo trong vịnh Vạn Xuân), Việt Nam còn bị mất thêm các vùng đất Tụ Long[6] (phía bắc Hà Giang hiện nay), tổng Đèo Lương (Cao Bằng), một số xã thuộc tổng Kiến Duyên và Bát Trang (Hải Ninh)[7]. Tổng số diện tích có thể lên tới trên 3.000 km².

 

Một số dữ kiện về phân định biên giới 1887, mọi người có thể tham khảo thêm từ tập « Le Tour du Monde » năm 1886-1887, Sur les Frontière du Tonkin của Dr Paul Néis. Ông Néis là một ủy viên thuộc Ủy ban Pháp phân định Biên giới 1887.

 

3.  Hậu quả Hiệp Ước Thiên Tân 1885 lên biên giới Việt Nam.

 

Hiệp ước hòa bình, hữu nghị và thương mại « traité de paix, d’amitié et de commerce », được ký kết tại Thiên Tân ngày 9 tháng 6 năm 1885 giữa Lý Hồng Chương và ông Patenôtre, được quốc hội Pháp thông qua ngày 20 tháng 11 năm 1885. Hiệp ước gồm có 3 phần, như tên gọi hiệp ước : hòa bình, hữu nghị và thuơng mại nhưng trọng tâm là thuơng mại. Ðiều 3 của Hiệp Ước dự trù việc xác định lại đường biên giới Việt Trung. Các điều 5 và 6 dự trù một công ước về thương mãi giữa Pháp và Trung Hoa.

 

Công Ước về thương mãi được ký ngày 25 tháng 4 năm 1886 do ông Cogordan thương lượng nhưng kết quả không đúng như mong đợi của Pháp. Ðể sửa chữa, một công ước bổ túc cho công ước thương mãi « Convention additionnelle de Commerce » được ông Constans thương lượng cùng lúc với công ước về biên giới và cùng ký ngày 26 tháng 6 năm 1887.

 

Công ước về thuơng mãi được ký ngày 25 tháng 4 năm 1886 nhưng bị đánh giá bất lợi cho Pháp. Bởi vì, nguyên văn công ước là tất cả những gì mà Trung Hoa đòi hỏi trước đó đã được ghi lại trong bản tường trình của Cogordan. Trong khi đó những gì mà Pháp đòi hỏi đều không được.

 

Việc chinh phục Bắc Kỳ, từ thời Françis Garnier (1874) đến Henri Rivière (1883) cho đến chiến tranh Pháp-Trung 1884-1885 chỉ có mục tiêu là xây dựng địa bàn và mở đường thông thương với các tỉnh phía Nam Trung Hoa để buôn bán. Hiệp ước thương mại của Cogordan thực tế mở cửa cho Trung Hoa vào Việt Nam nhưng đóng mọi cửa để Pháp không thể vào Hoa Nam. Ðây là một thất bại lớn vì tất cả máu xương của lính viễn chinh cũng như tiền bạc của dân Pháp đều xem như bỏ.

 

Ðể sửa chữa, ông Constans được cử làm bộ trưởng sang Thiên Tân để ký kết công ước phân định biên giới nhưng kèm theo một phụ ước về thương mãi.

 

Bản tường trình của dân biểu Dureau de Vaulcomte, liên quan đến việc nghiên cứu  công ước thương mãi 25 tháng 4 năm 1886 và phụ ước 26 tháng 6 năm 1887, có đề cập đến :

 

« Et ainsi la question de frontière se trouva liée à la question commerciale – Và vì thế vấn đề biên giới được gắn liền với vần đề thương mãi ». « Le gouvernement a pensé que les concessions faites à la Chine, en ce qui concerne les territoires, peuvent être compensées par les avantages qui résultent de la Convention commerciale additionnelle au Traité du 25 Avril 1886 – Chính phủ đã nghĩ rằng những nhượng bộ đất đai cho Trung Hoa có thể được đền bồi bằng những ưu đãi (về kinh tế) do Công Ước thương mãi bổ sung Hiệp Ước 25 tháng 4 năm 1886. »

 

Như thế, rõ ràng, chính nhà nước Pháp đã chủ trương nhượng đất của Việt Nam để có được những ưu đãi về thương mãi với Trung Hoa !

 

Trên quan điểm công pháp quốc tế, chiếu theo phần « dol », tức sự lường gạt trong các hiệp ước, công ước phân định biên giới 1887 có thể không có hiệu lực.

 

4.  Đường biên giới lịch sử theo sử liệu của Việt Nam và Trung Quốc :

 

Theo Ðại Thanh Nhứt Thống Chí[8] (DTNTC) 大清一統志, dẫn từ địa chí thời Minh, biên giới khu vực này được xác định bằng ngọn núi Phân Mao, như sau :

 

Phục Ba tướng quân Mã Viện đã dựng dưới chân ngọn Phân Mao một trụ đồng vào năm 43 trước TC để đánh dấu biên giới hai nước Việt-Trung. Từ chân ngọn núi này, vào năm 74, quân Hán vượt biên giới, qua châu Tiên Yên, vào chiếm Việt Nam[9].

 

Sử sách của VN, tập Đại Nam Nhứt Thống Chí và Lịch triều Hiến Chương Loại Chí (phần Dư Địa Chí) của Phan Huy Chú, dẫn từ sách Dư Địa Kỳ Thắng của Trung Hoa cũng viết tương tự :

 

Ranh giới Nam và Bắc thuộc vùng biên giới trấn An Quảng xưa có núi Phân Mao[10].

 

Như thế biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc đã được xác định bằng ngọn núi Phân Mao. Núi này chính xác ở đâu ?

 

Theo Ðại Thanh Nhứt Thống Chí :

 

Phân Mao Lĩnh 分茅嶺 ở động Cổ Sâm, về phía Tây huyện đường Khâm Châu, cách 300 lý và ở trên đường biên giới với Việt Nam…

 

Bộ địa chí thời Minh, Gia Khánh Trùng Tu Nhứt Thống Chí, cũng mô tả biên giới hai bên trong khu vực với nội dung tương tự. Theo Dư Ðịa Chí của Nguyễn Trãi : núi Phân Mao ở về phía tây lộ Hải Đông, cách khoảng 300 dặm. Nơi đây có kim tiêu, quen gọi là cột đồng Mã Viện.

 

Tương truyền trên đỉnh núi Phân Mao có thứ cỏ tranh, do ảnh hưởng của khí hậu và địa thế, ngọn cỏ tranh ngả theo hai hướng Bắc và Nam cho nên mới có tên gọi là núi Phân Mao, nghĩa là núi có thứ cỏ chia ra làm hai hướng.

 

Đại Việt Sử Ký Toàn thư cũng ghi : Cột đồng Đông Hán do Mã Viện dựng ở động Cổ Lâu thuộc Châu Khâm.[11]

 

Như thế, sử liệu Trung Quốc và Việt Nam cùng thống nhứt ở hai điểm : 1/ biên giới hai nước là núi Phân Mao, nơi có trụ đồng Mã Viện. 2/ vị trí của núi Phân Mao : núi Phân Mao thuộc động Cổ Sâm, huyện Khâm Châu. Khâm Châu hiện nay trên bản đồ ghi là Quizhou, cách Móng Cái khoảng 120km về hướng đông bắc.

 

Ðại Thanh Nhứt Thống Chí mô tả địa lý Khâm Châu như sau :

 

Huyện Khâm Châu 嶔州, thuộc phủ Liêm Châu 廉州俯. Biên giới Việt Nam cách huyện đường 300 dặm theo hướng Tây và cách 240 dặm theo hướng Tây Nam. Dân chúng sống ở Liêm Châu gồm có dân tộc Dao 搖 và dân tộc Choang (Tchoang)[12].

 

Theo bản đồ các nhà truyền giáo Jésuites, tọa độ Khâm Châu : vĩ độ 21° 54’ và kinh độ 106° 07’ 45’’, cách phủ Liêm Châu 180 dặm về phía Tây thiên Bắc.[13]

 

Huyện Khâm Châu có các rặng núi ở kế cận (hay ở trên vùng) biên giới Việt-Trung :

 

Rặng La Phù Sơn 羅桴山, cách huyện Khâm Châu 65 đến 95 dặm theo hướng tây  bắc. Rặng núi Thập Vạn Sơn 十萬山, cách huyện Khâm Châu 200 dặm về phía tây bắc. Rặng núi này là ranh giới giữa huyện Khâm Châu với châu Thiên Tư. Châu Thiên Tư cách dải núi nầy 80 dặm. Có đến cả trăm con suối bắt nguồn từ Thập Vạn Sơn (là phần nối dài của rặng Ba Dương Lĩnh 筢羊嶺). Dải núi Ba Dương Lĩnh giáp châu Tư Lăng 陵州 ở phía Tây, dải núi này có tới hơn 400 đỉnh, cao thấp chập chùng. Sông Ná Lãng (Ná Lãng Giang 那浪江), cũng như sông Minh Giang 明江 thì cùng bắt nguồn tại đây[14].

 

Dải núi Vương Quang Sơn 王光山, cách huyện đường Khâm Châu 170 dặm về hướng tây bắc, chắn ngang rặng Thập Vạn Sơn[15]

 

Ngọn Mặc Mạt Sơn 墨抹山 cách Khâm Châu 100 dặm về hướng Tây Nam. Sông Phụng Hoàng bắt nguồn tại đây[16].

 

Để xác định « vùng biên giới » giữa hai nước, điều cần thiết là xác định lại vị trí các dảy, hay các ngọn núi đã dẫn từ các tài liệu trên.

 

Ngoài ra, xưa nay, biên giới hai bên Việt-Trung luôn được xác định bằng các cửa ải và những con sông. Theo Đại Thanh Nhứt Thống chí, Huyện Khâm Châu có các của ải :

 

Ải Ná Tô 那蘇隘 (hay Na Tô Ải), ở phía Tây Nam huyện Khâm Châu.

 

Ải Nhẫm Quân 稔均隘 , cách ải Ná Tô 70 dặm về hướng Ðông Nam.

 

Ải Ná Long 那隆隘 (hay Na Long Ải), cách ải Ná Tô trên 10 dặm về phía Ðông.

 

Cả ba ải này đều thông thương sang Việt Nam[17].

 

Huyện Khâm Châu có các con sông, suối ở kế cận hay ở trên đường biên giới :

 

Sông Thiếp Lãng (Thiếp Lãng Giang 貼朗江), cách Khâm Châu 240 dặm, chảy theo đường biên giới Việt Nam[18]. Theo Ðại Thanh Hội Ðiển Ðồ (DTHHD), quyển 122, tờ thứ 26, sông nầy bắt nguồn từ những ngọn núi về phía Tây Bắc huyện Khâm Châu.

 

Kết luận lại, hồ sơ của ông Dillon đã viết đúng : biên giới VN và TQ, theo địa chí Trung Hoa, thì ở Long Môn.

 

5.  Biên giới khu vực theo công ước 1887

 

Biên bản phân định biên giới ngày 29 tháng 3 năm 1887 nguyên văn tiếng Pháp, tạm dịch sang tiếng Việt như sau :

 

« Ủy ban phân định biên giới công nhận rằng từ Trúc Sơn 竹山, thuộc Trung Hoa, đường biên giới theo dòng sông, hướng Ðông sang Tây, cho đến Móng Cái – Ðông Hưng 東興. Ðường trung tuyến của dòng sông được dùng làm ranh giới và chia các khu vực La Phù Ðộng 羅浮峒, Ðông Hưng 東興 v.v.. thuộc Trung-Hoa với các khu vực Ngũ Sĩ 伍仕, Móng Cái v.v… thuộc An Nam.

 

Từ Móng Cái – Ðông Hưng đến Bắc Thị 北市 – Gia Long 加隆: đường biên giới khá quanh co, có hướng chung Bắc đến Bắc Tây Bắc và theo trung tuyến của dòng sông, phân chia những vùng Na Chi 那芝, Ka Long v.v… thuộc về Trung Hoa những vùng Thác Lãnh 托嶺, Nam Lý 南里, Bắc Thị v.v… thuộc An Nam.

 

Từ Bắc Thị – Gia Long đường biên giới theo trung tuyến sông Gia Long, là một phụ lưu tây ngạn của sông Bắc Thị 北市江, có độ dài khoảng chừng 30 lí (mỗi lí là 561 thước), và khi vượt ra ngoài 30 lí đường biên giới rời sông, theo đường thẳng trực tiếp để đến điểm cách Ðộng Trung 峝中村 3 lí về hướng Bắc, tức điểm được đánh dấu A (甲) trên bản đồ số 1. Ðường biên giới chia cho Trung Hoa các vùng Lãnh Hòa 嶺懷, Phi Lao 披勞, Bản Hưng 板興 v.v… và một ngọn núi mang tên Phân Mao Lĩnh 分茅嶺, núi này ở phía Ðông Nam của Bản Hưng 板興 và dựa lên đường biên giới.  Các vùng Ná Dương 那陽, Ðộng Trung 峝中 và những nơi khác thì thuộc về An Nam.

 

Từ điểm A, đường biên giới đi về hướng ải Bắc Cương 北崗隘 (Bắc Cương Ải), núi Phái Thiên 派遷山 (Phái Thiên Sơn), cách làng Bình Liêu 平寮村 của An Nam khoảng 30 lí theo đường thẳng. Ðường biên giới chia các cửa biên giới Ná Quang 那光卡 (Ná Quang Ca), Bản Thôn 板吞卡 (Bản Thôn Ca) v.v… cho Trung Hoa và các vùng Na Dương 那陽, xã Trình Tường 呈祥社 v.v… cho An-Nam. »

 

Trong công ước 1887 phía người Hoa chấp nhận đường biên giới đi qua núi Phân Mao. Nhưng đến khi ra phân giới trên thực địa, phía người Hoa lập mưu, chỉ vào một trái núi ở Động Trung, tạo dựng đền thờ Mã Viện giả, cho rằng đó là núi Phân Mao. Đường biên giới bị dời xuống phía nam đến 40km. Ông Chiniac De Labastide, chủ tịch ủy ban phân giới 1890-1892 đề nghị Toàn Quyền Pháp ký lại công ước nhưng không thành công. Việt Nam bị mất đất rất nhiều ở vùng này (khoảng 4.000km²).

 

 

[1] Xem giới thiệu của dịch giả.

[2] Hồ sơ phân định biên giới 1886-1894, CAOM mã số Indo, GGI, số thùng carton : 65353, 65354, 65355, 65356, 65357, 65358, 65359, 65360.

[3] Theo thống kê năm 1891 của Cao Ủy Bắc Kỳ,  Hải Ninh gồm có hai châu Hà Cối, Tiên Yên. Châu Hà Côi gồm có các tổng Ninh Hải, Vạn Ninh, Hà Môn, Bát Trang. Châu Tiên Yên có các tổng Hà Thanh, Đôn Đạt, Kiến Duyên, Hậu Cơ, Bắc Lăng. Vạn Xuân là tên một làng thuộc tổng Vạn Ninh (gồm có các làng Vạn Xuân, Xuân Lạng, Xuân Ninh, Ninh Dương, Vạn Ninh, Đoan Tĩnh, Phục Thiên và Hòa Lạc. Hòa Lạc là tên nguyên thủy của Móng Cái).

[4] Điều đáng tiếc là bộ địa chí Đồng Khánh vừa xuất bản lại không ghi các chi tiết này. Thậm chí Hòa Lạc (tức Móng Cái) bị tập sử này ghi là « xiêu tán », tương tự nhiều địa danh khác ! Có thể các năm đó phố Hòa Lạc chỉ có dân Hoa sinh sống (tương tự Kỳ Lừa, Lạng Sơn) nhưng không thể ghi sơ suất như thế được. Xiêu tán là không còn nữa. Xem ra tài liệu do người Pháp sưu tập về biên giới còn đầy đủ hơn bất kỳ bộ địa chí nào của Việt Nam.

[5] Xem thêm bài viết của cùng tác giả : http://nhantuantruong.blogspot.fr/2013/11/viet-nam-co-mat-at-mat-bien-qua-hai.html

[6] Xem thêm bài viết của cùng tác giả https://www.facebook.com/notes/nh%C3%A2n-tu%E1%BA%A5n-tr%C6%B0%C6%A1ng/t%C3%ACm-hi%E1%BB%83u-nguy%C3%AAn-nh%C3%A2n-m%E1%BA%A5t-%C4%91%E1%BA%A5t-t%E1%BB%A5-long-v%C3%A0o-tay-trung-qu%E1%BB%91c-qua-c%C3%A1c-hi%E1%BB%87p-%C4%91%E1%BB%8Bnh-ph%C3%A1p-t/351606381546377

[7] Xem thêm bài viết của cùng tác giả http://nhantuantruong.blogspot.fr/2013/02/bien-gioi-viet-trung-vung-quang-ong-hai.html

[8] Bản dịch của ông Devéria, Ðại Thanh Nhứt Thống Chí  大清一統志 (500 quyển, in năm 1764 theo lệnh của vua Càn-Long), trong quyển La Frontière Sino-Annamite – Description géopraphique et ethnographique (d’après les documents officiels traduits pour la première fois), do l’Ecole des Langues Orientales Vivantes xuất bản, Paris năm  1886.

[9] ÐTNTC, tờ 8 và tờ 15, sdd.

[10] Sử Liệu về Biên Giới Ta Và Tàu Từ Ðời Nhà Lý Cho Tới Ðầu Thời Pháp Thuộc. Tác giả Hà Mai Phương và Chu Thu Hằng. NXB Mai Hiên, PO BOX 1061 Campell, CA, 95009, không đề năm xuất bản.

[11] Hà Mai Phương và Lưu Chu Thanh Tao, trong bài « Từ cửa Nam Quan đến ải Chi Lăng, Châu Ôn và núi Phân Mao ».

[12] DTNTC. Sdd.

[13] Devéria. La Frontière Sino-Annamite – Description géopraphiquêt ethnographique (d’après les documents officiels traduits pour la première fois), do l’Ecole des Langues Orientales Vivantes xuất bản, Paris năm  1886.

[14] ÐTNTC, sdd, quyển 364, tờ 3.

[15] ÐTNTC, sdd, q 364, tờ 5.

[16] Idem.

[17] ÐTNTC, sđd, q 348, tờ thứ 10.

[18] ÐTNTC, sđd, q 348, tờ thứ 9.

Bị đề nghị ‘kỷ luật’, Tiến Sĩ Chu Hảo bỏ đảng luôn

October 29, 2018

Đinh Quang Anh Thái

https://i2.wp.com/www.nguoi-viet.com/wp-content/uploads/2018/10/VN-GS-Chu-Hao-Tuyen-Bo-Bo-Dang.jpg?resize=696%2C522&ssl=1Tiến sĩ Chu Hảo tuyên bố bỏ đảng. (Hình: Tễu Blog)

HÀ NỘI (NV) – Tiến Sĩ Chu Hảo gửi thư thông báo đến chi bộ “tự nguyện từ bỏ đảng CSVN” sau khi có tin ông bị “Ủy Ban Kiểm Tra Trung Ương” của đảng CSVN đề nghị “kỷ luật” vì “tự diễn biến.”

“Tôi tự nguyện từ bỏ đảng CSVN, ngay từ hôm nay, để tiếp tục đi theo con đường mình đã chọn: Góp phần nâng cao dân trí theo tinh thần khai sáng của Phan Châu Trinh: Dân tộc, dân chủ và phát triển; chủ yếu thông qua các hoạt động văn hóa và giáo dục. Đề nghị chi bộ, và các cấp ủy xóa tên tôi trong danh sách đảng viên.” Tiến Sĩ Chu Hảo viết trong lá thư thông báo đề ngày 26 Tháng Mười, 2018, gửi cho đảng CSVN thông qua chi bộ nhà xuất bản Tri Thức.

Blog Tễu của ông Nguyễn Xuân Diện phổ biến phóng ảnh thư bỏ đảng của ông Chu Hảo cùng với tin có nhiều đảng viên tuyên bố bỏ đảng ở nhiều lãnh vực khác nhau, già có trẻ có.

Trong bức thư thông báo bỏ đảng, ông Chu Hảo nêu lý do cái đảng chính trị mà ông gia nhập 45 năm trước “không có tính chính danh, hoạt động không chính đáng, có nhiều khuất tất, ngày càng thoái hóa, đi ngược lại quyền lợi của dân tộc và xu thế tiến bộ của nhân loại.”

Lá thư thông báo bỏ đảng của Tiến Sĩ Chu Hảo gửi một ngày sau khi báo chí trong nước đưa tin ông bị Ủy Ban Kiểm Tra Trung Ương đảng ra thông cáo báo chí “đề nghị xem xét, thi hành kỷ luật Giáo Sư Chu Hảo” vì “làm ảnh hưởng đến uy tín của tổ chức đảng, tác động xấu tới tư tưởng xã hội.”

Ông bị quy chụp cho tội “có những bài viết, phát ngôn có nội dung trái với cương lĩnh chính trị, điều lệ đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước; đồng chí đã suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, ‘tự diễn biến’, ‘tự chuyển hóa.’”

Ngay sau khi tin được tung ra, mạng xã hội sôi nổi với những lời bình luận ca ngợi ông Chu Hảo là một trí thức chân chính và kéo theo những lời tuyên bố bỏ đảng của Tiến Sĩ Mạc Văn Trang, nhà văn Nguyên Ngọc, cựu Đại Sứ Nguyễn Trung. Cho đến hôm nay, ba ngày sau, người ta đếm thấy có tin tức tất cả 12 người tuyên bố từ bỏ đảng CSVN trong đó có 2 sĩ quan quân đội, một luật sư, một cô giáo, một kỹ sư, 3 tiến sĩ.

Giáo Sư Chu Hảo, năm nay 78 tuổi, là giám đốc nhà xuất bản Tri Thức, nguyên thứ trưởng Bộ Khoa Học Công Nghệ và là một trong những người lên tiếng chống Luật Đặc Khu và Luật An Ninh Mạng. Ông cũng là thành viên trong nhóm chuyên viên độc lập “Viện Nghiên Cứu Phát triển IDS” từng tự giải tán để chống lại sự ép buộc của chính phủ ông Nguyễn Tấn Dũng.

Trong thư kiến nghị gửi ngày 2 Tháng Sáu, 2018, về Luật An Ninh Mạng ký tên Giáo Sư Đặng Hữu, ông này thay mặt nhóm chuyên gia chuẩn bị đưa Internet về Việt Nam đầu năm 1990 trong đó có Giáo sư Chu Hảo kiến nghị 4 điểm. Bản kiến nghị yều cầu bỏ các điều luật “ảnh hưởng đến quyền dân sự, chính trị của công dân, đồng thời có thể đặt doanh nghiệp vào rủi ro pháp lý trong quá trình kinh doanh.” Ông cũng ký tên vào bản kiến nghị ngày 1 Tháng Sáu, 2018, kêu gọi “khẩn thiết” rằng toàn thể người Việt Nam trong và ngoài nước, cũng như quốc hội hãy “phản đối, rút bỏ” dự luật Đặc Khu.

Khi hay tin ông bị đề nghị “kỷ luật,” các cựu thành viên của IDS đã gửi thư tới “Ủy Ban Kiểm Tra Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam” và cả “Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Việt Nam” yêu cầu rút lại quyết định “không chính đáng, không đúng sự thật, thể hiện sự trấn áp thô bạo những nỗ lực rất đáng trân trọng của một trí thức hết lòng vì dân vì nước, chà đạp những ý kiến chân thật và xây dựng của ông về những vấn đề nóng bỏng của đất nước.”

Nhưng ông Chu Hảo đã gửi thư thông báo bỏ đảng. (TN)

Anh hùng và kẻ phản bội

Anh hùng và Kẻ bội phản trong Quân lực VNCH,” một tiếng nói mới về chiến tranh VN
Thiện Giao, phóng viên đài RFA
RFA – Buổi ra mắt tác phẩm nghiên cứu lịch sử về chiến tranh Việt Nam của giáo sư Andew Wiest tại thành phố Falls Church có thể được xem là cơ hội để những người bạn cũ, những đồng đội cũ, của 40 năm trước gặp lại nhau.
Họ có thể là những mảnh vụn, bị phân tán khắp nơi sau khi chia tay, để rồi, với tác phẩm nghiên cứu của Wiest, họ lại được sắp vào nhau như một khoa học ghép hình, góp phần tái lập lại hình ảnh đúng đắn hơn cho một quân đội, theo lời giáo sư Wiest, gần như chưa bao giờ được thế giới Tây Phương thừa nhận và đối xử công bằng. Biên tập viên Thiện Giao có bài tường thuật tại chỗ sau đây.
Thành phố Falls Church, ngày 17 tháng Hai, năm 2008. Tại buổi lễ ra mắt tác phẩm nghiên cứu lịch sử của giáo sư Andrew Wiest. Tác phẩm có tên “Vietnam’s forgotten Army. Heroism and betrayal.”
“Hãy cho tôi giải thích tại sao tôi viết cuốn sách này. Tôi chỉ mới 14 tuổi khi Sài Gòn thất thủ, còn quá trẻ cho cuộc chiến Việt Nam! Nhưng tôi đã nhìn thấy cuộc chiến ấy mỗi ngày, trên tivi, trong ánh mắt những thanh niên Hoa Kỳ đàn anh trở về từ chiến trường Việt Nam, trên khuôn mặt những người Việt Nam được các nhà thờ trong địa phương bảo trợ sang Hoa Kỳ sau cuộc chiến.
Nhưng tôi cũng nhận ra một điều: không một ai có thể giải thích cuộc chiến ấy! Đối với tôi, đó là một bí ẩn. Và chắc hẳn, đó cũng là bí ẩn trung tâm của thế hệ chúng tôi. Và tôi quyết định đi tìm câu trả lời.” (Tiến sĩ Andrew Wiest)
Cuộc chiến không thể diễn tả hết bằng giấy mực
Andrew Wiest, giáo sư sử học, Giám Đốc Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Tranh và Xã Hội tại đại học Southern Mississippi trình bày nguyên ủy ra đời của tác phẩm “Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, Một Quân Đội Bị Quên Lãng. Anh Hùng và Kẻ Bội Phản.”
Đối với Andrew Wiest, chiến tranh Việt Nam là một lớp học không có giáo sư, một cuốn sách không có tác giả, một điều cấm kỵ mà dường như hầu hết người Mỹ muốn quên đi.
Wiest không chọn thái độ đó, và ông quyết định một phương pháp giảng dạy mới. Đó là, mời các cựu chiến binh đến giảng bài, và sau đó, chính ông đưa họ cùng các sinh viên sang Việt Nam, để tìm hiểu chiến trường của hơn 30 năm trước, và cũng để đi tìm diện mạo của một quân đội mà ông gọi là “bị bỏ quên.”
“Trong thời gian ở Việt Nam, tôi gặp một người đàn ông có tên là Phạm Văn Đính, đã tham gia chiến tranh Việt Nam. Qua câu chuyện ông ta kể, tôi thấy ông ta là một bí ẩn. Tôi tin rằng, tôi sẽ cần phải nói chuyện với ông ta nhiều hơn nữa để học hỏi.
Sau khi trở lại Hoa Kỳ, tôi hỏi rất nhiều người về Phạm Văn Đính. Tất cả đều nói, nếu tôi muốn biết nhiều hơn về Đính, có một người có thể kể cho tôi. Người đó tên là Trần Ngọc Huế, đã kết thúc cuộc đời binh nghiệp theo một con đường hoàn toàn khác Phạm Văn Đính.”
Và cuốn sách ra đời. Tác phẩm của Wiest là một công trình thuần túy lịch sử, nhưng cấu trúc được xây dựng lạ lùng, và chủ đề được tiếp cận nhân bản.
Cuộc gặp gỡ định mệnh
“Anh Hùng và Kẻ Bội Phản” cũng đầy những con số, địa danh, tên gọi, tổn thất. Nhưng “Anh Hùng và Kẻ Bội Phản” không lạnh lùng, vô cảm. Tác phẩm được xây dựng trên 2 nhân vật chính, có thật, hoàn toàn có thể kiểm chứng trực tiếp hoặc gián tiếp. Hai nhân vật có tên Phạm Văn Đính và Trần Ngọc Huế.
Cả hai gặp nhau trong một sự sắp xếp trớ trêu của định mệnh. Trước hết, họ là đồng hương, là người Huế, và cùng yêu cố đô với tình cảm mãnh liệt. Cả hai đều chọn binh nghiệp. Sĩ quan Phạm Văn Đính, sinh năm 1937, tốt nghiệp trường Võ Bị Thủ Đức, sĩ quan Trần Ngọc Huế, sinh năm 1942, tốt nghiệp Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt.
Con đường binh nghiệp của cả hai sĩ quan trẻ gặp nhau tất cả 5 lần.
Bốn lần đầu, trong vinh quang, khi cả hai cùng liên tiếp được thăng cấp rất nhanh trong vai trò sĩ quan tác chiến. Sự gan dạ và các chiến tích của họ được tác giả cuốn sách gọi là “Thời Đại Của Những Anh Hùng.”
Lần gặp thứ năm, cũng là lần cuối cùng, cả hai không thể lường trước, về hoàn cảnh, về địa điểm, và cả tư thế. Lần gặp này, một trong hai người sẽ phải ân hận cho đến cuối đời.
Một quân đội anh hùng
Tạm rời câu chuyện của Phạm Văn Đính và Trần Ngọc Huế để trở lại hành trình tìm hiểu chiến tranh Việt Nam của tác giả Andrew Wiest. “Không như những gì thế giới Phương Tây đã nghĩ, miền Nam Việt Nam đã chiến đấu cực kỳ anh dũng trong 20 năm. Anh dũng hơn cả những gì mà thế giới Tây Phương, cho đến thời điểm này, vẫn viết, vẫn tin và vẫn hình dung. Trong các trận đánh, từ chiến trường nhỏ trước Mậu Thân, và mở rộng ra sau đó, họ đã chiến đấu rất can đảm và hiệu quả.”
Wiest, ở tuổi 14 khi chiến tranh kết thúc. Có thể xem Wiest là thế hệ hậu chiến. Wiest, tại sao bị ám ảnh bởi cuộc chiến? Cuộc chiến tranh Việt Nam là vậy. Hãy nghe nhận định của giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, một diễn giả trong buổi ra mắt sách.
“Những câu chuyện thân tình mà Trung Tướng William Bolt vừa kể về Trần Ngọc Huế cho thấy ông tin rằng Huế đã chết, thế mà đột nhiên ông ta lại xuất hiện. Cuộc chiến Việt Nam là như vậy. Khó hiểu thật.
Tôi thuộc vào thế hệ chiến tranh, và tôi không thể lấy cuộc chiến ấy ra khỏi đầu tôi, rõ ràng là như vậy. Thế nhưng những thế hệ trẻ hơn, chẳng hạn giáo sư Wiest, tác giả cuốn sách này, thì rõ ràng, cuộc chiến Việt Nam lại quay về, và ám ảnh chúng ta.”
Hãy quay trở lại với hai sĩ quan trẻ Trần Ngọc Huế và Phạm Văn Đính. Hãy hình dung chiến trường Tchepone, Hạ Lào, gần 40 năm về trước.
Một đêm cuối tháng Ba năm 1971, trong khuôn khổ chiến dịch Lam Sơn 719, Trần Ngọc Huế lúc đó đang ở Tchepone, bị thương và ngất lịm. Ông ra lệnh cấp dưới mở đường máu thoát thân, để ông lại trận địa nhằm tránh gây cản trở trên đường tháo lui. “Giấc Mơ Bị Vỡ Vụn,” là tên của chương sách nói về trường hợp sĩ quan Trần Ngọc Huế bị bắt làm tù binh.
Cử tọa Hoa Kỳ trong ngày ra mắt “Anh Hùng và Bội Phản.” Người ngồi hàng đầu bên trái là thiếu tướng hồi hưu Creighton Abrams (con trai cố đại tướng Creighton Abrams), người thứ ba từ trái sang là trung tướng hồi hưu William J. Bolt. Người thanh niên ở bìa phải là trung tá Mike Cooligan, đại diện thân phụ, đại tá Jim Cooligan (cũng là một cố vấn tại Huế giai đoạn 1968), đến tham dự lễ ra mắt sách. (Hình: Thiện Giao/RFA)
Về phần Phạm Văn Đính, trong giai đoạn cuối của hành quân Lam Sơn 719, được lệnh đưa đơn vị đến Khe Sanh để yểm trợ và đóng cửa căn cứ. Vòng vây Bắc Việt xiết chặt, tình thế hiểm nghèo. Phạm Văn Đình 2 lần nhận được yêu cầu của phía Bắc Việt: Đầu hàng để được toàn mạng. Trung tá Phạm Văn Đính quyết định đầu hàng, ở tuổi 35, khi còn 2 tháng nữa thì được vinh thăng đại tá. “Kẻ Bội Phản” là chương sách nói về trường hợp của trung tá Phạm Văn Đính.
Một năm sau, tại một trại tù binh ở Sơn Tây, trung tá Đính và thiếu tá Huế gặp nhau lần thứ năm. Huế bàng hoàng nhận ra, trung tá Đính của quân lực Việt Nam Cộng Hòa ngày nào, bây giờ đã là trung tá Đính quân đội nhân dân, đến gặp, nói chuyện và tế nhị chiêu dụ thiếu tá Huế hợp tác với miền Bắc. Thì ra, chỉ một thời gian ngắn sau khi trung tá Đính đầu hàng, ông đã quyết định đổi bộ quân phục, hợp tác và được chuyển ngang cấp bậc sang phía quân đội Bắc Việt.
Thiếu tá Huế từ chối hợp tác, bị giam đến năm 1973, có tên trong danh sách trao đổi tù binh theo Hiệp Định Paris. Ông được đưa đến địa điểm trao đối tù binh thuộc tỉnh Quảng Trị, có thể nhìn thấy cảnh cũ ở bên kia biên giới, tay đã chạm vào tự do, và rồi, một sĩ quan Bắc Việt tiến đến, nói rằng Huế bị bắt tại Lào nên không phải là tù binh của Bắc Việt. Ông không được trả tự do.
Năm 1983, thiếu tá Huế ra tù, về sống tại Sài Gòn, sau đó sang Hoa Kỳ và định cư tại thành phố Falls Church, tiểu bang Virginia, cho đến nay.
Trung tá Phạm Văn Đính thì đã qua đời hồi năm ngoái, tại Việt Nam, sau một lần sang Hoa Kỳ để trả lời phỏng vấn của tiến sĩ Wiest, tác giả cuốn sách đang được nói đến. Tại đây, những đồng đội ngày xưa, tức những kẻ thù bây giờ, kể cả các cố vấn Hoa Kỳ, từ chối gặp mặt ông.
Lịch sử không công bằng
Tác giả Wiest khẳng định, quân lực Việt Nam Cộng Hòa là một quân lực bị bỏ quên. Trong tư thế một sử gia, Wiest khẳng định, bằng chính nghiên cứu của mình, rằng quân lực Việt Nam Cộng Hòa là một quân lực anh dũng, đã chiến đấu trong cuộc chiến 20 năm để bảo vệ tự do.
Quân lực ấy có rất nhiều anh hùng, nhưng không được lịch sử đối xử công bằng. Wiest nói, Tây Phương chỉ viết về chiến tranh Việt Nam như một cuộc chiến chỉ có người Hoa Kỳ đánh nhau. Thực tế không phải như vậy, và càng không phải như vậy khi người Hoa Kỳ rút khỏi Việt Nam. Hãy nghe thiếu tướng Creighton Abrams, con trai cố đại tướng Abrams nhắc lại những gì thân phụ ông suy nghĩ.
“Một sĩ quan người Anh đã phát biểu về cha tôi, rằng Abrams giỏi lắm, rất giỏi. Đáng lý ra ông ta phải có một cuộc chiến tốt hơn. Tôi không đồng ý với nhận định ấy.
Đến hôm nay tôi vẫn tin, cũng như cha tôi đã từng nói, quân đội miền Nam Việt Nam đáng cho những gì tốt nhất mà ông đã ra công. Và ông thấy hãnh diện đã từng cùng họ phục vụ một cuộc chiến mà kết thúc cuối cùng không như mong muốn.”
Để kết thúc, xin được giới thiệu trích đoạn trong lời đề tựa trên tác phẩm “Anh Hùng và Kẻ Bội Phản.” Lời đề tựa do thượng nghị sĩ James Webb, cựu Bộ Trưởng Hải Quân, và cũng là cựu chiến binh Việt Nam, viết, có đoạn đại ý như sau:
Câu chuyện của Phạm Văn Đính và Trần Ngọc Huế không phải là những câu chuyện dễ cảm nhận. Điều quan trọng không phải là nhìn vào một Việt Nam vươn mình từng năm một vào cộng đồng thế giới. Để hiểu được hai hành trình trái ngược này, phải nhìn vào một Việt Nam những ngày đầu thoát ra khỏi bóng tối của cuộc chiến.
Hãy nhìn như vậy, để cảm nhận một Trần Ngọc Huế chiến sĩ dũng cảm, trả giá đắt cho lòng trung thành nhưng chẳng bao giờ phải trả lời câu hỏi về danh dự. Trong khi đó, con đường mà Phạm Văn Đính đã chọn, ít đau đớn hơn, nhưng lại trở nên phức tạp hơn ở hồi kết thúc.”
Tác giả Wiest nói rằng, sự chọn lựa của hai nhân vật chính, nhất là quyết định “thay đổi bộ quân phục” của Phạm Văn Đính, sẽ do chính độc giả tự đánh giá. Mục đích của Wiest là, thông qua câu chuyện của hai sĩ quan này, trình bày lại sự thật về một quân đội quả cảm nhưng bị đối xử thiếu công bằng về mặt lịch sử.
Mà đó cũng là công việc của Wiest, một sử gia. Có người đã từng phát biểu, rằng “không có sử gia, sự thật sẽ vĩnh viễn nằm trong bóng tối.”
Andrew Weist, thông qua “Anh Hùng và Bội Phản,” đã phần nào đưa được sự thật ra ánh sáng.
Tác giả cuốn “Việt Nam, Một Quân Đội Bị Bỏ Quên” trả lời phỏng vấn RFA
Nguyễn Khanh, phóng viên đài RFA
RFA – Quyển sách viết bằng Anh Ngữ mang nhan đề “Việt Nam, Một Quân Đội Bị Bỏ Quên: Anh Hùng Và Kẻ Phản Bội Trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa” do Giáo Sư Tiến Sĩ Sử Học Andrew Wiest viết, mới được ra mắt hôm Chủ Nhật vừa rồi. Ngay sau buổi ra mắt sách, Tiến Sĩ Wiest đã dành cho Nguyễn Khanh của Ban Việt Ngữ chúng tôi cuộc phỏng vấn đặc biệt sau đây.
Nguyễn Khanh: Là người chào đời trong thập niên 60, ông đâu có liên hệ gì với cuộc chiến Việt Nam. Tại sao ông lại viết quyển sách về cuộc chiến ông không hề liên quan?
Tiến sĩ Andrew Wiest: Mặc dù lúc đó tôi còn quá nhỏ, nhưng phải nói là tôi lớn lên với cuộc chiến Việt Nam. Lúc đó truyền hình, báo chí lúc nào cũng nói đến cuộc chiến, và cuộc chiến này có ảnh hưởng sâu đậm với những người lớn tuổi hơn tôi.
Đây là cuộc chiến mang nhiều bí mật. Một cuộc chiến hầu như không được giảng dậy trong lớp học, không được viết thành sách để những thế hệ sau này có thể hiểu những chuyện gì đã xảy ra, một cuộc chiến mà theo tôi, hình như chính người Mỹ muốn quên đi, quên càng nhanh càng tốt, không ai muốn nói tới nó.
Chính những bí mật đó đã khiến tôi chú ý đến cuộc chiến Việt Nam.
Khi tôi quyết định theo học các lớp sử quân sự, tôi hy vọng sẽ được giảng dậy về cuộc chiến này, nhưng chẳng ai nói tới cả. Tôi có cảm tưởng là mọi người muốn bảo tôi rằng quên nó đi, đừng nhắc tới làm gì, và điều đó lại làm tôi càng phải chú ý hơn.
Nguyễn Khanh: như vậy, phải chăng qua quyển sách này, ông muốn cho người đọc một cái nhìn, một hiểu biết đúng về cuộc chiến? Một cái nhìn, một hiểu biết cân bằng hơn?
Tiến sĩ Andrew Wiest: tôi hy vọng như vậy. Trong quyển sách, tôi có trình bày là quân đội miền Nam Việt Nam không được sử sách nhắc đến gì mấy, hoặc là quân đội miền Nam Việt Nam không được trình bày một cách cặn kẽ trước người đọc Mỹ. Vì thế trong quyển sách này, tôi giới thiệu đến người đọc hai nhân vật của quân đội Việt Nam Cộng Hòa, một anh hùng, một phản bội, và hy vọng từ đó tất cả mọi người nhìn cuộc chiến dưới những góc nhìn khác nhau.
Tôi cũng hy vọng là hình ảnh tương phản tuyệt đối và đặc biệt này, anh hùng tuyệt đối, phản bội cũng tuyệt đối, sẽ giúp tôi trình bày câu chuyện trong một khung cảnh báo quát hơn.
Nguyễn Khanh: nhưng thưa Giáo Sư, cuộc chiến kết thúc đã gần 33 năm rồi, các vết thương có lẽ cũng đã lành. Ở thời điểm như vậy mà ông vẫn bỏ thì giờ để viết về một cuộc chiến chính ông nói mọi người đều muốn quên?
Tiến sĩ Andrew Wiest: phải thành thật mà nói với ông rằng trong bối cảnh chiến tranh thời đó, thì câu chuyện mà tôi tìm được là một câu chuyện tuyệt vời. Khi lớn lên, tôi được đọc biết bao nhiêu chuyện tuyệt diệu nói về cuộc thế chiến thứ Hai, từ chuyện trốn thoát khỏi ngục từ Đức Quốc Xã, cho đến những câu chuyện anh hùng ở trận chiến Normandy, kể cả chuyện những kẻ phản bội đồng đội.
Khi nghe được câu chuyện của ông Phạm Văn Đính và chuyện của ông Trần Ngọc Huế, tôi cũng chỉ mong mình kể lại được một câu chuyện đầy sống động liên quan đến cuộc chiến Việt Nam, về cuộc chiến bị quên lãng.
Những người thật sự liên hệ đến cuộc chiến này chính là những người Việt Nam bị bỏ quên. Họ chiến đấu hết sức mình, chiến đấu dũng cảm hơn cả những người đã tham gia các cuộc chiến trước đó. Họ đã chiến đấu trong niềm tự hào của những kẻ anh hùng, và họ cũng đã chiến đấu trong những nỗi khốn cùng của người không may lâm vào cuộc chiến.
Là một sử gia, tôi quyết định tìm cho được những gì mới về chiến tranh Việt Nam, y hệt như những người đi tìm cái mới khi muốn viết về trận thế chiến thứ Nhất. Có cả tỷ tỷ quyển sách viết về trận thế chiến thứ nhất rồi, trong khi cuộc chiến Việt Nam thì chưa, nên tôi mừng vì tìm thấy được một viên hột xoàn quý giá nằm dưới đáy sông. Thành ra, tôi viết quyển sách với một niềm hứng thú.
Nguyễn Khanh: phải chăng vì thế mà một phần quyển sách được ông đặt là “Việt Nam: Một Quân Đội Bị Bỏ Quên”? Tại sao họ lại bị bỏ quên và họ bị bỏ quên như thế nào?
Tiến sĩ Andrew Wiest: câu hỏi của ông hay quá!!! Thật ra tựa lúc đầu tôi đề nghị với nhà xuất bản là “Con Đường Danh Dự” vì có một quyển sách thật hay đã được quay thành phim viết về Thế Chiến Thứ Nhất mang nhan đề là “Con Đường Vinh Quang”. Tôi dùng “Con Đường Danh Dự” vì muốn trình bày cho người đọc thấy cả hai nhân vật, một anh hùng, một phản bội đều mang trong lòng ý tưởng “danh dự”, và để cho người đọc phán quyết xem ai là người có thể tin được.
Khi tôi gửi quyển sách đến nhà xuất bản, thì người chịu trách nhiệm đọc và chọn quyển sách nói rằng tựa do tôi đặt không giúp người đọc biết là quyển sách họ cầm trong tay nói về cuộc chiến Việt Nam, cần phải có một cái tựa khác để độc giả biết ngay quyển sách của tôi nói về chuyện gì. Cuộc cùng, chúng tôi đồng ý “Việt Nam: Một Quân Đội Bị Bỏ Quên” là một tựa sách hay, và chúng tôi cũng đồng ý dùng cả lá cờ vàng 3 sọc đỏ chạy ngay trên bìa quyển sách để tạo lôi cuốn.
Còn về câu hỏi ông đặt ra quân đội này đã bị bỏ quên như thế nào? Thưa ông, họ bị bỏ quên vì chẳng ai viết về họ cả. Thế giới Tây Phương không ai muốn viết, muốn nhắc về họ. Qua tiếp xúc với cộng đồng người Việt ở hải ngoại, điều tôi tìm thấy là một lịch sử đấu tranh anh hùng mà hầu như người khác, chẳng mấy ai biết.
Nguyễn Khanh: và đó là thông điệp mà ông muốn gửi đến người đọc???
Tiến sĩ Andrew Wiest: tôi nghĩ đây là một thông điệp mạnh mẽ được gửi đến người đọc. Đương nhiên trong cộng đồng người miền Nam, quân đội này không bao giờ bị bỏ quên. Đó là một quân đội trong quá khứ có một sức sống mãnh liệt, và sức sống này vẫn còn hiện diện với họ ngày hôm nay cũng như trong tương lai.
Tôi xin kể cho ông nghe một câu chuyện. Mới đây, khi đến thành phố Adelai ở Australia, tôi ghé thăm Đài Tưởng Niệm Chiến Tranh Việt Nam và nhìn thấy người lính Australia bên cạnh người lính Miền Nam, nhìn thấy lá cờ Australia bên cạnh lá cờ Miền Nam Việt Nam. Nếu đến Đài Tưởng Niệm ở thủ đô Washington, ông thấy tất cả đều là hình ảnh của người lính Mỹ. Tôi có thể nói là với nhân dân Hoa Kỳ, điều họ nhớ đến là quân đội Mỹ đã từng chiến đấu ở Việt Nam, nhớ những kinh nghiệm từ bài học Việt Nam. Và đó là lý do tại sao tôi lại dùng từ “bị bỏ quên”.
Nguyễn Khanh: tôi có cảm tưởng ông đang muốn làm điều mà tôi xin được gọi là sửa lại lịch sử cho đúng. Thưa ông, có phải như vậy không?
Tiến sĩ Andrew Wiest: tôi không dùng từ “sửa lại lịch sử” mà tôi muốn dùng từ “đóng góp thêm”. Lịch sử cuộc chiến Việt Nam thường chỉ được trình bầy ở bề nổi, không được trình bầy ở bề sâu. Tôi nghĩ rằng không phải chỉ quyển sách này, mà những quyển sách khác viết về nguyên nhân dẫn đến chiến tranh, nguyên nhân khu vực, nguyên nhân toàn cầu, nếu người viết thoát được cải vỏ bọc Mỹ Quốc, thì người viết sẽ có được cái nhìn sâu rộng hơn. Tôi tin đó là hướng mà tôi đang đi.
Nguyễn Khanh: sau quyển sách ra mắt ngày hôm nay, quyển sách kế tiếp ông sẽ viết về đề tài gì? Liệu có phải là cuộc chiến Việt Nam nữa không?
Tiến sĩ Andrew Wiest: tôi cũng hy vọng như vậy. Như ông thấy, tôi mất 7 năm trời mới hoàn tất được quyển sách này. Có thể là lần này tôi may mắn tìm được một câu chuyện thật tuyệt vời để kể lại với người đọc, đưa ra được những chứng cớ xác đáng để các nhà sử học dùng làm tài liệu nghiên cứu. Là một nhà sử học, đó là mục tiêu tôi đặt hàng đầu: các nhà sử học khác có tài liệu đích thực để tham khảo, và người đọc có được một quyển sách hay để đọc.
Nếu viết thêm về cuộc chiến Việt Nam, có thể tôi sẽ viết về những người đã được tưởng thưởng các huy chương cao quý của quân đội Hoa Kỳ, như huy chương Sao Bạc, Sao Đồng. Tìm tài liệu chắc không khó, nhưng viết ra theo cái nhìn của người viết sử thì rất khó. Tôi không muốn viết một quyển sách để sau đó nghe mọi người bảo quyển sách đọc thì hay, nhưng chẳng có gì để đóng góp cho kho tàng sử liệu cả.
Ngay cả chuyện các cố vấn Mỹ cũng là đề tài đáng viết. Sách nói về cuộc chiến đều là sách nói về các trận đánh, và không ai nói về vai trò của các cố vấn Hoa Kỳ cả. Họ cũng thuộc thành phần bị bỏ quên, và tôi tin đó là một quyển sách đáng viết.
RFA

XUỐNG ĐƯỜNG DẤY BINH KHỞI NGHĨA

Neil Vo

XUỐNG ĐƯỜNG DẤY BINH KHỞI NGHĨA

Trong những ngày vưa qua, tôi có nghe anh hùng nghĩa sĩ kêu gọi khởi binh chống triều đình nhà Sản . Tôi thật sự vừa vui mừng và vưa lo . Mừng là vì các anh hùng nghĩa sĩ đã nhìn thấy được sự thối nát của triều đình nhà Sản . Nhà Sản không ngại bán nước cầu vinh để duy trì cái triều đình thối tha này . Lo là vì không biết nghĩa quân dân chủ có thành công hay không . Thấy khí thế của nghĩa quân cũng hăng lắm nên tôi không dám nói điều gì sợ làm nhục chí binh sĩ .

Hôm nay tôi xin mạo muội nói lên quan điểm của mình để anh em nghĩa quân có thể xem xét và suy nghĩ . Thật ra trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc, tổ tiên chúng ta đã có nhiều cuộc khởi binh thay đổi triều đại thối nát . Trong những cuộc khởi binh đó có những cuộc chống ngoại xâm và nội xâm như là cuộc khởi nghĩa của 2 bà Trưng, cuộc khởi nghĩa giành độc lập của Ngô Vương Quyền, cuôc khởi nghĩa của anh hùng áo vãi Lam Sơn Lê Lợi, Quang Trung Nguyễn Huệ .v.v. Trong những cuộc cách mạng đó có những cuộc cách mạng từ trên xuống . Có nghĩa là thay đổi từ trên như là sự chuyển giao quyền lực từ nhà Đinh sang nhà tiền Lê (Le Hoàng), nhà Lý chuyển sang nhà trần . Sự chuyển giao quyền lực êm đẹp này tránh được sự binh biến cho nên đã đưa nước Đại Việt có một nền văn minh rực rỡ trong khi nước Tàu phải bị đô hộ bởi nhà Kim và nhà Nguyên Mông Cổ .

Nhưng cũng có những cuộc cách mạng từ dưới lên như là cuộc khởi nghĩa Lam Son Lê Lợi, cuộc khởi nghĩa Tây Sơn Nguyễn Huệ . Tuy thời điểm lịch sử khác nhau, nhưng nhìn chung thì vẫn cần có 3 yếu tố để thành công

1/ Cương lĩnh của cuộc khởi nghĩa là gì ? Tại sao phải dấy binh khởi nghĩa ? Triều đình mới sẽ khác nhau như thế nào với triều đình củ ? Nếu khởi nghĩa Lam Sơn là chống ngoại xâm và giành độc lập và khởi nghĩa Tây Sơn thay đổi sự thối nát của nhà hậu Lê (Le Chiêu Thống) thì nghĩa quân Dân Chủ hôm nay sẽ đưa thông điệp đến toàn dân là gì ? Vì vậy nghĩa quân cần phải vạch ra một kế hoạch, cương lĩnh tốt đẹp hơn triều đình nhà Sản

2/Tập hợp sĩ phu yêu nước và binh lính: Làm sao để thu hút được nhân hào nghĩa sĩ kéo về gia nhập nghĩa quân ? Thông điệp có đến được mọi tầng lớp khác nhau trong xã hội không ? Những người trí thức thì họ hiểu tam quyền phân lập, thể chế pháp quyền . Nhưng dân chúng lao động bình thường thì họ chỉ hiểu được quyền lợi mà họ sẽ có được khi nghĩa quân thành công dẹp được triều đình nhà Sản . Chẳng hạng như quyền sở hữu đất đai, nhà cửa, hưu bổng, an sinh xã hội, thuốc men, bệnh viện, học phí .v.v . Thông điệp có gửi đến những binh lính đang phục vụ triều đình nhà Sản là cuộc khởi binh này mang tính chính danh và lợi ích của dân tộc để họ tham gia không ?

3/Quân số: Có ước tính được quân số của nghĩa quân là bao nhiêu ? Quân của địch thì đã rõ, khoãng 4 triệu nhưng không phải tất cả 4 triều đều trung thành với nhà sản . Vì trong số họ có rất nhiều người bất mãn với triều đình hiện tại nhưng họ chưa dám bộc lộ mà thôi. Còn quân ta thì ước tính khoãng 90 triệu . Nhưng đó chỉ là ước tính thôi chứ chưa chắc chắn . Vã lại quân ta chưa có kinh nghiệm chiến trường và luyện tập thì không thể tinh nhuệ . Tổ tiên chúng ta chưa bao giờ ước tính quân số rồi hẹn nhau ra chiến trường quyết đấu cả . Nếu ước tính là 20 vạn thì lỡ khi ra trận mà chỉ có 2 vạn thì hỏng. Những vị anh hùng khởi nghĩa thì họ tập trung quân số, rồi luyện tập tinh nhuệ, nắm chắc quân số là bao nhiêu trước khi kéo quân ra trận . Ngày nay, nghĩa quân Dân Chủ không cần gươm giáo như ngày xưa nhưng phải biết chắc quân số là bao nhiêu trước khi xung trận . Muốn biết điều này không khó . Thay vì kêu gọi xung trân thì kêu goi án binh bất động, vừa không hao tổn lực lượng mà còn luyện tập binh lính cách hành quân va chiến đấu . Phương pháp án binh này như sau .

Ngày thứ 2 nghĩ bệnh (Monday Sick Day);
-Sinh viên, học sinh bệnh không đến trường
-Công nhân bệnh không đi làm
-Bac sĩ bệnh không mỡ phòng mạch (trừ trường hợp đặc biệt)
-Quán ăn, quán nhậu, nhà hàng bệnh không mở cửa
-Taxi bệnh không chạy
-Xe ôm, Crab bệnh nhức đầu ở nhà ngũ
-Ca sĩ bị đau họng không hát
-Quân đội bệnh tiêu chảy vì ăn gạo móc, hàng độc không tập luyện
-Cảnh sát nhức đầu không công tác ở nhà nghĩ
vâng, vâng, và vâng vâng ….Còn nhiều phương pháp án binh bất động khác nữa như là 3 không (không nói, không làm, không hợp tác)

Ban đầu một tháng bệnh một lần, sau đó là 1 tuần bệnh một lần, rồi 2, 3 lần . Nghĩa quân quan sát đến khi nào nhân hào nghĩa sĩ bống phương hưỡng ứng đông đảo thì sẽ biết quân ta có bao nhiêu . Lúc đó thì chỉ cần đánh một trận thì nhà Sản tiêu vong .

Những dòng suy nghĩ này chỉ mong đóng góp cho nghĩa quân sớm được thành công hầu xây dựng một quốc gia phú cường để tớ cũng được hãnh diện . Chứ bản thân tớ thì chẳng màng danh lợi đâu nhé . Cần mong Thượng Đế sẽ ban phước lành cho anh em nghĩa quân Dân Chủ !

Tung Thanh Tung XUỐNG ĐƯỜNG DẤY BINH KHỞI NGHĨA
DIỆT CỘNG!!!!

Tội ác Việt cộng :
Biến con cháu ĐồngCảm.vn thành khỉ, khiến chúng trở về thời tiền sử học vuông tròn và tam giác dùng ký hiệu thay chữ viết!

” NHỮNG NGÀY XƯA THÂN ÁI
EM GỞI LẠI CHO AI ! ? ”

Image may contain: one or more people and outdoor